Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư
112

~Thanh Hải Vô Thượng Sư~

This page uses UNICODE font. If you don't have VN fonts, you can download a copy of VN Fonts at
http://www.godsdirectcontact.org/download/

u Tin Tóm Tắt u Lời Pháp Cam Lồ
u Tin Nóng Hổi u Tin Tổng Quát
u Thảo Luận Về Tâm Linh Và Trí Huệ u Giáo Lý Chọn Lọc
u Tin Tức Ðặc Biệt u Báo Chí Ðó Ðây
u Chuyện Thế Giới u Sư Phụ Kể Chuyện Vui
u Nâng Cao Tâm Thức u Hành Ðộng Tình Thương
u Nâng Cao Tâm Thức u Nghệ Thuật Vô Thượng
u Nhà Hàng Chay Trên Thế Giới u Liên Lạc Viên Của Chúng Ta Trên Toàn Thế Giới
u Trên Mạng Lưới Quán Âm

Những hình dáng khác nhau của Ðức Phật, những vị Bồ Tát, Nữ Thần Từ Bi, Ðức Mẹ Maria, Chúa Giê Su, v..v... tất cả đều từ một lực lượng mà ra. Họ luôn luôn thay đổi để thích hợp theo sở thích của chúng sinh. Họ nói bằng những ngôn ngữ khác nhau để giải thoát chúng sinh ở những nơi khác nhau trên trái đất.

Thanh Hải Vô Thượng Sư Bản Tin 112
Xuất bản ngày 25 tháng 6, 2000
Thành lập từ ngày 1 tháng 4, 1990
Phát hành: Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư
Chủ nhiệm: Lin Ping Xing

Bản tin Thanh Hải Vô Thượng Sư được phát hành bằng nhiều thứ tiếng: Âu Lạc, Trung Hoa, Anh, Pháp, Ðức, Nhật Bản, Nam Dương, Ðại Hàn, Bồ Ðào Nha,

Tây Ban Nha, Thái và sẵn sàng cung ứng theo yêu cầu.


Tin Tóm Tắt [Top]

Sư Phụ được mời đến nói chuyện về Pháp Môn Quán Âm và sự phát triển của nó trên vùng Ðông Nam Á trong một buổi hội thảo mang đề tài: "Tôn Giáo và Người Trung Hoa Khắp Thế Giới" được tổ chức tại Học Viện Academia Sinica, một viện nghiên cứu học đường uy tín nhất tại Trung Hoa Dân Quốc. Ngoài tầm quan trọng của nó đối với lịch sử, buổi đàm thoại này cũng vui tươi, sống động. Nội dung của bài nói chuyện được in trong tiết mục đặc biệt: "Trao Ðổi Trí Thức và Tâm Linh".

Nếu bạn đọc muốn nghe một vài đoạn hay bằng tiếng Trung Hoa, xin hãy đến các địa điểm mạng lưới sau đây:

http://www.godsdirectcontact.org.tw/ch/light_sound/sinica/index.htm (Formosa);
http://www.godsdirectcontact.com/audioclips/ch/ (USA)

"Nhìn Về Quá Khứ... Bước Vào Tương Lai Sáng Lạng" là một bộ băng thâu hình gồm hai cuốn trình bày những dấu chân lịch sử của Sư Phụ đưa nhân loại vào thời đại mới. Bộ băng cho thấy thập niên khổ ải vào thời kỳ cuối của thế kỷ 20 đã được sự gia trì đầy tình thương của một vị Minh Sư và được biến cải trở thành giai đoạn đầu của một thế kỷ mới tràn đầy ánh sáng. Bạn đọc muốn xem một vài đoạn trích, xin viếng những địa điểm mạng lưới sau đây:

Bằng tiếng Anh:

http://www.godsimmediatecontact.com/Video/ (Tân Gia Ba)
http://www.godsdirectcontact.org.tw/ch/index.htm (Formosa)
Bằng tiếng Anh với phụ đề nhiều tiếng khác nhau:
http://www.godsdirectcontact.org.tw/ch/index.htm (Formosa)
http://www.godsdirectcontact.com/ (Hoa Kỳ)

Chuyến hoằng pháp Ðại Ðương Châu và á Châu của Sư Phụ đã gây nhiều xúc động tại những nơi Ngài dừng chân và mang đến một lực lượng vô cùng mạnh mẽ thanh tịnh hóa những nơi này. Một vài đoạn thuyết giảng đã được bao gồm trong phần "Tin Ðặc Biệt". Trong phần tin này, đọc giả có thể biết sơ lược những điểm chính của tất cả những bài thuyết giảng.

"Album Thiên Y" là một quyển sách album mới được phát hành! Những lời chú thích bằng cả hai thứ tiếng Anh và Trung Hoa làm người xem có cảm tình sâu xa hơn đối với những ý kiến sáng tạo siêu việt và nghệ thuật thời trang của Sư Phụ. Xin mời bạn đọc thưởng thức "Nghệ Thuật Tối Thượng" trong số báo này.

Sách mới: "Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: Vấn Ðáp 2" ra mắt quý bạn đọc dưới một hình thức mới gọi là "ebook" (sách điện tử), và hiện đã sẵn sàng trong mạng lưới, quý bạn có thể tải xuống đọc miễn phí.


Lời Pháp Cam Lồ [Top]

Thanh Hải Vô Thượng Sư khai thị
Ðài Bắc, Formosa
Ngày 7 tháng 3, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Chúng ta càng chịu đựng nhiều thì càng ít cảm thấy mình đang chịu đựng, và càng cảm nhận rõ ràng hơn sự thăng hoa về tâm linh của chúng ta.

Hoa Liên, Formosa
Ngày 11 tháng 4, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Nếu chúng ta cảm thấy vui thích và ngạo mạn khi người khác khen thưởng và cám dỗ chúng ta, thì thật rất nguy hiểm. Mỗi khi gặp trường hợp như vậy, chúng ta phải lập tức tự kiểm điểm, và hỏi: "Có phải ta đang dùng ngã chấp để làm việc không? Ta có quá mừng vui hay kiêu ngạo không?" Chúng ta phải tự kiểm điểm mỗi ngày.

Ðài Nam, Formosa
Ngày 21 tháng 5, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Nếu chúng ta nghiêm chỉnh trì giới không nói điều gì ngoài sự thật, thì bất cứ điều gì chúng ta nói ra đều sẽ đem lại lợi ích cho mọi người, và bất cứ điều gì chúng ta nói ra sẽ trở thành sự thật.


Tin Nóng Hổi [Top]

Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư
Sẽ Thay Ðổi Phương Thức Xuất Bản

Nhằm cung cấp giáo lý Sư Phụ và các tin tức liên hệ đến công chúng kịp thời, kịp lúc, Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư sẽ bắt đầu được phát hành thường xuyên, với những bài báo được truyền qua Internet. Bắt đầu số báo sau #113, bản tin trên giấy sẽ không còn được ấn hành. Nếu bạn đọc không có máy điện tử (computer) hoặc không có mạng lưới Internet, xin liên lạc với người phụ trách tại trung tâm của mình và nhờ họ in Bản Tin cho bạn. Nếu trung tâm nào hoặc người nào cảm thấy việc này không thuận tiện hoặc nếu muốn đóng góp ý kiến, xin cho biết ngay lập tức.

Dưới đây là các hình thức đã sẵn sàng mà bạn có thể dùng để đọc Bản Tin trên mạng lưới, hoặc có thể in ra để chia sẻ với mọi người.

Loại Trên Mạng Lưới Internet: Dưới dạng html, tại địa điểm mạng lưới Quan Yin với hình màu và có thể đọc được trên mạng lưới.

Loại Có Thể In Ra: Dưới dạng pdf với hình màu và có thể in trắng đen hoặc màu dùng máy in của mình. Khi in hình màu phải dùng loại giấy tốt.

Loại Dùng Ðiện Thư (E-mail): Sẽ được gởi đến trương mục e-mail của đọc giả. Muốn đặt báo, xin vui lòng ghi danh tại một trong những địa điểm mạng lưới sau đây:

http://www.Godsdirectcontact.org.tw/ch/service/service.htm (Tiếng Trung Hoa)
http://www.Godsdirectcontact.org.tw/eng/service/service.htm (Tiếng Anh)
http://www.Godsdirectcontact.org/au/service/service.htm (Tiếng Âu Lạc)
http://www.Godsdirectcontact.com/english/service.htm (Tiếng Anh)
http://www.Godsdirectcontact.com/spanish/service.htm (Tiếng Tây Ban Nha)
http://www.Godsdirectcontact.com/chinese/fan/service.htm (Tiếng Trung Hoa, Cổ)
http://www.Godsdirectcontact.com/chinese/jian/service.htm (Tiếng Trung Hoa, Ðơn Giản)

Nếu quý bạn muốn tải xuống đọc hai loại đầu tiên ở trên, xin hãy đến những địa điểm mạng lưới sau đây:

Tiếng Trung Hoa:

http://www.Godsdirectcontact.org.tw/ch/index.htm (Formosa)
http://www.Godsdirectcontact.com/eNews/chinese/112/ (Hoa Kỳ)

Tiếng Anh:

http://www.Godsdirectcontact.com/eNews/english/112 (Hoa Kỳ)
http://www.Godsdirectcontact.org/eng/news/112/ (Hoa Kỳ)
http://godsimmedatecontact.net/news/news112/ (Hoa Kỳ)
http://www.Godsdirectcontact.org.tw/eng/index.htm (Formosa)

Tiếng Âu Lạc:

http://godsimmediatecontact.net/aulac/n112/ (VNI font)
http://www.godsdirectcontact.org/auvnu/news/112/ (VNU font)
http://www.godsdirectcontact.org/auviscii/news/112/ (VISCII font)
http://www.godsdirectcontact.org/auvni/news/112/ (VNI font)
http://www.godsdirectcontact.org/auvps/news/112/ (VPS font)

Tiếng Tây Ban Nha:

http://www.Godsdirectcontact.com/eNews/spanish/112/ (Hoa Kỳ)


Tin Tổng Quát [Top]

Tin Mauritius

Chia Xẻ Giáo Pháp tại Mauritius

Mauritius, một hòn đảo nhỏ tọa lạc tại miền đông Phi Châu, thường được biết đến như là Tân Gia Ba của Ấn Ðộ Dương. Ðó là một nơi rất thiên về tâm linh với dân chúng gồm đa số là Ấn Ðộ Giáo, Phật Giáo, Cơ Ðốc Giáo và Hồi Giáo. Quốc gia này là một tấm gương vĩ đại của lòng khoan dung về tôn giáo và tâm linh, với đủ các sắc dân, tôn giáo, tín điều và giới tính sống chung với nhau trong an bình và hòa hợp.

Quá trình này đã giúp cho Trung Tâm Mauritius dễ dàng tổ chức một buổi hội thảo tại Viện Ðại Học Mauritius. Chủ tịch Hiệp Hội Sinh Viên cũng như các hội viên và bạn bè đã hoan nghênh ý kiến này với lòng hăng hái, để giúp nâng cao nhân loại. Công chúng đã nắm lấy cơ hội này để học hỏi về giáo lý của một vị Chân Sư tại thế, được gọi là Thanh Hải Vô Thượng Sư. Các nhân viên đã giúp đỡ chúng tôi trong mọi phương diện, như đặt hội trường, in các tấm bích chương, và thậm chí còn giúp chúng tôi trong việc quảng cáo nữa.

Dân chúng thuộc đủ thành phần đã đến tham dự buổi hội thảo và cho thấy lòng nôn nóng cao độ muốn biết về Chân Lý của họ. Sau buổi hội thảo, vị Sứ Giả Quán Âm tham dự đã hỏi khán giả xem họ có thích học Pháp Phương Tiện hay không, thì hầu như tất cả đều ngồi lại. Nhiều người có được các thể nghiệm xuất sắc bên trong, một người phụ nữ còn nói rằng bà đã thấy được tia sáng rực rỡ bên trong từ trên cao chiếu xuống như một con chim bồ câu gia trì cho bà. Lòng bà tràn ngập niềm lạc phúc và nỗi vui sướng đến độ bà trông giống như trẻ thơ. Hiện nay bà cùng nhiều người khác đang nôn nao chờ đợi để được thọ Tâm Ấn.

Tất cả mọi việc liên hệ đến buổi thuyết pháp đã được Thượng Ðế an bài một cách hoàn hảo. Thậm chí cuộc phỏng vấn do đài truyền hình và báo chí địa phương tổ chức đã được thực hiện một cách trôi chảy.

Chúng con xin cám ơn Ngài, Sư Phụ thân yêu, đã cho chúng con một dịp để giúp đỡ cho chính mình về phương diện tâm linh bằng cách giúp đỡ cho những người khác.

Hình: Buổi hội thảo tại Viện Ðại Học Mauritius để chia xẻ Giáo lý Sư Phụ.

Tin Tây Phi Châu

Viên Ngọc Tây Phi Chiếu Sáng Rực Rỡ

Gần đây, nhiều buổi hội thảo chiếu băng truyền hình được tổ chức tại hai quốc gia Ghana và Ivory Coast, "Viên Ngọc Của Tây Phi Châu", để quảng bá giáo lý Sư Phụ.

[Accra, Ghana] Một đặc điểm thú vị của người Ghana là thói quen đặt tên cho các cửa tiệm bằng những từ ngữ tuyệt diệu và khẳng định, chẳng hạn như tiệm "Sao Chụp Tình Thương", "Làm Tóc với Bàn Tay Thượng Ðế", v.v..., điều này nhắc nhở chúng ta những danh từ Sư Phụ hay dùng để nhấn mạnh vẻ đẹp và khía cạnh khẳng định của đời sống trong các buổi nói chuyện của Ngài.

Tất cả chuẩn đồng tu địa phương (những người muốn khởi động một làng tâm linh tại thành phố của họ), đã giúp đỡ trong việc chuẩn bị cho buổi hội thảo tại Hội Trườzng Giáo Chức nổi tiếng của Accra. Chúng tôi quảng cáo trên đài phát thanh và báo chí, phát truyền đơn đến đại chúng, và mọi việc đã tiến hành tốt đẹp nhờ vào sự sắp xếp của Sư Phụ. Ngay cả vị chủ nhân một tiệm ăn chay cũng muốn cung cấp thực phẩm cho những người tầm đạo tham dự buổi hội thảo. Về sau, ông và một nhiếp ảnh viên tham dự cũng đã gia nhập gia đình Quán Âm.

Nhiều người đã đến tham dự buổi hội thảo, háo hức muốn được nghe Chân Lý. Ghana, cũng như các quốc gia khác tại Phi Châu, không tìm gặp được những tài liệu mênh mông về tâm linh trên thế giới, nên khi Chân Pháp được đem đến tận cửa, thì họ liền nắm lấy một cách sung sướng và biết ơn.

[Abidjan, Ivory Coast] Tại Ivory Coast (tên tiếng Pháp "Cote d'Ivoire"), hầu hết mọi người dân đều nói tiếng Pháp và văn hóa thì đúng là Ba-Lê-Của-Phi- Châu. Vừa đặt chân đến quốc gia này, chúng tôi đã gặp nhiều trở ngại vì vấn đề chính trị, nhưng khi chúng tôi cho họ xem những cuốn sách biếu của Sư Phụ và giải thích về sứ mệnh của chúng tôi, thì một phép lạ đã xảy ra khiến họ thay đổi thái độ. Một sư huynh đã thốt lên: "Hay thật, những sách biếu này còn lợi hại hơn những hộ chiếu của chúng ta."

Tại Ivory Coast, đồng tu ở quốc gia lân cận Togo cũng đã giúp quảng bá giáo lý Sư Phụ. Tại đây, buổi hội thảo đã được tiến hành theo như phương thức đã dùng cho buổi hội thảo ở Ghana, chỉ khác là qua sự an bài của Sư Phụ, chúng tôi đã xử dụng được Nhà Thờ St. Paul ngay tại trung tâm của thành phố Abidjan, để làm nơi hội họp. Chúng tôi đã gặp nhiều khảo nghiệm, nhưng tất cả đều vượt qua một cách dễ dàng nhờ vào tình thương và sự gia trì của Sư Phụ, mà chúng tôi đều cảm nhận được qua mỗi một giai đoạn của chương trình. Mỗi khi chúng tôi gặp trở ngại, chỉ cần một lời cầu nguyện đơn giản là có thể giúp chúng tôi vượt qua.

Những buổi hội thảo qua băng thâu hình đã tiến hành tốt đẹp tại cả hai quốc gia, nên hiện tại chúng tôi đã có thêm một số người tu hành thành tâm để mang lại ánh sáng đến Tây Phi Châu. Với số người tu hành tại Tây Phi đang gia tăng gấp bội, chúng tôi tin chắc rằng xứ sở này sẽ trở nên một thiên đàng.

Hình:


  1. Những đồng tu tại Ghana
  2. Buổi hội thảo tại Ghana

Tin Anh Quốc

Triển Lãm tại Hội Chợ Sống Trọn Vẹn

[Luân Ðôn] Tại một gian hàng của Hội Chợ Triển Lãm Sống Trọn Vẹn được tổ chức từ ngày 20 đến 24 tháng 4, anh chị em đồng tu từ Trung Tâm Luân Ðôn đã được một cơ hội tuyệt diệu để chia xẻ giáo lý của Sư Phụ với những người thành tâm tìm Chân Lý. Trong diễn biến kéo dài năm ngày, nhiều người tỏ ý rất thích giáo lý của Sư Phụ. Các đồng tu chia xẻ kinh nghiệm của họ về những lợi ích không thể nào bì kịp cũng như những thay đổi tốt đẹp trong đời sống mà pháp môn Quán Âm đã mang đến cho họ.

Nhiều quan khách bày tỏ sự sung sướng của họ khi tìm được một nơi dạy thiền miễn phí. Một số người may mắn được dự buổi thuyết pháp của Sư Phụ tại Luân Ðôn, tháng 6, 1999. Họ vui ra mặt khi được tiếp xúc với giáo lý Sư Phụ một lần nữa. Một người Ấn Ðộ tu pháp ánh Sáng và Âm Thanh với một Minh Sư khác cũng đã tham dự buổi thuyết pháp ở Luân Ðôn, ông nói rằng Thanh Hải Vô Thượng Sư thật sự là một trong những vị Chân Sư ít có trên thế giới đã đạt được khai ngộ hoàn toàn. Ðến gian hàng nhiều lần, ông nói chuyện rất lâu với các đồng tu và xem băng thuyết pháp của Sư Phụ. Một người khác kể lại thể nghiệm của bà trong khi nghe Sư Phụ thuyết pháp ở Luân Ðôn. Sư Phụ bảo mọi người nhắm mắt lại để xem họ có thấy Thượng Ðế hay không; lúc mở mắt, bà thuật lại rằng bà trông thấy mặt của Sư Phụ đổi thành mặt của một vị thánh râu dài. (Hình dáng Thượng Ðế mà bà đã nghĩ!)

Một cặp vợ chồng nọ đọc sách biếu của Sư Phụ và ăn chay trường, tỏ ý rất muốn học thiền và vui vẻ nếm thử món thịt bò chay do một nam đồng tu mời. Một người khác thỉnh mua một cuốn băng Tán Phật của Sư Phụ ngày hôm trước, ngày hôm sau bà trở lại cho biết cuốn băng đó rất hiệu nghiệm cho việc hành thiền của bà. Nhiều trẻ em cũng rất thích gian hàng và thích nhìn những hình ảnh của Sư Phụ được trưng bày tại đó.

Thật là thú vị khi thấy những người khác nhau bị thu hút bởi những khía cạnh khác nhau trong sự giáo huấn của Sư Phụ. Một số người muốn học thiền, một số khác muốn biết về việc ăn chay, trong khi một số khác để ý đến những sáng tác mỹ thuật, kim hoàn và nhạc phẩm của Sư Phụ. Ðiều này cho chúng ta thấy những phương cách khác nhau mà Sư Phụ đang dùng để nhắc nhở mọi người về phẩm tính Thượng Ðế của họ, giúp đỡ, hướng dẫn họ trở về với Quê Hương thật sự. Tất cả chúng tôi cảm thấy vô cùng có phước đã được cơ hội này để cùng Sư Phụ chia xẻ Chân Lý đến mọi người.

Hình: Nhiều khía cạnh trong giáo huấn Sư Phụ được thể hiện tại Hội Chợ Sống Trọn Vẹn.

Tin Mông Cổ

Triển Lãm Hội Họa tại Baganuur, Ulan Bator

[Ulan Bator] Từ ngày 7 tới ngày 9 tháng tư, đồng tu địa phương tổ chức ba ngày triển lãm họa phẩm của Thanh Hải Vô Thượng Sư tại Baganuur, Ulan Bator, Mông Cổ. Khoảng cách từ Ulan Bator đến Baganuur độ ba tiếng đồng hồ lái xe. Thời tiết tháng tư lạnh và nhiều gió, bầu trời quang đãng, không khí trong tươi mát.

Khu triển lãm được tổ chức tại một ngôi trường, nơi một đồng tu làm việc. Thân nhân gia đình ông cũng là đồng tu, đã nhiệt tâm giúp đỡ, cộng tác với chúng tôi trong công việc quảng cáo buổi triển lãm. Chúng tôi dán bích chương tại các khu vực chính trong và ngoài thành phố, nơi dân chúng có thể thấy dễ dàng; trong ba ngày, cuộc triển lãm được thông báo trên các đài phát thanh.

Một họa sĩ đến xem triển lãm, ngày hôm sau bà trở lại để học Pháp Môn Phương Tiện, sau đó bà kể cho chúng tôi nghe về thể nghiệm của bà. Một trong những họa phẩm của Sư Phụ, "Nguồn Thương", vẽ một cảnh trí bà không thể nào quên được; bà nói bà đã nhận ra hình ảnh này, một khung cảnh bà đã thấy từ thời thơ ấu. Thật ra, bà đã thấy cảnh này hai lần. Một lần là lúc còn nhỏ, khi gia đình bà đang trên đường dọn nhà, và bà đang ngồi trên chiếc xe bò với bà nội. Trên đường, bà thấy quang cảnh này làm cho bà nhớ mãi. Về sau khi lớn lên, bà theo một nhóm người đi bộ đến Mông Cổ. Lạ thay, trên đường, bà cũng thấy cùng cảnh tượng cảm động này. Ðiều làm cho bà ngạc nhiên hơn nữa là Thanh Hải Vô Thượng Sư đã vẽ một hình ảnh giống y như vậy trên bức họa "Nguồn Thương". Mặc dầu Sư Phụ đã vẽ thêm hai ngôi nhà tranh ở bức họa, nó không phải là phong cảnh nguyên bản, nhưng bà vẫn nhận ra quang cảnh ấy. "Kỳ lạ!" bà lập lại: "Thật là kỳ lạ!"

Trong cuốn sổ ghi chú của quan khách, có người viết: "Tôi vô cùng ngưỡng mộ. Ngài đã mở rộng chân trời và mang lại cho tôi niềm vui sướng qua các bức họa của Ngài." "Tôi rất thích các bức họa của Ngài. Tôi cũng thích vẽ tranh, do đó tôi cũng thích các tác phẩm của Ngài." "Tôi cảm thấy thỏa mãn nhìn các bức tranh của Ngài. Các tác phẩm của Ngài thật là độc đáo. Tôi yêu thích nghệ thuật. Các bức họa của Ngài thật tuyệt vời. Mong rằng Ngài sẽ vẽ thêm những bức tranh xinh đẹp như vậy." "Các bức tranh của Ngài đã làm tôi khai ngộ. Tôi thật may mắn được nghe bài giới thiệu về Ngài và có được các tài liệu tu hành."

Trẻ em có tâm đơn thuần và có thể cảm nhận được tình thương của Sư Phụ một cách dễ dàng. Chúng cũng rất thích gian hàng triển lãm và không muốn ra về. Nhiều em ngắm qua ngắm lại quyển họa phẩm của Sư Phụ, những em khác đọc giáo lý Sư Phụ một cách say sưa, còn những em khác thích hình Sư Phụ tới độ không muốn bỏ đi. Một em gái viết trong cuốn sổ của quan khách bày tỏ nỗi vui sướng đã được tham dự cuộc triển lãm tranh. Em cảm thấy đồng tu chúng tôi là những người tốt nhất trên thế giới. Em nói thêm: "Thanh Hải Vô Thượng Sư không những từ bi, có tình thương bao la đối với người khác mà Ngài còn biết ca và vẽ tranh nữa. Ngài hay quá!" Em cảm thấy Sư Phụ luôn luôn thương yêu chăm sóc cho dân tộc của em, và ước rằng Sư Phụ một ngày nào đó sẽ đích thân đến thăm Baganuur và Mông Cổ.

Trong cuốn sổ quan khách, em vẽ một cô gái đeo vương miện, rồi viết hai chữ "Thanh Hải". Em vẽ thêm nhiều hình trái tim để bày tỏ lòng mong ước được gặp Sư Phụ. Một em khác vẽ hình hai con én có nghĩa là Sư Phụ sẽ đến khi mùa Xuân đến. Một họa sĩ vẽ phong cảnh và chân dung của chính mình trong sổ. Ông xin một tấm bích chương có hình Sư Phụ, rồi yêu cầu chúng tôi ký tên vào đó. Chúng tôi đưa cho ông tấm bích chương có tên "Thanh Hải Vô Thượng Sư", ông sung sướng và mãn nguyện ra về. Khi buổi triển lãm chấm dứt và chúng tôi sửa soạn về, nhiều trẻ em giúp khuân đồ ra xe, hỏi chúng tôi ngày nào trở lại và cùng nhau chụp một tấm hình lưu niệm.

Hình:


  1. Buổi triển lãm họa phẩm của Thanh Hải Vô Thượng Sư mang niềm vui và bầu không khí ấm cúng đến với người dân tại Baganuur, Ulan Bator, Mông Cổ.

  2. Bức Tranh của Thanh Hải Vô Thượng Sư, "Nguồn Thương".
  3. Các em bé vui mừng chụp hình chung với chúng tôi.
  4. Bức chân dung và hình vẽ của một họa sĩ tặng Sư Phụ trong cuốn sổ quan khách.

Tình Cảm Chân Thành Của Một Ðồng Tu Trẻ

Do tiểu đồng tu Myagmarkhuu (10 tuổi), Mông Cổ
(Nguyên văn tiếng Mông Cổ)

Con là một học sinh lớp bốn tại Trường Tiểu Học Baganuur ở Ulan Bator, Mông Cổ. Buổi triển lãm nghệ thuật của Thanh Hải Vô Thượng Sư được tổ chức tại trường của con. Nhiều người ngạc nhiên khi biết Sư Phụ của con biết ca, vũ, chơi dương cầm, soạn nhạc và vẽ thời trang. Con vô cùng sung sướng được làm đệ tử của Ngài và theo Ngài tu học. Sư Phụ Thanh Hải là một vị Phật (người hoàn toàn khai ngộ) trong lòng con. Con sẽ giữ năm giới luật và tu hành nghiêm chỉnh để cho Ngài được vui. Con sẽ theo Ngài và tu hành suốt cuộc đời. Con mong được gặp Ngài. Ðó sẽ là món quà quý báu nhất trên đời đối với con. Bây giờ, tất cả nhà con đều thọ Tâm Ấn, mọi người đều ngồi thiền và quán âm thanh mỗi ngày. Sư Phụ, Ngài là Minh Sư Ðắc Ðạo tại thế duy nhất trên thế giới; con muốn hy sinh cả cuộc đời để phụng sự Ngài.

Chú thích: Ðồng tu trẻ này là quý tử trong gia đình Quán Âm tại Mông Cổ. Dù tuổi còn trẻ, em rất khôn ngoan, lanh lợi và có hiếu với cha mẹ. Ở nhà, em rất ngoan ngoãn, nấu ăn chay cho gia đình. Khi Trung Tâm Mông Cổ có thiền nhất, có khi em giúp nấu ăn cho đồng tu trong lúc người lớn ngồi thiền. Mỗi ngày em thành khẩn tọa thiền và giúp sửa chữa các ấn bản của Sư Phụ bằng tiếng Mông Cổ mỗi khi em có thì giờ. Trong trường, em học hành xuất sắc. Trong buổi triển lãm nghệ thuật của Sư Phụ, em sánh vai làm việc với đồng tu để chuẩn bị và trang trí gian phòng. Em cũng tự động giới thiệu Sư Phụ và giáo lý của Ngài tới quan khách người lớn cũng như trẻ em đến xem triển lãm. Hành động trưởng thành và khả năng của em nhỏ này đã để lại trong lòng mọi người một cảm tình sâu đậm.

Tin Cọng Hòa Dominican

Lễ Rửa Tội Thật Sự

[Santo Domingo] Ðối với nhiều người ở Cộng Hòa Dominican, buổi hội thảo vừa qua được tổ chức vào ngày 10 tháng 5 tại đây, trình chiếu các băng thâu hình của Sư Phụ, là lần đầu tiên họ được nghe đến Thanh Hải Vô Thượng Sư, Pháp Môn Quán Âm và Tức Khắc Khai Ngộ.

Khi vị sứ giả Quán Âm đến để làm công việc chuẩn bị cho buổi hội thảo thì đó là thời gian khó khăn, vì dân chúng địa phương đang lo chuyện bầu cử tổng thống, cả nước đang ở trong tình trạng hỗn loạn với dẫy đầy hoạt động. Do đó, đồng tu tại đây nói với vị sứ giả Quán Âm rằng họ không thể làm được chuyện gì trong lúc đó, nhưng vị ấy bảo: "Ðừng lo. Quý vị sẽ thấy mọi chuyện tốt đẹp", và quả thật công việc đã xảy ra như vậy. Chúng tôi quyết định ngày giờ của buổi hội thảo và bắt đầu công việc quảng cáo. Chúng tôi chỉ có một tuần để chuẩn bị, vì ngày bầu cử sắp đến, dân chúng không bao lâu sẽ về lại nơi họ cư ngụ để đi bầu, thành phố lúc đó sẽ vắng đi.

Tuy ở trong tình trạng đó, vị sứ giả vẫn khuyến khích chúng tôi tiếp tục. Trước buổi hội thảo, ông được phỏng vấn trên đài truyền hình, và cuốn băng nhan đề "Sống Con Ðường của Tình Thương" (Walk The Way of Love) được chiếu trên một trong những đài truyền hình tại đây; công việc tiến triển vô cùng tốt đẹp, như vậy, rất nhiều người sẽ biết thêm về Sư Phụ và Pháp Môn Quán Âm.

Sau cùng, ngày hội thảo đã đến, chúng tôi để một số đèn cầy ngoài hội trường để hướng dẫn mọi người vào cửa; quang cảnh vô cùng cảm động. Không bao lâu hội trường không còn chỗ trống, nhưng quan khách vẫn tiếp tục vào. Sư Phụ làm việc quả thật tài tình, dẫn dắt mọi người trong giữa mùa bầu cử tại một quốc gia nhỏ bé như vầy.

Trong buổi hội thảo, mọi người lắng tâm chú ý. Sau đó nhiều người hỏi, đa số các câu có vẻ khó, nhưng vị sứ giả đã trả lời họ từng câu. Sau cùng, gần một phần ba số người hiện diện đã ghi danh học Pháp Phương Tiện. Vào phút cuối của buổi học thiền Pháp Phương Tiện, vị sứ giả hỏi mọi người cảm thấy thế nào. Một vài người cho biết họ thấy Sư Phụ trong lúc thiền, và họ vô cùng ngạc nhiên sung sướng vì mới ngồi thiền lần đầu mà họ đã được thể nghiệm bên trong.

Hiện giờ, một nhóm đồng tu thiền Phương Tiện trong nước chúng tôi đang chờ ngày thọ pháp. Một người nói: "Tôi cầu nguyện với tất cả tấm lòng rằng ngày đó sẽ đến, và tôi sẽ có cơ hội để trở về nguồn cội. Tôi hy vọng Sư Phụ sẽ ban cho chúng tôi ân điển đó và sẽ kiên nhẫn chờ ngày trọng đại, ngày rửa tội thật sự của chúng tôi."

Tin Trinidad và Tobago

Thượng Ðế Hiện Thân Trên Trái Ðất

[Port of Spain] Trinidad và Tobago là hai hòn đảo nhỏ ở phía nam Caribbean, nơi ánh sáng giáo lý của Thanh Hải Vô Thượng Sư vừa bắt đầu chiếu rọi và được dân chúng địa phương biết đến.

Tháng tư, khi một sứ giả Quán Âm tới Trinidad, chỉ có một ít đồng tu và người học pháp Phương Tiện tại đây. Nhưng không bao lâu sau, nhiều người nữa bắt đầu đến, trước sự thu hút của ánh sáng giáo lý Sư Phụ, do đó nhóm chúng tôi tăng trưởng một cách mau chóng. Trong thời gian đó, chúng tôi có thể cảm nhận được tình thương bao la của một Ðại Minh Sư.

Trong thời gian vị sứ giả lưu lại đây, nhiều buổi lễ Tâm Ấn đã được cử hành, và các anh chị em đồng tu tại đây đã có nhiều thể nghiệm tốt chưa từng thấy. Chúng tôi đặc biệt nhớ một số người thấy hóa thân và hào quang Sư Phụ đang gia trì cho nhóm người đang cộng tu và khuyên bảo chúng tôi về cuộc sống. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên thấy Ngài biết chúng tôi còn hơn là chúng tôi biết chính mình. Chưa bao giờ chúng tôi có được những thể nghiệm hay như vậy, nhất là khi Sư Phụ dẫn chúng tôi đi xem vũ trụ trong lúc tọa thiền, một thể nghiệm không thể nào diễn tả.

Chúng tôi chỉ biết tu hành chăm chỉ để trở thành những tấm gương sáng của tình thương và lòng từ bi bác ái, và mang ảnh hưởng tốt đến những người xung quanh qua hào quang vĩ đại làm cho đời sống hằng ngày của chúng tôi vô vàn hạnh phúc. Chưa bao giờ chúng tôi được thể nghiệm vui sướng từ Sư Phụ nhiều như vậy, và dù chưa hoàn toàn hiểu hết bản năng của một vị Minh Sư Vô Thượng, nhưng chúng tôi biết rằng Sư Phụ là Thượng Ðế hiện thân trên Trái Ðất.

Tin Puerto Rico

Xin Cả Vũ Trụ Mãi Ngợi Ca Sư Phụ

[San Juan] Trong thời gian lưu lại vừa qua của vị sứ giả Quán Âm trên đảo Puerto Rico, chúng tôi đã tổ chức một số chương trình nhằm chia xẻ giáo lý thiêng liêng của Sư Phụ, bắt đầu bằng một buổi hội thảo chiếu băng thâu hình. Trong thời gian đầu, mọi chuyện diễn tiến chậm chạp, nhưng sau đó, vị sứ giả được mời đến phỏng vấn cho đài phát thanh, một vài tờ báo, và xuất hiện một chút trên đài truyền hình.

Tới ngày hội thảo, các đồng tu và vị sứ giả đến nơi rất sớm để sắp xếp hội trường. Mới đầu, vị sứ giả và một đồng tu khác bị khó khăn khi cố gắng sắp đặt dụng cụ thâu âm và thâu hình. Họ bèn gọi hãng thuê máy nhưng không ai trả lời. Khi chúng tôi cầu Sư Phụ để xin ân điển vô tận của Ngài giúp giải quyết vấn đề, thì bỗng nhiên vị sứ giả thử sửa lại một lần nữa và máy bắt đầu chiếu hình rất rõ. Tuy thí dụ điển hình này cho thấy tình thương và lòng từ bi của Sư phụ và đã làm cho chúng tôi bùi ngùi, rưng lệ, nhưng đây không phải là chuyện duy nhất, và cũng không phải là lần đầu tiên chúng tôi thấy hồng ân của Sư Phụ trong diễn biến này.

Khi buổi hội thảo chấm dứt, đa số khán giả đều điền đơn xin học Pháp Phương Tiện hoặc thọ Tâm Ấn. Mọi người cho biết chỉ cần đọc sách biếu là có thể giúp họ bỏ ăn thịt ngay lập tức. Ðược nhiều thể nghiệm và những kỷ niệm vui, tất cả đồng tu Puerto Rico hy vọng qua những sinh hoạt đầy yêu thương như vậy, giấc mơ của Sư Phụ muốn có một thế giới tốt đẹp hơn sẽ đến trong tương lai không xa lắm. Chúng tôi nhận thấy rằng cho dù bận rộn hay mệt mỏi bao nhiêu đi nữa, nó vẫn là trách nhiệm của chúng ta để thực hiện được giấc mơ này.

Xin cám ơn Sư Phụ đã có mặt trên Quả Ðất, chỉ cho chúng con đường lối thật sự đưa đến bờ cứu rỗi. Xin cả vũ trụ mãi ngợi ca Sư Phụ. Amen.

Tin Mễ Tây Cơ

Ðón Xuân!

[Mễ Tây Cơ] Năm nay, hàng ngàn người từ khắp nơi trên Mễ Tây Cơ tham dự lễ đón xuân vào lúc rạng đông ngày 21 tháng 3. Lễ đón xuân được tổ chức tại nhiều thành phố như Teotihuaca thuộc tỉnh Mễ Tây Cơ, Chichen Itaza tỉnh Yucatan, và Cuicuilco (một địa điểm cổ xưa nổi tiếng của Mễ Tây Cơ), Palenque tỉnh Chiapas, Tulum tỉnh Quintana Roo, Tula tỉnh Hidalgo, và Tajin tỉnh Veracruz.

Ðồng tu Mễ Tây Cơ tụ tập tham dự diễn biến này tại Teotihuacan, cách thành phố Mexico khoảng 50 cây số. Teotihuaca có nghĩa là "Thành Phố Của Thượng Ðế" hay "Nơi Một Người Trở Thành Thượng Ðế." Ðây là khu vực cổ xưa nhất tại cao nguyên Mễ Tây Cơ, gồm có Kim Tự Tháp Mặt Trời và Kim Tự Tháp Mặt Trăng.

Lễ đón xuân bắt nguồn từ xa xưa trong lịch sử Mễ Tây Cơ. Hồi đó, những người thuộc chủng tộc Tây Ban Nha hoặc Bồ Ðào Nha trèo lên đỉnh Kim Tự Tháp Mặt Trời và Mặt Trăng tại Teotihuacan, rồi họ cử hành hai loại nghi lễ: một cho mặt trăng và một cho mặt trời. Lễ mặt trời quan trọng hơn và được gọi là "Chào Ðón Mặt Trời". Theo tục lệ tổ tiên, buổi lễ này bắt đầu được cử hành vào đúng lúc mặt trời mọc, cho thân thể tiếp nhận tràn đầy lực lượng thiêng liêng, giống như được tái sanh.

Lễ đón xuân năm nay, Trung Tâm Mễ Tây Cơ đã chuẩn bị một quầy thức ăn chay, đồng thời triển lãm sách báo của Thanh Hải Vô Thượng Sư. Ðồng tu phát hàng ngàn tờ truyền đơn đến những người viếng thăm quầy hàng chay trên đường đi Kim Tự Tháp. Nhiều người ngạc nhiên, thích thú khi thấy chúng tôi có thể cung cấp những món chay ngon miệng. Quan trọng hơn cả là họ đã tìm thấy sự giảng dạy về Pháp Quán Âm.

Ðây là lần đầu tiên hàng ngàn người viếng thăm quầy hàng của chúng tôi biết về Sư Phụ. Họ ngạc nhiên trước vẻ trẻ đẹp cũng như trí huệ của Ngài. Nhiều người nói họ sẽ đến thăm Trung Tâm Cộng Tu của chúng tôi, một số người muốn tìm hiểu Pháp Quán Âm. Khi ngày lễ chấm dứt, tất cả đồng tu tham dự tuy mệt nhưng cảm thấy vui và thỏa mãn vì đã được cơ hội chia xẻ giáo pháp cứu rỗi của một vị Chân Sư.

Hình:


  1. Hàng ngàn người đi lên Kim Tự Tháp để tiếp nhận năng lượng mặt trời vào lúc xuân phân.

  2. Cổng chánh vào Kim Tự Tháp Mặt Trời và Mặt Trăng.
  3. Ðồng tu chia xẻ giáo lý của Sư Phụ đến hàng ngàn quan khách.

Tin Costa Rica

Một Quốc Gia Nhỏ, Xinh Ðẹp và Sống Ðộng

Trong thời gian "Tuần Lễ Thánh" để tưởng niệm Chúa Giê Su Ki-tô, từ ngày 21 đến 23 tháng 4, Trung Tâm Costa Rica đã tổ chức một cuộc Thiền Tam. Vì đây là ngày lễ quốc tế, đồng tu dự định thiền bế quan để cầu nguyện cho một đời sống tâm linh tốt đẹp hơn và quốc gia được hòa bình. Chúng tôi cảm tạ tình thương của Sư Phụ đối với Costa Rica. Thượng Ðế đã nghe lời cầu nguyện của người dân Costa Rica cho quốc gia được thanh bình, nên những xung đột lâu nay giữa dân chúng và chánh quyền đã vừa mới chấm dứt.

Ðến ngày thiền thứ ba, đồng tu cảm thấy rất hạnh phúc, tràn đầy tình thương và niềm an lạc. Chúng tôi tổ chức nướng thức ăn vào ngày đó và mời thân nhân, bạn bè, và khách tham dự. Thượng Ðế ban cho chúng tôi một ngày trời đẹp, trong sáng, và gió thổi nhè nhẹ. Cánh đồng cỏ xanh mênh mông, nơi chúng tôi tổ chức nướng thức ăn, tương phản với bầu trời xanh ngắt, lấm chấm những bong bóng đầy màu sắc tạo nên một bức tranh hài hòa và sống động.

Nhiều quan khách, đồng tu, và thân nhân của họ đã đến tham dự buổi nướng thức ăn hôm đó. Trẻ em vui chơi ngoài trời, trong khi người lớn xem phim thâu hình của Sư Phụ. Một số người trao đổi với nhau những hiểu biết về tâm linh, trong khi những người khác học Pháp Phương Tiện, và một số còn bày tỏ ý muốn thọ Pháp Quán Âm. Kết quả, nhiều buổi truyền Tâm Ấn đã được liên tục tổ chức trong vài tuần lễ sau đó.

Những Buổi Hội Thảo Chiếu Băng Thâu Hình

Một loạt những buổi hội thảo chia xẻ Chân lý qua băng thâu hình - một tại Cartago và hai buổi ở Heredia - được tổ chức từ ngày 29 tháng 4 đến 20 tháng 5. Buổi hội thảo đầu tiên được tổ chức vào ngày 29 tháng 4, tại La Casa de la Ciudad, một Trung Tâm sinh hoạt tại Cartago. Một máy truyền hình chiếu băng thâu hình của Sư Phụ được đặt gần cửa ra vào tầng lầu một, cùng với sách biếu và bản tin hàng tháng để những người ưa thích có thể lấy tự do với sự giúp đỡ của các đồng tu. Lên đến lầu hai, quan khách đầu tiên sẽ được chào đón bằng những sáng tác nghệ thuật và ấn bản của Sư Phụ, trước khi bước vào hội trường.

Khi số người đến càng lúc càng đông, hội trường mà chúng tôi cho là quá lớn, cuối cùng đã vừa đủ. Bên trong hội trường, khi băng thâu hình của Sư Phụ bắt đầu chiếu lên, khán giả liền bị thu hút. Sau buổi chiếu phim, quan khách đã đặt nhiều câu hỏi, và được vị Sứ Giả Quán Âm trả lời tỉ mỉ. Hầu hết quan khách đã xin học Pháp Phương Tiện trong ngày hôm đó. Mặc dầu phần lớn những người này ở rất xa, họ cũng biểu lộ sự thành tâm muốn được đến cộng tu tại Trung Tâm.

Buổi hội thảo thứ nhì được tổ chức tại Ðại Học Heredia vào ngày 6 tháng 5. Ðể chứng tỏ sự quan tâm chân thành của họ, trước ngày hội thảo ban chức trách của Ðại Học đã cho sơn lại giảng đường để trông mới mẻ hơn. Những tấm bích chương in hình Sư Phụ tọa thiền được trưng bày. Các quan khách tham dự có vẻ chấp nhận nhanh chóng giáo lý của Sư Phụ, và cũng rất ngưỡng mộ tài năng thiết kế nghệ thuật của Ngài. Nhiều người đã xin học Pháp Phương Tiện. Sau cùng là một bữa ăn chay thơm ngon trong bầu không khí ấm áp và phấn khởi tràn ngập hội trường.

Vào ngày 20 tháng 5, buổi hội thảo thứ ba được tổ chức tại thư viện Heredia. Cơn mưa xối xả ngày hôm đó đã không làm thối lòng những người thành tâm cầu Ðạo đến tham dự. Buổi hội thảo thật sự đã thu hút nhiều người hơn dự định của chúng tôi. Trong bầu không khí khẳng định này, mọi người đã hỏi những câu hỏi rất thành tâm và thích đáng, và hầu hết những người tham dự đã xin học Pháp Phương Tiện.

Mặc dầu ba buổi hội thảo này được tổ chức tại hai thành phố không cách xa nhau lắm, nhưng câu hỏi của khán giả lại khác nhau rất nhiều. Vì Cartago là một trung tâm Công Giáo của Costa Rica, phần lớn những người tham dự là tín đồ Công Giáo, và câu hỏi của họ liên hệ đến Thánh Kinh. Ngược lại, tại Heredia, phần lớn người tham dự hỏi về ý nghĩa của sự khai ngộ và thiền định. Một khán giả nay đã học Pháp Phương Tiện kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện. Vừa rồi anh mới nhận được một cú điện thoại của người bạn mà anh ít khi gặp gỡ. Người này nói với anh rằng bắt đầu từ ngày mà năm ngôi sao sắp thành một đường thẳng (ngày 5 tháng năm) cho đến cuối tháng, anh sẽ có cơ hội học một Pháp Môn để phát triển lực lượng qua sự xử dụng của bàn tay.

Nếu anh học phương pháp này thành công, anh sẽ có thể dùng những khả năng nội tại để giúp đỡ nhiều người. Nhưng nếu anh thất bại, anh sẽ phải đợi hai ngàn năm mới được một cơ hội khác. Cho nên, anh đã dò hỏi khắp mọi nơi, đặc biệt là những tổ chức liên hệ đến những tôn giáo á Ðông. Hiện giờ anh giữ một thái độ rất khẳng định đối với Pháp Môn Quán Âm, anh nói bởi vì anh đã được một thể nghiệm tuyệt vời trong lúc học Pháp Phương Tiện.

Tin Gia Nã Ðại

Cúng Dường Thực Phẩm Vật Chất và Tâm Linh

[Vancouver] Sau khi viếng thăm trung tâm thành phố Vancouver, một sư tỷ cảm thấy rất buồn cho tất cả những người nghèo khổ mà cô đã gặp ở đó. Khi đồng tu ở Trung Tâm Vancouver nghe câu chuyện của cô, chúng tôi đã quyết định giúp đỡ họ bằng cách phát khởi một chương trình cung cấp thực phẩm hàng tháng. Chúng tôi đến những khu phố có rất đông người nghèo tập họp, và dựng lên một gian hàng thực phẩm và thức uống. Gian hàng đã lôi cuốn rất nhiều người đến nỗi chúng tôi phải học hỏi cách tổ chức cho chu đáo hơn, sắp xếp họ thành nhiều hàng để phân phát bánh mì sandwich, nước ngọt và trái cây. Chúng tôi cũng tặng cho mỗi người một tờ truyền đơn về Pháp Môn Quán Âm của Sư Phụ, cùng số điện thoại để họ có thể gọi để tìm hiểu thêm tin tức.

Hầu hết những người chúng tôi phục vụ tỏ ra rất cảm kích, và một người đàn ông còn hỏi xin tấm ảnh của Sư Phụ ở trong xe chúng tôi. Một điều đáng tiếc là chúng tôi chỉ mang theo có 100 ổ bánh mì sandwich, và chúng đã hết rất nhanh. Chúng tôi cảm thấy hối hận là đã phải từ chối họ khi tất cả thực phẩm đã cạn, vì vậy, kỳ phân phát sắp tới, chúng tôi hoạch định là sẽ chuẩn bị 200 ổ bánh mì. Chúng tôi cũng sẽ mang thêm nước ngọt, vì đó là thức uống rất ưa thích cho mọi người. Sau khi xong việc, chúng tôi cảm thấy rất tốt đẹp, dường như bản chất con người của chúng tôi đã được nới rộng thêm.

Sau đó, trong những ngày cuối tuần tiếp theo sau kỳ bế quan ở Ðại Hàn, các đồng tu Vancouver trở về đã có một dịp tuyệt vời để chia xẻ tình thương của Sư Phụ bằng cách tham gia buổi Hội Chợ thành phố của Vancouver vào ngày 20 và 21 tháng 5. Ðây là những hoạt động của cộng đồng, nơi mà các nhóm văn hóa khác nhau trình bày nhiều nhạc phẩm, các vũ điệu, và những người khác bán hoặc phân phát những sản phẩm của họ. Nhiều người đã dừng lại trước bàn của chúng tôi để thưởng thức băng chiếu phim thuyết pháp của Sư Phụ, lấy những tấm truyền đơn, sách biếu, bản tin, hay nghiên cứu những quyển sách, hình ảnh và băng thu hình được trưng bày.

Sau khi xem băng thu hình của Sư Phụ khoảng hai mươi phút, một vị phụ nữ đã nhận xét: "Ngài là một Nữ Thánh. Ngài tỏa chiếu tình thương. Ngài nói đúng tim tôi." Một người đàn ông Phi Châu rất thích thú nhìn ngắm những tấm ảnh trưng bày của Sư Phụ, ông nói với vợ, "Nhớ Ngài không?" Ông nói tiếp rằng Sư Phụ đã nổi tiếng là một người tốt ở Phi Châu, ông đã đọc sách biếu và đã biết nhiều về Ngài từ Phi Châu. Một người đàn ông khác dừng lại ở gian hàng của chúng tôi, và sau đó trở lại với một người bạn. Hai tháng trước, ông đã nhận được quyển sách biếu và đã ngưng ăn thịt ngay sau khi đọc sách. Ông rất hiếu kỳ muốn biết thêm về Sư Phụ, và đã lấy thêm vài cuốn Bản Tin.

Ðây là năm thứ nhì mà chúng tôi tham dự Hội Chợ, và trong khi dựng gian hàng, chúng tôi được gặp lại một người đàn ông, ông hỏi chúng tôi có còn nhớ ông là ai không? Dĩ nhiên là chúng tôi nhớ; ông là người láng giềng, bên cạnh gian hàng của chúng tôi năm trước, và chúng tôi đã tặng ông quyển sách biếu. Ông rất vui mừng được gặp lại chúng tôi, và rất hăng hái muốn biết thêm về tin tức của Sư Phụ. May mắn thay, chúng tôi có băng thu hình tiếng Anh và tiếng Tiệp Khắc, là tiếng mẹ đẻ của ông để cho ông mượn về. Từ sau đó, ông đã gọi điện thoại để tìm hiểu thêm về Sư Phụ và phương pháp thiền.

Chúng tôi đã được học hỏi rất nhiều trong lần làm việc này. Thí dụ, chúng tôi thấy rằng sự ưa thích về tâm linh không chỉ giới hạn trong các cuộc hội chợ và triển lãm về tâm linh. Mặc dù chúng tôi đã tham dự một cuộc triển lãm về tâm linh chỉ vài tháng trước đây, và sẽ tiếp tục làm việc này, thật sự chúng tôi nhận thấy mọi người hưởng ứng giáo lý của Sư Phụ còn tốt đẹp hơn trong lần hội họp cộng đồng này. Kể từ nay, chúng tôi sẽ tìm những buổi hội hè có tính cách cộng đồng và văn hóa như vậy để tham dự.

Chúng tôi cũng nhận thấy rằng cũng có ích lợi khi chúng tôi trở lại cùng địa điểm hàng năm để kết nối lại tình giao thiệp của chúng tôi. Thí dụ, người đàn bà trong quầy cà phê của Hội Chợ đã biết chúng tôi từ năm ngoái, vì vậy chúng tôi có thể trò chuyện và tặng bà quyển sách biếu. Ngoài ra, trong một thành phố có nhiều sắc tộc như Vancouver, có được sách biếu của càng nhiều ngôn ngữ thì càng tốt.

Nhiều người đi qua gian hàng của chúng tôi đã đọc được sách biếu. Chúng tôi hy vọng rằng mọi người ở quanh Vancouver đều có thể thấy được chân dung của Sư Phụ, đọc sách biếu nếu họ muốn, và có dịp học Pháp Phương Tiện hay nhận được sự gia trì của việc Tâm Ấn. Chúng tôi cảm ơn Sư Phụ đã cho cơ hội kỳ diệu này để chia xẻ tình thương của chúng tôi và ân điển của Thượng Ðế với các anh chị em ở Vancouver, và hy vọng sẽ có nhiều cơ hội tương tự trong tương lai. Chúng tôi đang trông chờ mùa Hạ đến, khi mà chúng tôi hoạch định tham gia vào những cuộc hội họp văn hóa ở đây.

Hình:


  1. Phát sinh từ tình thương, Trung tâm Vancouver (Gia Nã Ðại) đã khởi sự công việc phân phát thức ăn mỗi tháng.

  2. Trong hình: Một cơ hội rất tốt cho những thành viên các cộng đồng tìm hiểu về Sư Phụ.

  3. Các hội viên trong nhóm chúng tôi được hân hạnh chia xẻ ân điển mà họ nhận được với dân chúng ở Vancouver.

Tin Hoa Kỳ

Biển Tình Thương Tuôn Chảy Vào Clearwater

[Clearwater] Vào ngày 16 tháng 4, 2000, một buổi hội thảo chiếu băng thuyết pháp được tổ chức tại Clearwater, Florida, với đề tài "Làm Cách Nào Ðể Ðạt Ðược Một Cuộc Sống Hạnh Phúc Qua Thiền Ðịnh Và Sự Khai Ngộ." Một đồng tu địa phương đã tình nguyện chủ tọa buổi thuyết pháp tại trụ sở câu lạc bộ trong chung cư của cô. Trước buổi hội thảo, các đồng tu địa phương đã tụ họp để phổ biến tin tức về buổi hội thảo qua báo chí, truyền đơn và ngay cả qua việc đích thân mời những người quen của họ. Các đồng tu từ khắp nơi ở Florida đã đến tình nguyện phụng sự trong ngày cuối tuần tuyệt đẹp đó. Xét từ khía cạnh đây là buổi hội thảo đầu tiên ở Clearwater, Florida, lần tổ chức này đã thành công hơn sự tưởng tượng. Sau buổi hội thảo, hầu hết các quan khách đã quyết định học Pháp Phương Tiện ngay lúc đó. Thông cáo về buổi hội thảo đã được đăng trên mạng lưới htt://www.godsdirectcontact.org/eng/events/seminar/clearwater/

Bất cứ ai muốn có các mẫu bích chương và truyền đơn của buổi thuyết pháp có thể viếng thăm mạng lưới URL này.

Hình: Ðám đông náo nhiệt tham dự buổi hội thảo chiếu băng phát hình đầu tiên trình bày giáo lý của Sư Phụ.

Tình Thương Thiêng Liêng Còn
Gợn Sóng Nơi Vùng Ðất California Sau
Ðêm Nhạc Hội Một Thế Giới

[California] Một năm rưỡi đã qua sau đêm đại nhạc hội thiện nguyện tuyệt vời "Một Thế Giới... Hòa Bình Qua Âm Nhạc", nhưng âm hưởng vẫn còn phảng phất trong lòng của rất nhiều người. Mục đích buổi đại nhạc hội là để giúp trẻ em bệnh ung thư và các chứng bệnh nan-y ở Hoa Kỳ và khắp nơi trên thế giới. Các nhà soạn nhạc từng thắng giải Oscar và Emmy, các nhạc sĩ lừng danh thế giới, cùng giàn nhạc với 65 tay nhạc cụ xuất sắc nhất Hollywood đã trình diễn ra mắt thế giới những bài nhạc hay của Thanh Hải Vô Thượng Sư, cũng như các áng thơ của Ngài do các nhạc sĩ Bill Conti, Fred Karlin, Maria Newman và Peter Boyer phổ nhạc. Cùng đêm hôm đó, Sư Phụ Thanh Hải đã trao tặng hai món quà quảng đại: một cho Hội Starlight và một cho Bệnh Viện Nghiêm cứu Nhi Ðồng St. Jude. Vào đầu năm nay, ba diễn biến khác cho thấy người lớn cũng như trẻ em vô cùng cảm kích trước tấm lòng nhân ái và từ bi của Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Ðêm Dạ Hội 100 Minh Tinh Ðiện Ảnh Oscar

[Beverly Hills] Ngày 26 tháng 3, chương trình giải Oscar, một diễn biến thường niên nổi tiếng nhất của Hollywood đã trở lại trong cùng một hội trường tổ chức đại nhạc hội Một Thế Giới 1998, Ðại Thính Ðường Shrine Auditorium, để phát giải cho những minh tinh xuất sắc nhất trong kỹ nghệ điện ảnh. Trong buổi trao tặng giải Oscar, một buổi dạ hội Oscar "Ðêm Của 100 Minh Tinh Ðiện Ảnh" cũng được tổ chức tại khách sạn trang trọng Beverly Hills. Ðại hội này là để vinh danh những người thắng Giải Oscar trong quá khứ và hiện tại, đồng thời ủng hộ Hội Phim Ảnh, một hội có mục tiêu bảo trì các phim quý cổ xưa. Năm ngoái, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã nhận lời mời tới dự dạ hội của ông Edvard Akopyan, Tổng Giám Ðốc Văn Nghệ Thế Kỷ 21 (21st Century Entertainment) kiêm Phó Tổng Giám Ðốc Glendale Studios. Ông đã tham dự "Một Thế Giới... Hòa Bình Qua Âm Nhạc" và cảm phục những tác phẩm tuyệt mỹ bắt nguồn từ những thi phẩm của Sư Phụ Thanh Hải cũng như những công việc âm thầm mà Ngài đã làm cho nhân loại trong những năm vừa qua.

Năm nay, Ông Peter Nygard, một nhà vẽ kiểu thời trang nổi tiếng thế giới kiêm tổng giám đốc hãng Nygard International và cũng là bảo trợ viên cho "Ðêm Của 100 Minh Tinh" cùng với Ông Norby Walters, nhà sản xuất phim ở Hollywood, đã đặc biệt mời Thanh Hải Vô Thượng Sư đến tham dự diễn biến vĩ đại này, nơi trái tim của nhiều minh tinh màn bạc đã cảm động và hy vọng muốn gặp lại Ngài. Không thể đến dự vì công việc hoằng pháp bận rộn, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã gửi một số nhân vật đại diện đến để bày tỏ lòng kính mến.

Nhiều đại minh tinh trong Ðêm Của 100 Minh Tinh vẫn còn nhớ Thanh Hải Vô Thượng Sư hồi năm ngoái. Ông Edvard Akopyan, Tổng Giám Ðốc Văn Nghệ Thế Kỷ 21 (21st Century Entertaiment) cho biết: "Chúng tôi hiểu là Ngài bận rộn và không thể nào đến chung vui với chúng tôi đêm nay. Chúng tôi luôn chúc Ngài sức khỏe dồi dào, vui và tiếp tục giúp đỡ mọi người như Ngài đã làm. Tôi xin chúc Ngài mọi may mắn trên đường hoằng pháp. Tôi hy vọng mọi người hiểu thông điệp của Ngài, nó rất quan trọng cho tất cả mọi người. Cám ơn Ngài Vô Thượng Sư rất nhiều đã giúp đỡ cho nước Armenia, rất ích lợi cho dân chúng Armenia. Tôi hy vọng sẽ được gặp lại Ngài trong một ngày gần đây."

Ông Norby Walters, nhà sản xuất phim Hollywood và Chủ Tịch buổi dạ tiệc "Ðêm Của 100 Minh Tinh" cũng gởi lời chúc mừng tốt đẹp: "Xin kính chào Vô Thượng Sư. Chúng tôi hy vọng Ngài mạnh khỏe và sống 1000 năm để chia xẻ những lời vàng ngọc. Hy vọng Ngài sẽ có mặt với chúng tôi vào năm tới. Chúng tôi mong được gặp lại Ngài."

Nữ Tài Tử Stella Stevens, minh tinh trong các cuốn phim như "The Poseidon Adventure" và "Girls! Girls! Girls!", cũng ngỏ lời chúc cảm động đến Sư Phụ: "Xin kính chào Thanh Hải Vô Thượng Sư. Thật tôi thấy thương khi nghĩ tới Ngài và ước gì Ngài có mặt ở đây. Năm ngoái được gặp gỡ Ngài tôi rất là vui sướng; tôi biết rằng niềm vui, vẻ đẹp và những điều kỳ diệu mà Ngài mang đến cho mọi người, rất là lợi ích cho thế giới. Xin Thượng Ðế luôn gia trì cho Ngài. Tôi thương mến Ngài."

Nhiều người nói họ nhớ phong cách trang nhã và tấm lòng từ bi của Sư Phụ Thanh Hải, và cũng gởi lời chúc mừng tốt đẹp đến Sư Phụ. Những người này gồm có Peter Nygard, người mẫu kiêm nữ tài tử Anna Nicole Smith, và các nam tài tử David Carradine, Kevin McCarthy, Henry Silva và Vincent Schivavelli. Những người chúc lành khác gồm có ông Buzz Aldrin, phi hành gia đầu tiên lên cung trăng và phu nhân Lois, và ông Ken Huthmaker của Tờ Báo Entertainment Sports Today. Nhiều đại minh tinh này vô cùng cảm mến Thanh Hải Vô Thượng Sư và hy vọng sẽ có ngày tái ngộ.

Hình:


  1. Ông Peter Nygard (trái), tổng giám đốc hãng Nygard International và người bảo trợ cho Ðêm Của 100 Minh Tinh Ðiện Ảnh, cùng với Ông Norby Walters, nhà sản xuất phim ảnh Hollywood (phải), là Chủ Tịch Buổi Dạ Tiệc, cả hai đã đặc biệt gởi lời mời Thanh Hải Vô Thượng Sư đến tham dự diễn biến vĩ đại này.

  2. Ông Kevin McCarthy, tài tử nổi tiếng (phim Death of a Salesman, Innerspace) và nhiều đại minh tinh điện ảnh khác gởi những lời chúc tốt đẹp nhất đến Sư Phụ.

  3. Henry Silva, nam tài tử nổi tiếng (phim Dick Tracy, Above The Law), bày tỏ lòng kính mến đối với Sư Phụ: "Tôi mong ước Ngài được mọi điều tốt đẹp bất kỳ ở nơi đâu!"

Dạ Hội Hollywood thứ 20
của Bệnh Viện Nghiên Cứu Nhi Ðồng St. Jude

[Hollywood] Vào ngày 2 tháng 3, Bệnh Viện Nghiên Cứu Nhi Ðồng St. Jude đã tổ chức buổi Dạ Hội Hollywood thường niên thứ 20 tại Khách Sạn Beverly Hilton trang trọng. Nhiều tài tử nghệ sĩ nổi tiếng cùng họp mặt vào lúc này để ủng hộ Bệnh Viện St. Jude, một trong những trung tâm nghiên cứu và điều trị hay nhất thế giới cho bệnh ung thư trẻ em cùng các chứng bệnh thiếu nhi hiểm nghèo khác.

Năm nay, các đồng chủ tịch: ông Marlo Thomas, Terre Thomas, và Tony Thomas, là con cái của người sáng lập Bệnh Viện, một tài tử nổi tiếng Danny Thomas, đã viết một bức thư mời Thanh Hải Vô Thượng Sư đến tham dự dạ hội thường niên thứ 20. Mặc dầu rất cảm kích trước tấm lòng thành của họ, nhưng Sư Phụ không thể đến tham dự năm nay vì chương trình hoằng pháp bận rộn. Tuy nhiên, Sư Phụ đã gởi tình thương đến họ qua một vài hội viên.

Dù Sư Phụ vắng mặt, nhưng những nhân vật tiếng tăm và quan trọng gặp Ngài trong buổi dạ hội năm ngoái, vẫn còn cảm động trước tấm lòng thương yêu, nhân đạo của Ngài và vẫn nhớ Ngài trong tim. Những người bày tỏ cảm tưởng đối với Sư Phụ gồm có ông Richard Shadyac, Giám Ðốc Ðiều Hành Quốc Gia của Bệnh Viện Nghiên Cứu Nhi Ðồng St. Jude; ông Phil Donahue, cựu phụ trách viên cho chương trình luận đàm trên truyền hình cũng là phu quân của bà Marlo Thomas; ông Tom Shadyac, Giám Ðốc Sản Xuất các phim như Patch Adams, The Nutty Professor và Liar, Liar; bà Maxine Moshay, Giám Ðốc Ðiều Hành Quỹ Ung Thư Amie Karen cho Thiếu Nhi cùng chồng là ông Ray; ông Mike Driebe, Tổng Giám Ðốc Trung Tâm LeRoy Haynes cho thiếu nhi bị lạm dụng; ông Tom Schleuning thuộc ShadyAcres Entertainment, và bà Shoshana Grammer, Giám Ðốc Bệnh Viện Nghiên Cứu Nhi Ðồng St.Jude. Dưới đây là một số lời chào bày tỏ lòng thành kính của các nhân vật trên.

Ông Richard Shadyac: "Vô Thượng Sư, năm nay tôi nhớ Ngài. Năm ngoái chúng ta rất vui và tôi rất thích cuốn băng nhạc của Ngài. Tôi hy vọng Ngài nhận được những lời này vì tôi thấy cuốn băng rất là hứng khởi, không những vì tiếng nhạc trong đó mà còn vì thông điệp hàm chứa cho linh hồn. Tôi cầu xin sang năm Ngài sẽ góp mặt với chúng tôi. Cám ơn Ngài và cầu xin Thượng Ðế gia trì cho Ngài." Ông Shadyac sau đó đã phát biểu với chúng tôi: "Ngài thật là thương yêu, và tất cả quý vị, quý vị làm việc giỏi quá; Xin Thượng Ðế gia trì cho quý vị. Chúng tôi cũng làm công việc tương tự như Vô Thượng Sư. Chúng tôi mang an bình và niềm vui đến cho các em thiếu nhi trên thế giới."

Ông Tom Shadyac: "Vô Thượng Sư, Ngài mạnh giỏi không? Tôi đã học ngồi thiền. Tôi chưa ngồi được lâu, nhưng tôi cố gắng. Tôi nhớ Ngài, ước gì Ngài có mặt ở đây và xin Thượng Ðế gia trì cho Ngài."

Bà Maxine Moshay: "Xin kính chào Vô Thượng Sư. Chúng tôi rất nhớ Ngài năm nay và hy vọng Ngài sẽ họp mặt với chúng tôi trong năm tới. Tôi hy vọng chuyến hoằng pháp của Ngài được suông sẻ; xin chúc Ngài mọi điều tốt đẹp và cám ơn Ngài rất nhiều đã nghĩ đến tôi và gởi thiệp cho tôi năm ngoái. Tôi mong sớm được gặp Ngài."

Ông Mike Driebe (hồi tưởng lại lúc ông diện kiến với Sư Phụ): "Xin gửi những điều tốt đẹp nhất của tôi đến với Vô Thượng Sư. Xin nói lại với Ngài rằng tôi rất quý mến Ngài và rất vui khi nhớ đến Ngài, nhất là lúc tôi ở trên sân khấu với Ngài đêm hôm đó nhận tấm ngân phiếu cho các em ở Bệnh Viện Nghiên Cứu Nhi Ðồng St. Jude. Ðó là một thể nghiệm tuyệt vời, tôi hy vọng sẽ có dịp được gặp lại Ngài một ngày không xa... Xin vui lòng nói với Ngài là chúng tôi luôn nghĩ tới và cầu nguyện cho Ngài."

Bà Shoshanna Grammer: "Xin gởi lời chúc Ngài, Vô Thượng Sư, từ Shoshanna Grammer thuộc văn phòng ALSAC/ Bệnh Viện Nghiên Cứu Nhi Ðồng St Jude. Chúng ta gặp nhau vào tháng 12 năm ngoái, khi Ngài đã rộng lượng ủng hộ bệnh viện. Năm nay chúng tôi nhớ Ngài và mong được gặp Ngài ở đây, Dạ Hội Hollywood. Tôi biết Ngài có những vấn đề cần kíp khác cần phải lo và không thể có mặt nơi đây, nhưng chúng tôi muốn Ngài biết rằng chúng tôi vẫn nghĩ tới và cầu nguyện cho Ngài; và chúng tôi vô cùng biết ơn tất cả những gì Ngài đã làm.

"Chúng tôi nghĩ rằng Ngài đã cho các em thiếu nhi thật nhiều bằng tất cả tấm lòng; và Ngài đã tạo ra nhiều phép lạ cho các em với tấm lòng quảng đại, ý nghĩ tốt và lời cầu nguyện của Ngài để lợi ích các em. Chúng tôi rất, rất là biết ơn những gì Ngài đã làm cho chúng tôi trong thời gian qua, và chúng tôi mong Ngài sống lâu và chia xẻ đời sống dài lâu của Ngài với các em ở St. Jude để chúng cũng được sống lâu. Chúng tôi xin chúc Ngài mọi điều tốt đẹp và mong gặp lại Ngài vào năm tới.

"Chúng tôi xem chương trình truyền hình [Chương trình của Sư Phụ phát hình tại Quận Los Angeles/Orange]. Phẩm chất của Vô Thượng Sư thật sự thanh bạch. Tấm lòng của Ngài được bày tỏ bằng một ngôn ngữ quốc tế, và chúng tôi có một cảm giác bình an và thương yêu từ Ngài đối cho chúng tôi. Ngài nói ngôn ngữ của vũ trụ, nên chúng tôi rất thích. Ngay cả hai đứa con bảy tuổi và ba tuổi của tôi cũng thích xem chương trình ấy với chúng tôi, cho nên chúng lớn lên, vừa nghe Vô Thượng Sư. Thậm chí chúng còn bấm nút đổi chương trình thay vì xem hoạt họa rồi nói: 'Vô Thượng Sư!' rồi tất cả chúng tôi cùng xem. Cho nên Ngài thật sự đã đi vào đời sống và trái tim của chúng tôi, và nhờ vậy chúng tôi trở nên con người tốt đẹp hơn."

Hình:


  1. Ông Tom Shadyac, Giám Ðốc Hollywood, đã nói chuyện với Sư Phụ năm ngoái và bày tỏ lòng kính mến của ông đối với Ngài.

  2. Ông Phil Donahue, người phụ trách nổi tiếng trong chương trình luận đàm trên truyền hình ký tên trên tấm ảnh lớn mà Sư Phụ và ông đã chụp chung vào ngày dạ hội năm ngoái: "Kính gởi Vô Thượng Sư, Phil Donahue."

Hội Nhi Ðồng Starlight
Vinh Danh Vô Thượng Sư Thanh Hải

[Los Angeles] Hội Nhi Ðồng Starlight là một tổ chức cao thượng, với ý nguyện làm tươi sáng cuộc đời của các thiếu nhi bị bệnh hiểm nghèo và của gia đình chúng qua công việc ban điều ước và các chương trình giải trí trong bệnh viện. Tổ chức này là một trong những tổ chức được sự đóng góp quảng đại của Thanh Hải Vô Thượng Sư tại đêm đại nhạc hội từ thiện: "Một Thế Giới... Hòa Bình Qua Âm Nhạc" vào tháng 12, 1998. Vì luôn biết ơn tình thương bao la của Thanh Hải Vô Thượng Sư, năm nay Hội Nhi Ðồng Starlight đã vinh danh Thanh Hải Vô Thượng Sư tại một trong những Trung Tâm Vui tại đây. Những trung tâm sinh hoạt này giúp cung cấp các trò chơi và giải trí cho các trẻ em bị bệnh trầm trọng trong lúc nằm bệnh viện.

Ông John Moschitta, Phó Giám Ðốc Ðiều Hành của Hội Nhi Ðồng Starlight và là một trong những hội viên trong hội đồng quản trị, đã chọn một Trung Tâm Vui treo tấm bảng khắc tên Thanh Hải Vô Thượng Sư tại Bệnh Viện Nhi Ðồng Los Angeles nổi tiếng này. Ðiệp văn của ông có câu như sau: "Tôi, thay mặt cho Hội Nhi Ðồng Starlight và Bệnh Viện Nhi Ðồng Los Angeles, xin cám ơn Thanh Hải Vô Thượng Sư đã tặng, cùng với những thứ khác, Trung Tâm Vui này. Ngoài ra, qua sự giúp đỡ của Vô Thượng Sư, chúng tôi đã ban được rất nhiều điều ước, thực hiện các chương trình sinh hoạt nhi đồng, và cho bệnh viện những điều ước muốn. Chúng tôi làm được rất nhiều nhờ tấm lòng quảng đại của Vô Thượng Sư. Chúng tôi rất cám ơn và mong Ngài tiếp tục ủng hộ để chúng tôi có thể xây thêm những trung tâm này, ban thêm nhiều điều ước và giúp mang lại nụ cười trên môi của các em nhỏ không được khỏe này."

Cô Diane, một trong những y tá ở Bệnh Viện Nhi Ðồng, đã nói về sự đóng góp của Sư Phụ như sau: "Ðược những cái này (Trung Tâm Vui) thật là tốt, như quý vị biết, chúng tôi có rất nhiều trẻ em ở đây. Cho nên có những trung tâm sinh hoạt tuyệt vời như vầy thật là sung sướng, vì nhiều lúc mấy em không được ra khỏi phòng, phải có cái gì cho chúng chơi trong lúc điều trị. Cho nên chúng tôi vô cùng cám ơn, bởi vì tất cả những gia đình ở đây, các em nhỏ và y tá rất đội ơn."

Cô Mary, cũng là y-tá của Bệnh Viện Nhi Ðồng, nói thêm: "Tôi tên là Mary Aruin, là chuyên viên đời sống nhi đồng trong đơn vị ung thư/chuyên khoa máu. Chúng tôi rất mừng có được Trung Tâm Vui. Nó giúp ích rất nhiều những trẻ em không thể đi vào phòng chơi vì phải cô lập. Trung Tâm Vui sẽ giúp các em có cơ hội chơi ngay trên giường bệnh."

Em Terathan, một bệnh nhân tại Bệnh Viện Nhi Ðồng Los Angeles, cũng bày tỏ lòng biết ơn: "Con nhập viện hôm nay để chữa... ung thư trong máu... ung thư máu. Chào Vô Thượng Sư. Cám ơn Ngài đã cho Trung Tâm Vui."

Hình:


  1. Ðể tỏ lòng biết ơn sự đóng góp quảng đại của Sư Phụ trong đêm đại nhạc hội từ thiện "Một Thế Giới... Hòa Bình Qua Âm Nhạc", Hội Nhi Ðồng Starlight đã khắc câu này tại một trong những Trung Tâm Vui: "Với tình thương và sự gia trì của Thượng Ðế, Thanh Hải Vô Thượng Sư."

  2. Sung sướng hưởng những món quà của Thượng Ðế, trẻ em tại Bệnh Viện Nhi Ðồng Los Angeles là người tiếp nhận Trung Tâm Vui mới được khắc tên Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Tin Indonesia

"Chúc Mừng Sinh Nhật", Sư Phụ!

[Surabaya] Ngày 12 tháng 5, 2000 luôn luôn mang đến cho gia đình Quán Âm tại Surabaya, Nam Dương nhiều kỷ niệm đẹp đầy ý nghĩa. Bởi vì đó là ngày chúng tôi tổ chức lễ kỷ niệm Sinh Nhật Sư Phụ, và cũng là ngày khai trương Trung Tâm của chúng tôi. Sinh Nhật của Sư Phụ là ngày rất đặc biệt, vì nó là sự nhắc nhở lý do vì sao chúng tôi đến thế giới này. Khai trương Trung Tâm mới cũng là một sự kiện đặc biệt đối với chúng tôi, vì bây giờ chúng tôi có thể có một chỗ riêng qua nỗ lực chung của chính mình. Một sự kiện với hai ý nghĩa này càng làm chúng tôi vui hơn vì biết mình có một Người Bạn Chân Thật, đang tại thế, và đầy lòng nhân ái trong khi chúng tôi đang sống tại một quốc gia ít hiểu biết về tâm linh.

Chúng tôi cùng nhau hát mừng "Chúc mừng Sinh Nhật, Sư Phụ, Chúc mừng Sinh Nhật đến Ngài!", và chứng kiến những khuôn mặt sáng rực niềm vui trong gia đình Quán Âm. Tất cả mọi người đều cảm nhận một bầu không khí rất tươi đẹp và đáng yêu tràn ngập Trung Tâm, thật tuyệt diệu vô cùng! Sư Phụ, đây là sinh nhật của Ngài, nhưng Ngài đã cho chúng con món quà quý giá nhất. Chúng con chỉ có thể tặng Ngài niềm hạnh phúc của chúng con. Mừng sinh nhật Sư Phụ! Chúng con thương mến Ngài.

Tin Nhật Bản

[Tokyo] Vào ngày 14 tháng 5, Trung Tâm Tokyo đã tổ chức một buổi tiệc mừng ngày Sinh Nhật Sư Phụ sau buổi cộng tu. Sau buổi thuyết pháp của Sư Phụ tại Nhật Bản ngày 7 tháng 5, rất nhiều đồng tu mới đã gia nhập gia đình Quán Âm tại Tokyo, và cũng như các đồng tu cũ, họ đã mang theo thân quyến, kể cả trẻ em, đến dự tiệc. Một số đã đến từ những vùng xa xôi như tỉnh Yiwate và Yamagata, cách Tokyo đến 700 cây số.

Tại buổi tiệc, những đồng tu mới đã bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với lễ Tâm Ấn quí báu và tình thương của gia đình Quán Âm. Mọi người hát mừng "Chúc Mừng Sinh Nhật NgàI" đến Sư Phụ, trong khi các đồng tu cũng như thân quyến của họ đã cảm động đến rơi nước mắt do Tình Thương thánh thiện của Sư Phụ.

Tin Nepal

<Tường Thuật Báo Chí>
Báo Cóng Luận
Báo Công Luận, phát hành tại Kathmandu.
Thứ năm, Ngày 25-31 tháng 5, 2000 (Nguyên văn tiếng Anh)
Ðón Mừng Lễ Sinh Nhật Sư Phụ Thanh Hải
Do Bản Tin Báo Chí

Pokhara - Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư, Trung Tâm Pokhara đã tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 50 sinh nhật của Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư tại Pokhara. Ông Som Prasad Pathak, hội viên thâm niên của Hội, đã khai mạc chương trình tại Trung Tâm Thiền Prithivi Chowk. Một buổi cộng tu được tổ chức với sự tham dự của nhiều hội viên cũ và mới. Chương trình kéo dài ba tiếng, và sau buổi cộng tu một chương trình phát thanh và phát hình được trình chiếu, đề cập đến những điểm nổi bật trong cuộc đời và công việc làm của Thanh Hải Vô Thượng Sư. Vào phần cuối chương trình, những thành viên trong Hội đã gửi lời cầu chúc trường thọ và dồi dào sức khỏe đến Sư Phụ Thanh Hải.

Tường Trình Tổng Hợp Từ Formosa

[Kinmen] Kinmen là một quần đảo ngoài khơi Formosa. Ðáp ứng lòng khao khát mãnh liệt muốn tổ chức cộng tu trên đảo, Thượng Ðế đã an bài cho các đồng tu địa phương có được một Trung Tâm cộng tu riêng của họ năm nay. Trung Tâm Kinmen nằm ở chân núi Ðồi Ngũ Hổ (Five Tiger Hill) của Công Viên Quốc Gia Kinmen; người địa phương gọi nơi đó là Xã Ðồi Tây (West Hill Village). Trung Tâm được xây bằng những tấm tôn ghép lại, và chung quanh rất rộng rãi và yên tĩnh.

[Chương Hóa] Trung Tâm Chương Hóa đã đóng góp một bộ sách với đầy đủ những ấn bản của Sư Phụ, gồm có tập thơ và những sách kể chuyện, các tạp chí và sách biếu, cho bệnh viện danh tiếng Hsiu Chuan Memorial Hospital ở Chương Hóa.

[Chiayi] Vào ngày 9 tháng 4, Hội Phật Giáo Faa Shing Bao Lin Society của Formosa đã tổ chức một hội chợ từ thiện để gây quỹ cho nhóm phụng sự xã hội Người Giúp Ðỡ Các Gia Ðình (The Family Helpers) tại thị xã hương thôn Luku. Có hơn 100 gian hàng trong hội chợ, một trong những gian hàng đó được bảo trợ bởi Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư. Tại gian hàng, chúng tôi bán những món ăn chay, và số tiền thu được đã được đóng góp cho quỹ từ thiện.

[Ðài Nam] Vào tháng Ba năm nay, Trung Tâm Ðài Nam đã điều hành hai buổi hội thảo tâm linh tại Nhà Tù Ðài Nam và Trung Tâm Cải Huấn Ðài Nam. Hơn 100 tù nhân cai ma túy đã tham dự buổi thuyết pháp tại Nhà Giam, và hơn 300 dân chúng trong vùng đã dự buổi hội thảo tại Trung Tâm. Tất cả những người tham dự đã được học Pháp Thiền Phương Tiện.

[Bình Ðông] Vào ngày 8 và 9 tháng 4, Trung Tâm Bình Ðông, lợi dụng ưu điểm của đám đông khổng lồ tại chợ bán hoa thành phố ngày cuối tuần, đã tổ chức một buổi hội thảo tâm linh qua băng thu hình và triển lãm các tác phẩm nghệ thuật của Sư Phụ tại Trung Tâm Văn Hóa Thị Xã Bình Ðông. Ðại chúng đã hưởng ứng rất tốt đẹp, với gần hơn 2500 người tham dự và 1000 quyển sách biếu đã được phân phát. Buổi hội thảo chiếu băng thuyết pháp được tổ chức tại Giảng Ðường của Trung Tâm Văn Hóa ngày 8 tháng 4 đã tràn ngập khán giả. Nhiều quan khách đã học Pháp Phương Tiện ngay lúc đó, trong khi những người khác đã yêu cầu xin thọ Tâm Ấn để vào tu Pháp Môn Quán Âm.

Hình:


  1. Các đồng tu ở đảo Kinmen, một đảo nhỏ ở ngoài khơi Formosa, vui mừng có được nơi để cộng tu.

  2. Buổi hội thảo tâm linh được tổ chức tại Trại Cải Huấn Ðài Nam.
  3. Cuộc triển lãm các tác phẩm nghệ thuật của Sư Phụ tại Bình Ðông đã thu hút hơn 2,000 khách.

  4. Buổi hội thảo chiếu băng thuyết pháp được tổ chức trong cuộc triển lãm tại Bình Ðông.

Tin Úc Ðại Lợi

Ngày Làm Sạch Nước Úc

[Sydney] Dù cho bầu trời Sydney mây đen vần vũ như muốn đe dọa một trận mưa lũ trong vùng, hằng trăm đồng tu vẫn hăng hái tham gia "Ngày Làm Sạch Nước Úc", tạo kỷ lục về số người tham dự so với những năm về trước.

Trong "Ngày Làm Sạch Nước Úc" năm nay, Trung Tâm Sydney thuộc Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được giao phó chăm lo khu vực phía Tây của thành phố Abramatta, nơi có đông đảo người á Châu, phần lớn là dân Âu Lạc. Trong chiếc áo đồng phục áo vàng viền xanh lá cây, hằng trăm đồng tu già trẻ nổi bật giữa đám đông, những tình nguyện viên mặc y phục màu sắc khác nhau, làm cho dân chúng địa phương ngạc nhiên nhìn chăm chú.

Trong những năm qua, Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư ở Úc Ðại Lợi là đoàn thể tiên phong trong các nhóm cộng đồng sắc tộc tham gia ngày tổng vệ sinh thường niên này; đó là nhờ Sư Phụ dạy dỗ chúng ta hãy nên đóng góp công sức để tỏ lòng biết ơn đối với quốc gia dân tộc.

Hội Chợ Tết Canh Thìn Năm 2000

Như những năm trước, Hội Chợ Tết năm nay được tổ chức tại trường đua Warrick Farm thuộc thành phố Sydney. Gần một trăm gian hàng đã được dựng lên cho cả hai khu: giải trí và triển lãm văn chương nghệ thuật của các văn nghệ sĩ Âu Lạc. Ngoài ra còn có các gian hàng tôn giáo, bao gồm gian hàng của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã thu hút vô số quan khách.

Nhiều người đồng hương Âu Lạc đã đến viếng thăm gian hàng của chúng tôi để thưởng thức các món ăn chay ngon và bổ dưỡng. Nhiều người khác cũng đến tham khảo sách báo và trầm trồ khen ngợi các tác phẩm nghệ thuật do Sư Phụ sáng tác. Chúng tôi đã chiếu băng thâu hình của Sư Phụ trong ba ngày liên tiếp, và sau khi Hội Chợ chấm dứt, một số quan khách đã viếng gian hàng, gọi vào hoặc đích thân đến Trung Tâm Sydney để học hỏi thêm về Pháp Môn Quán Âm cùng các hoạt động của Hội, chuẩn bị tinh thần cho ngày Tâm Ấn.

Hình: Quan khách và đồng tu đến tham khảo sách báo do Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư trưng bày tại Hội Chợ Tết Canh Thìn Năm 2000.


Thảo Luận Về Tâm Linh Và Trí Huệ [Top]

Thanh Hải Vô Thượng Sư
Pháp Môn Quán Âm Và
Người Trung Hoa tại Ðông Nam Á

(Nguyên bản tiếng Trung Hoa)

Sư Phụ (giữa) tham dự buổi hội thảo tại Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, Ðài Bắc (bên trái) . Ông Chu Hong-yuan từ Phân khoa Lịch Sử Hiện Ðại, Học Viện Academia Sinica (bên phải). Giảng sư Ruaan Jy-sheng của Viện Ðại học Quốc Gia Ðài Loan

Vào ngày 6 tháng 5, 2000, tại buổi diễn thuyết lần thứ tư trong loạt tám buổi thảo luận về: "Các Tôn Giáo và Người Trung Hoa trên Khắp Thế Giới", Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được mời lên phát biểu về Pháp Môn Quán Âm và sự phát triển của pháp môn này ở Ðông Nam Á. Buổi diễn thuyết được tổ chức tại Academia Sinica, một Học Viện nghiên cứu khoa học quốc gia danh tiếng của Formosa. Cuộc hội thảo được triệu tập bởi các tổ chức: Chương Trình Nghiên Cứu Ðông Nam Á của Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, Học Viện Tôn Giáo Ðài Loan, Cơ Quan Truyền Thông Trung Ương, Ban Nghiên Cứu Người Trung Hoa Hải Ngoại thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Lịch Sử Hiện Ðại của Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, và Hội Nghiên Cứu Ða Diện Trung Hoa. Nhiều Giảng Sư Ðại Học, các nhà nghiên cứu, giới báo chí chuyên nghiệp, và những nhân vật ưu tú nhất từ khắp mọi nơi đã đến tham dự cuộc hội thảo.

Buổi hội thảo này (được tường trình sau đây) về Pháp Môn Quán Âm cũng đã được Cơ Quan Truyền Thông Trung Ương truyền bá đến công chúng địa phương vào ngày 20 tháng 5. Thêm vào đó, buổi hội thảo đã được Cơ Quan Truyền Thông Trung Ương đăng tải khắp nơi trên thế giới qua mạng lưới điện thư www.cbs.org.tw.

Chủ Toạ (Ông Zhu Hong Yuan của Phân Khoa Lịch Sử Hiện Ðại, Academia Sinica): "Xin chúc quí vị một ngày tốt đẹp, Thanh Hải Vô Thượng Sư, Giảng Sư Ðại Học Juan Chih-sheng của Ðại Học Quốc Gia Ðài Loan, các thân hữu từ các ngành nghiên cứu khoa học và xã hội! Thật hiếm có để Hội Academia Sinica có dịp, như hôm nay, khảo sát toàn diện một đề tài từ cả hai quan điểm tôn giáo và khoa học."

Tôi là người triệu tập hội nghị cho Nhóm Nghiên Cứu Người Trung Hoa Hải Ngoại thuộc Phân khoa Nghiên Cứu Lịch Sử Hiện Ðại của Academia Sinica. Nhóm của chúng tôi đã và đang đảm trách nhiều buổi hội thảo trong những năm qua. Ðầu năm nay, qua sự đề nghị và ủng hộ của Giám Ðốc Lin Mei-jung thuộc Học Viện Tôn Giáo Ðài Loan, chúng tôi đã sát nhập những quan điểm tôn giáo vào việc nghiên cứu về Người Trung Hoa tại Ðông Nam Á. Do đó, chúng tôi đã thỉnh mời một vị lãnh đạo tôn giáo quan trọng đến tham dự buổi hội thảo này tại Academia Sinica hôm nay. Ðây là buổi thứ tư trong loạt tám buổi diễn thuyết. Ba buổi hội thảo trước về Hồi Giáo, Tin Lành, và Nhất Quán Ðạo. Ðề tài hôm nay rất đặc biệt, đó là Pháp Môn Quán Âm, một con đường mới được hướng dẫn và truyền bá bởi Thanh Hải Vô Thượng Sư. Chúng ta hãy tìm hiểu thêm về chiều hướng tâm linh mới mẻ này và tầm ảnh hưởng vĩ đại của nó đối với người Trung Hoa ở khắp nơi trên thế giới.

Chúng tôi hiện đang phối hợp chương trình Trung Hoa với chương trình nghiên cứu Ðông Nam Á, cũng được điều khiển bởi Academia Sinica. Sự phối hợp chương trình này được tiến hành qua sự hướng dẫn của Giảng Sư Ðại Học Hsiao Hsin-Huang. Giảng Sư Hsiao đã biểu lộ sự ủng hộ của ông trong công trình này bằng cách góp phần chi phí cho mỗi buổi diễn thuyết. Dù không nhiều lắm, tuy nhiên nó đã chứng tỏ sự ủng hộ tinh thần của ông cho việc nghiên cứu khoa học này. Chúng tôi sẽ trao tặng phần thù lao này đến Thanh Hải Vô Thượng Sư cho buổi diễn thuyết của Ngài. (Ghi chú: Sư Phụ trao lại món tiền thù lao cho vị trưởng ban tổ chức ngay khi đó). Thêm vào đó, Nhóm Nghiên Cứu Người Trung Hoa Hải Ngoại của chúng tôi hiện tại đang điều khiển việc nghiên cứu về người Trung Hoa tại Ðông Nam Á, đã chuẩn bị một phần thù lao nhỏ cho Giảng Sư Juan, người đảm nhận chức vụ bình luận gia ngày hôm nay, nhưng điều này không quan trọng. Ðiều quan trọng hơn là sự hợp tác đã được chứng tỏ qua buổi tổ chức hôm nay giữa các học viện khác nhau của Academia Sinica đang cùng nhau làm việc trong những đề tài nghiên cứu rộng lớn.

Chúng tôi đặc biệt vui mừng thấy các đại biểu từ hai tổ chức đã đến với chúng ta hôm nay. Chúng ta có Cơ Quan Truyền Thông Trung Ương, được đại diện bởi ông Wen, người ngồi bên trái của quý vị. Ông Wen là Tổng Giám Ðốc của chương trình phát thanh "Cộng Ðồng Người Trung Hoa Hải Ngoại trên Làn Sóng Vi Âm", được phát thanh trên toàn thế giới. Buổi diễn thuyết hôm nay sẽ được cùng lúc phát thanh cho những thính giả hải ngoại. Do đó, ông sẽ thu âm lại toàn diện buổi diễn thuyết hôm nay.

Chúng tôi cũng xin cảm ơn Hội Nghiên Cứu Ða Diện Trung Hoa đã hiện diện với chúng ta hôm nay. Từ khi được thành lập 19 năm về trước, Hội đã phát khởi nhiều thành tích nghiên cứu trong sự ủng hộ của nhiều Giảng Sư Ðại Học của Formosa. Gần hai trăm vị với văn bằng Tiến Sĩ đang làm việc cho Hội để thúc đẩy nhiều chương trình nghiên cứu khác nhau. Vì vậy, chúng tôi rất hân hạnh được Hội Nghiên Cứu Ða Diện Trung Hoa đến tham dự buổi diễn thuyết này. Ngoài ra chúng ta cũng có nhiều nhà lãnh đạo quan trọng khác trong thành phần khán giả hôm nay. Dĩ nhiên, sự tán thán lớn nhất của chúng tôi được dành riêng cho Academia Sinica về việc Viện đã chú tâm đến những loạt diễn thuyết, đặc biệt là buổi diễn thuyết lần thứ tư này được thuyết trình bởi Thanh Hải Vô Thượng Sư. Nhiều bản tường trình trên báo chí nào đó đã đưa ra những điều lo âu, và có lẽ có một vài hiểu lầm nho nhỏ. Giảng Sư Yang Kuo-Shu, Phó Viện Trưởng Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, cũng như nhiều nhân viên hành chánh quan trọng khác của Viện Sinica đã gọi tôi vài lần để thảo luận về vấn đề này. Tôi muốn diễn đạt lòng biết ơn lớn lao của tôi đối với họ nơi đây trong việc khắc phục những trở ngại và chấp nhận hành động trong chiều hướng này.

Vì buổi hội thảo này căn bản là một sự việc thuộc về khoa học, đầu tiên phải đòi hỏi rằng chúng ta sẽ duy trì nó như một cuộc đàm luận trong lãnh vực khoa học. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã du lịch qua nhiều nơi, và tôi xin mời Ngài bắt đầu buổi diễn thuyết của Ngài bằng cách thảo luận về những cộng đồng người Trung Hoa tại Ðông Nam Á. Kế đến, Ngài có thể nói thêm về sự phát triển của tổ chức của Ngài, cũng như là những phát triển trong quá khứ và hiện tại. Dĩ nhiên, điều không thể tránh khỏi là những giáo lý về tâm linh của Ngài sẽ được đề cập đến, nhưng chúng ta hy vọng rằng Thiền Sư sẽ tập trung buổi nói chuyện của Ngài vào người Trung Hoa tại Ðông Nam Á. Hay nói một cách khác, chúng tôi hy vọng rằng Ngài sẽ giữ không bàn đến những học thuyết hoặc những hoạt động trong việc truyền bá Chân Lý, những khó khăn liên hệ và những viễn ảnh tương lai của những vùng nằm bên ngoài Ðông Nam Á, và sẽ dành những đề tài này cho một thời gian trong tương lai.

Buổi diễn thuyết hôm nay được chia làm hai phần, mỗi phần kéo dài khoảng một giờ đồng hồ. Tôi nghĩ rằng đây là một cơ hội quý báu, một cơ hội mà không ai trong quý vị đã từng có được ở bất cứ đâu trên thế giới, ngay cả tại Vận Ðộng Trường Thị Xã Ðào Viên (nơi thuyết pháp của Sư Phụ ngày hôm qua). Do đó, xin vui lòng nói ngắn gọn và giữ cuộc thảo luận của quý vị trong phạm vi nghiên cứu khoa học về người Trung Hoa ở Ðông Nam Á. Chúng tôi hy vọng sẽ thu nhặt được những tin tức xác đáng về đề tài này từ quí vị như là các nhân chứng của chúng tôi. Thời giờ rất là quý báu.

Giờ đây tôi đã hoàn tất những lời giới thiệu căn bản, chúng ta hãy trân trọng kính mời Thanh Hải Vô Thượng Sư (được viết tắt là THVTS từ đây) phát biểu về Pháp Môn Quán Âm và người Trung Hoa ở Ðông Nam Á.

THVTS: Cám ơn quý vị! Cám ơn quý vị rất nhiều! Vì tôi đến đây theo lời mời của quý vị, nên tôi sẽ tiến hành ngay tức khắc chứ không quá lịch sự, để chúng ta không mất thời giờ. Cám ơn lòng tin tưởng của quý vị và xin cám ơn đã cho tôi cái danh dự này! Tôi luôn luôn có cảm giác rằng Formosa là quê hương của tôi, cho nên lần trở lại này của tôi không có vẻ như là một việc quan trọng. Ðã lâu tôi không có dịp về thăm Formosa vì quá bận rộn ở hải ngoại.

Ngày hôm qua tôi có một buổi thuyết giảng, và có lẽ quý vị đã có mặt ở đó, cho nên có một vài điều để tham khảo. Tuy nhiên, vì tôi đã hứa là sẽ có một buổi nói chuyện đặc biệt cho ngày hôm nay, nên tôi sẽ tuân theo những điều lệ được vị chủ toạ đặt ra và hạn chế buổi nói chuyện của tôi trong đề tài của ngày hôm nay. Nếu tôi có lỡ lời, xin quý vị làm ơn sửa chữa dùm.

Có lẽ hầu hết quý vị đã biết về sự hiện diện của chúng tôi tại đây, bởi vì chúng tôi đã thật sự tạo ra một sự kích động ở Formosa. Tôi ý nói nhà nước và giới báo chí đã giúp chúng tôi trở nên rất nổi danh. [Khán giả cười] Mặc dù có sự hiểu lầm, tuy nhiên những điều này một phần là sự an bài của Thượng Ðế. Ngài làm việc theo ý Ngài. Ðôi khi Ngài để cho dân chúng khen ngợi chúng ta thật nhiều để cho chúng ta nổi danh; và những lần khác Ngài để họ hiểu lầm chúng ta, và điều này cũng làm cho chúng ta nổi danh. Cách thứ hai không thú vị lắm, và chúng ta cũng không thích nó cho lắm. Tuy nhiên, Giê-Su Ki-tô, thí dụ, đã bị nhiều người hiểu lầm và phải chịu biết bao sự hành hạ khổ sở, ngày nay Ngài đã được tôn thờ khắp thế giới. Ðức Phật Thích Ca đã bị vu oan và cũng bị nhiều người hiểu lầm trong cuộc đời của Ngài; Tuy nhiên, ngày nay cả thế giới tôn thờ Ngài. Nếu hai vị Minh Sư vĩ đại này đã trải qua những thống khổ và sự buộc tội bất công, thì sự chịu đựng nhỏ nhoi như thế này cũng chẳng là gì đối với những người tầm thường như chúng ta. Nó rửa sạch hết nghiệp chướng của chúng ta. Trong nhóm của chúng tôi, chúng tôi biết ơn những ai đã sỉ nhục hay khiển trách chúng tôi, bởi vì họ rửa sạch nghiệp chướng cho chúng tôi. Ðiều không thể tránh được là chúng ta sẽ, vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời, làm một điều gì không vừa ý đối với tất cả mọi người, và điều này tạo nên sự hiểu lầm trong thiên hạ. Khi người ta nói xấu chúng ta, điều này có nghĩa là nghiệp chướng của chúng ta đã được rửa sạch; chúng ta trở nên thịnh vượng hơn, và chúng ta sẽ được tưởng thưởng sau khi vãng sinh [Khán giả cười].

Lúc Ban Ðầu

Giờ tôi sẽ nói về những sinh hoạt phát triển của chúng tôi. Mặc dầu chúng tôi có những trung tâm liên lạc trên nhiều quốc gia và nơi chốn trên thế giới, chúng tôi có nhiều sư huynh và sư tỷ ở Ðông Nam Á hơn là ở bất cứ những nơi nào khác. Khi nói đến "sư huynh và sư tỷ", chúng tôi muốn đề cập đến những đồng tu của chúng tôi. Ðó là cách chúng tôi gọi nhau bởi vì chúng tôi cùng thực hành chung một pháp môn.

Ðầu tiên, tôi không quen biết bất cứ ai tại Formosa, nhưng giờ đây mọi người đối xử với tôi như là một người Formosa. Tôi thật rất hân hạnh! Ngày hôm qua, tôi có cảm giác như là mình đã trở về nhà. Khi ở hải ngoại, người ta giới thiệu tôi như là một người từ Formosa. Khi chúng tôi cứu trợ cho nhiều nơi, họ nói về chúng tôi như là một nhóm người của Formosa. Do đó, tôi sẽ tiếp tục lưu lại ở đây như một người Formosa [Khán giả cười]. Dù là nhục thể tôi không hiện diện tại đây, trái tim và linh hồn tôi sẽ ở đây. Ðây là một điều mà chúng ta không thể thay đổi được; có lẽ kiếp trước tôi đã từng sanh ra tại đây. Một số người đã, trong thiền định, thấy tôi ăn rau lang ở Formosa trong một kiếp trước [Khán giả cười]. Chúng ta chia xẻ một thiện duyên sâu dày cùng với nhau.

Mặc dầu tôi không hề quen biết một ai khi vừa mới đặt chân đến đây trong nhiều năm trước, tôi rất cảm động bởi lòng hiếu khách nồng hậu mà người Formosa đã nhanh chóng dành cho tôi. Tôi được thụ phong ở đây nên tôi theo tập quán cổ truyền. Tôi tự kỷ và tôn trọng luật lệ. Ðiều này giống như học lấy bằng lái xe và theo đúng những lời của người thầy dạy lái xe vậy. Có một vị giám thị ngồi cạnh khi chúng ta lái xe một cách chặt chẽ và rất cứng rắn theo đúng như huấn thị của ông. Một khi biết lái xe rồi thì chúng ta không còn cần tới người thầy dạy lái nữa; chúng ta đã trở nên quen thuộc với luật lệ cho nên chúng ta có thể lái xe một cách êm thắm và tự nhiên.

Những người tại đây lo lắng cho tôi rất tốt đẹp khi tôi mới đến. Các ngôi chùa nghênh đón và đối xử với tôi rất tốt. Họ cho tiền khi tôi cần đến. Lúc đó tôi không có một xu dính túi, nhưng hiện tại thì tôi kiếm được một ít tiền. Có lần khi tôi đang bế quan trong một ngôi chùa, lúc nửa đêm, có khoảng một tá người đến gõ cửa. Tôi ngơ ngác khi thấy họ đến vào giờ đó. Họ bước vào bên trong rồi tiết lộ cho tôi biết là Quán Thế Âm Bồ Tát đã bảo họ đi tìm tôi để học hỏi điều gì đó. Lúc đó tôi chỉ quen biết một ít người, và tôi đang bế quan. Tôi ngạc nhiên là những người đó biết về mình, nhưng họ bảo đó là Quán Thế Âm Bồ Tát đã mách bảo cho họ biết. Tôi chưa sẵn sàng để dạy cho mọi người, nhưng bắt đầu làm như vậy vì tấm lòng thành cao độ của họ.

Tôi không phải là dân Formosa nên sau đó tôi đến Hoa Kỳ, nơi tôi lưu lại trên một năm. Một lần nữa, một số người đến tìm tôi, nói rằng Thượng Ðế đã bảo họ đến tìm tôi tại một ngôi chùa nào đó. Kết quả là tôi cũng tạo được mối nhân duyên với người Hoa Kỳ. Ban đầu, tôi chỉ chia xẻ mối nhân duyên với người Trung Hoa, nhưng phải rời khỏi Formosa vì chiếu khán đã hết hạn, từ đó tôi đến Hoa Kỳ. Tôi đã không thể, và hiện tại vẫn không thể ở Formosa thường trực được.

Sau khi tôi tạo được mối nhân duyên với người Hoa Kỳ thì người Formosa yêu cầu tôi trở lại vì họ thật tình thương mến tôi. Tôi đồng ý và ở lại đây một thời gian dài, đó là lý do tại sao nhóm chúng tôi có thể tăng trưởng và phát triển ở Formosa. Ðây là một nhân duyên tự nhiên. Tôi bắt đầu đi lại giữa Formosa và Hoa Kỳ, và về sau cũng du hành đến các nước khác.

Tôi có nhân duyên với người Trung Hoa. Ở Ðông Nam Á, nơi nào có người Trung Hoa cư ngụ thì tin tức được truyền đi bằng miệng. Lúc đó chúng tôi chưa phát hành bất cứ một tờ báo hay băng thâu thanh, thâu hình nào cả. Tôi được mời đến Tân Gia Ba, Thái Lan, Nam Dương, v.v... Trước khi chúng tôi phát triển qua bên kia đại dương đến Hoa Kỳ thì nhóm chúng tôi đa số đều tập trung ở Ðông Nam Á, đặc biệt là những nơi chia xẻ mối liên hệ với Formosa và người Trung Hoa. Ở Tân Gia Ba, Mã Lai Ał, và Thái Lan mà chúng tôi vừa mới đề cập đến, các hội viên đa số đều là người Trung Hoa. Dân chúng ở đó đa số đều là con cháu người Trung Hoa và có thể nói được tiếng Quan Thoại hay các thổ ngữ Trung Hoa khác như Phúc Kiến hay Hakka. Ngoài ra, có một thổ ngữ ở Thái Lan nghe giống hệt như một thổ ngữ Trung Hoa. Người ta khám phá ra là tiếng Thái ở miền Bắc giống hệt như tiếng ở một vùng nào đó trong Tỉnh Vân Nam của Trung Hoa. Hai giống người này có thể nói chuyện được với nhau. Ðiều này chứng minh được rằng người Trung Hoa chúng ta đã có lần sống ở Thái Lan. Và người Tân Gia Ba cũng nói tiếng Trung Hoa.

Khi lần đầu tiên tôi đến Formosa, tiếng Trung Hoa độc nhất mà tôi có thể nói được là "Mẹ của ông/bà mạnh giỏi không?" (nị má hào) [Ðây là một lỗi lầm mà người ngoại quốc thường hay mắc phải khi họ nói "Ông mạnh khỏe không?" (nị hào ma) bằng chữ Trung Hoa theo thứ tự không đúng.] [Khán giả cười] Tôi thật sự không hiểu biết ngôn ngữ này. Khi các người tu hành lâu trong các chùa niệm danh "A Di Ðà" (A-Mi-Tổ-Phổ), nó nghe giống như "A Di-đậu hũ" (A-Mi-To-Fu) đối với tôi. Tôi chưng hửng cứ nghe họ lập đi lập lại chữ "đậu hủ" (Tofu) cả ngày.

Tuy nhiên, tôi nắm vững được ngôn ngữ này một cách nhanh chóng vì tôi rất thích người Trung Hoa. Họ đối đãi với tôi rất tốt đẹp như là chị em vậy. Có lẽ là do nhân duyên tạo ra ở các kiếp trước. Chúng tôi có thể câu thông một cách hoàn hảo cho dù trở ngại về ngôn ngữ. Nhưng tôi bắt buộc phải học một số tiếng Trung Hoa khi lưu lại Formosa, và tôi vẫn còn nhớ một số câu. Tôi không hoàn toàn quên trong thời gian ở ngoại quốc. Tuy nhiên, có khi tôi bị cứng lưỡi vì đã lâu không nói tiếng Trung Hoa. Tôi thông thạo tiếng Anh hơn cả; thậm chí ngay cả nói tiếng mẹ đẻ, tiếng Âu Lạc, tôi cũng còn bị khó khăn nữa. Lần cuối cùng tôi nói tiếng Âu Lạc đến giờ đã lâu lắm rồi nên tôi hầu như quên nó.

Sự Phát Triển ở Ðông Nam Á

Khi nhóm chúng tôi tiếp tục phát triển, về sau các Trung Tâm được lập ra khắp nơi trên Formosa, và một số người tình nguyện làm liên lạc viên. Theo lối này, chúng tôi đặt ra nhiều nền tảng và phát triển ra các nước khác, nhất là ở Ðông Nam Á. Vì vị chủ tọa yêu cầu tôi chỉ nói về Ðông Nam Á nên tôi chỉ nói như vậy và không nói đến những vùng khác [Khán giả cười]. Chúng tôi có vô số những điểm liên lạc ở Ðông Nam Á và các nước á Châu khác.

Khi càng nhiều người biết về chúng tôi và khi số lượng Trung Tâm liên lạc của chúng tôi gia tăng, một số đông người yêu cầu được gặp mặt tôi. Vì nhục thân tôi không thể nào có mặt khắp mọi nơi nên chúng tôi bắt đầu sản xuất băng thâu âm và thâu hình để có thể mở rộng đến mọi người. Sau đó chúng tôi in sách biếu cho những ai không thể đến gặp chúng tôi được. Về sau chúng tôi cũng in ra cuốn Bản Tin. Ðó là cách mà nhóm chúng tôi phát triển theo một cách tự nhiên.

Các Trung Tâm liên lạc của chúng tôi không có gì đặc biệt hay đồ sộ theo một tiêu chuẩn nào cả. Ða số tọa lạc trong các ngôi nhà bình thường; một số là kiến trúc tạm thời được xây bằng các miếng tôn mỏng. Chúng trông chẳng hùng vĩ chút nào cả. Chúng tôi chưa xây cất hay ít khi nghĩ đến việc xây cất chùa chiền to lớn, đồ sộ. Tuy nhiên, khi các đồng tu thấy các Trung Tâm liên lạc quá tồi tàn thì họ cố làm những gì có thể làm được để cho chúng trông đẹp mắt hơn. Chúng tôi từng sống trong lều; Tôi vẫn còn một cái lều cắm trên núi Dương Minh Sơn. Khi tôi trở lại Formosa và nếu như có thì giờ, tôi sẽ lên đó ở một thời gian. Chúng tôi không có kế hoạch xây cất gì cho mình cả. Nhưng, đôi khi chúng được xây dựng lên một cách tự nhiên.

Chủ Tọa: Vô Thượng Sư, cho tôi hỏi Ngài một câu hỏi. Tất cả chúng tôi đều có một bộ các dữ kiện do Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã sửa soạn sẵn. Trong khi nghe Ngài nói chuyện, chúng ta hãy lật qua trang 20 nói về "Các hoạt động ở Mã Lai Ał". Xin kể cho chúng tôi vài điều về Mã Lai Ał, nơi mà đa số dân chúng theo Hồi Giáo. Ngài thành công như thế nào trong việc quảng bá các hoạt động của Ngài, trong việc chia xẻ Pháp Môn của Ngài tại đó, trong khi nhiều người khác không thể làm được? Ngài có thể vui lòng nói thêm về chuyện đó không?

THVTS: Hầu hết người Trung Hoa do bản tính của họ đều theo truyền thống tập tục. Pháp Môn Quán Âm không phân biệt giữa các tôn giáo, cũng không bắt buộc người ta phải tháo bỏ ra miếng voan che mặt hay thờ cúng tại chùa chiền. Chúng tôi đã giải thích rằng Pháp Môn Quán Âm là một con đường dẫn dắt chúng ta đến Bản Tánh Thượng Ðế của mình và Thiên Quốc bên trong, mà không cần biết quý vị theo tôn giáo nào.

Các đồng tu chúng tôi từ các tôn giáo khác nhau ngồi thiền chung với nhau trong khi mặc các y phục khác nhau. Người Hồi Giáo thì mặc y phục Hồi Giáo của họ; các sư sãi Phật Giáo đôi khi mặc áo cà sa của họ. Thậm chí các vị sư sãi từ các nước khác nhau cũng ăn mặc khác nhau. Một số thuộc phái Hinayana, trong khi một số khác thuộc Mahayana; có người từ Trung Hoa đến, có người từ Ðại Hàn đến. Họ ăn mặc khác nhau và quen ăn mặc nhiều kiểu quần áo khác nhau. Họ đến gặp nhau để ngồi thiền mà không hề bàn luận về các vấn đề tôn giáo nào cả.

Khi họ đạt được sự khai ngộ bản tánh, họ trở thành những tín đồ Hồi Giáo, Phật Giáo, hay Thiên Chúa Giáo tốt đẹp hơn. Họ tràn đầy tình thương và niềm sung sướng cho nên hình thức cổ truyền của họ không ảnh hưởng đến chúng tôi. Lẽ dĩ nhiên, như ngài chủ tọa đã biết, Mã Lai Ał và một số các nước Hồi Giáo nghiêm ngặt hơn quốc gia Formosa, đã ban hành nhiều sự cấm đoán đối với mọi người, nhưng chính phủ họ không can dự vào chuyện của chúng tôi. Họ rất cấp tiến. Không có vấn đề gì nếu người Hồi giáo khởi sự gia nhập vào với chúng tôi. Chúng tôi không đến gõ cửa họ hay làm gì khác. Họ tự mình đến. Thông điệp của chúng tôi nói rất rõ là "Người Hồi Giáo không được khuyến khích đến." [Khán giả cười]

Chủ Tọa: Tất cả chúng ta đều biết là có phong trào chống người Trung Hoa ở Nam Dương.

THVTS: Ðó là chuyện trong quá khứ.

Chủ Tọa: Ðúng! Nhưng Ngài lại được phép thuyết pháp tại đó vào năm 1992. Ðiều này ghi tại trang 21 của các tài liệu do Hội Quốc Tế THVTS cung cấp. Vào tháng Ba 1992, chính phủ Nam Dương cho phép Thanh Hải Vô Thượng Sư thuyết pháp, được tổ chức theo thể thức vấn đáp, ở quốc gia họ. Ngài có thể kể cho chúng tôi biết về điều đó được không? Vào năm 1992, vì phong trào chống đối người Trung Hoa lên cao, nên văn chương Trung Hoa bị cấm đoán trong quốc gia họ.

THVTS: Ðiều đó đúng.

Chủ Tọa: Tôi cũng đến viếng thăm Nam Dương vào thời gian đó, nhưng sách vở người Trung Hoa đều bị cấm. Làm thế nào mà Ngài có thể giảng pháp ở đó được?

THVTS: Tôi giảng bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, cám ơn ngài đã nhắc tôi. Tôi hoàn toàn quên hết những điều ngài vừa mới đề cập. Hầu như đó là một chuyện xa xưa đối với tôi. (Sư Phụ cười)

Chủ Tọa: Ðúng! Nhưng chúng tôi các hội viên nghiên cưú của Phân Khoa Lịch Sử Hiện Ðại rất ưa thích nghe những chuyện này. Xin Ngài có thể nói thêm cho chúng tôi không ạ?

THVTS: Ðược rồi, nhưng chuyện đã lâu lắm rồi. Khi thuyết pháp xong thì tôi quên hết. Hãy thử hỏi tôi những gì tôi mới nói ngày hôm qua, và tôi không thể nhớ một điều gì cả. Ðể tôi xem lại. Có thể tôi sẽ nhớ lại được một vài điều.

Chủ Tọa: Chúng ta hãy lắng nghe Vô Thượng Sư.

THVTS: Những người Trung Hoa biệt xứ rất đau khổ vào thời đó. Tôi đã khóc khi nghe những chuyện bi thương của họ. Tuy nhiên, việc làm tốt sẽ được đền đáp lại bằng điều tốt. Khi thời gian trôi qua, những sự an bài sẽ được tiết lộ. Quý vị có thể thấy là người Trung Hoa ở đó ngày nay sung sướng hơn nhiều. Thượng Ðế có sự an bài riêng của Ngài. Khi người ta hiểu lầm hoặc ngược đãi chúng ta, chúng ta nên học hỏi tấm gương chiụ đựng và lòng kham nhẫn của người Trung Hoa, rồi chúng ta sẽ nhận biết được là Thượng Ðế có lo lắng tốt đẹp cho mình. Sớm muộn gì thì Ngài cũng sẽ sửa đổi lại cho chúng ta.

Vào thời đó, người Trung Hoa không thể nào học tiếng Trung Hoa. Thậm chí họ cũng không thể nói tiếng mẹ đẻ của mình ở nơi công cộng được; họ phải nói tiếng Anh hay tiếng Nam Dương. Tuy nhiên, họ có thể nói tiếng Trung Hoa tại nhà. Khi một trong những đồng tu khá giả mời tôi đến nhà, tất cả chúng tôi đều chen chúc vào trong nhà ông. Nhà rộng lớn và có nhiều phòng; chúng tôi ở trong một căn phòng lớn như căn phòng này. Tại đó, chúng tôi có thể nói tiếng Trung Hoa. Tuy nhiên tôi thuyết pháp bằng tiếng Anh. Tôi không thể nào vi phạm luật pháp được. Vì tôi được phép vào Nam Dương, nên tôi phải hợp tác và mọi chuyện tiến hành một cách êm thắm.

Chủ Tọa: Cho tôi hỏi Ngài về chuyến đi đến Thái Lan. Xin vui lòng xem lại trang 21. Vào năm 1994, Ngài gặp Công Chúa Sirindhorn tại Hoàng Cung Thái Lan. Ngài có thể kể lại cho chúng tôi nghe được không?

THVTS: Ðó là sau buổi thuyết pháp của chúng tôi. Gia đình hoàng tộc biết được và hình như đã liên lạc với các đồng tu chúng tôi về chuyện đó. Tôi không biết nhiều về các chi tiết hậu trường. Tôi đến đó theo lời mời của họ. Trong hầu hết các trường hợp, những đồng tu sắp xếp mọi việc cho tôi. Khi họ thông báo cho tôi biết về lời mời mà họ nhận được với danh nghĩa là đại diện cho tôi, tôi nhận lời nếu thời giờ cho phép. Hình như là Thái Lan vừa bị thiệt hại do thiên tai gì đó nên chúng tôi có đóng góp một số tiền và vật liệu cứu trợ.

Chủ Tọa: Mền và áo len.

THVTS: Ðúng thế! Chúng tôi đã làm như vậy nhiều lần, không phải là chỉ có lần đó mà thôi. Có lẽ gia đình hoàng tộc biết về sự đóng góp của chúng tôi và muốn gặp mặt. Ðó thật là một vinh dự. Chúng tôi tặng Công Chúa một vài món quà. Nhưng khi họ sắp xếp cho lần thăm viếng thứ nhì, tôi nói xin lỗi vì không đủ thì giờ. Tôi bận rộn với những chuyện khác. Những người trong gia đình hoàng tộc Thái rất khiêm nhường và lịch sự. Vị Công Chúa rất tinh khiết; quý vị chắc chắn sẽ thích bà khi gặp mặt bà. Bà không hành động một cách khoa trương. Bà làm bất kỳ điều gì cần phải làm và không trang điểm. Dân chúng rất thương mến bà, và tôi cũng vậy. Nhưng tôi không có thì giờ sau đó.

Chủ Tọa: Xin vui lòng mở sang trang 22 về các hoạt động tại Thái Lan vào năm 1999.

THVTS: Ðó là ở Thái Lan. Chúng tôi có nhiều sinh hoạt tại đó.

Chủ Tọa: Ngài có rất nhiều hoạt động ở Thái Lan. Tài liệu ở đây trình bày về Ðại Hội Người Ăn Chay Trên Thế Giới tại Chiang Mai. Ngài có thể cho chúng tôi biết về các Trung Tâm của Ngài ở Thái Lan không?

THVTS: Vâng, chúng tôi có nhiều.

Chủ Tọa: Ngài có các Trung Tâm ở Chiang Mai, Chiang Rai, Vọng Các, và các nơi khác không?

THVTS: Có, chúng tôi có các Trung Tâm ở Hatyai, Khon Kaen, và Vọng Các, nhưng tôi không thể nào nhớ hết tên được. Các đồng tu nhớ rõ hơn tôi. Tôi chỉ du hành khắp nơi thôi; Tôi không nhớ được nhiều. Nhiều lúc tôi làm việc nhanh quá đến nỗi không còn nhớ giờ giấc. Tôi phải gọi các đồng tu của tôi để hỏi thăm ngày tháng, giờ nào phải làm gì, và hôm nay chúng ta đi Nhật Bản hay ở lại Formosa. Nhiều lúc tôi rất bận rộn trong lúc phải tự mình xếp đồ vào vali. Du hành một mình có thể rất mệt mỏi, nhưng tôi sẽ gây quá nhiều sự chú ý nếu đi một nhóm đông. Tôi thích đi một cách yên lặng hơn, nhưng tôi lại có rất nhiều việc để lo, nên nhiều lúc tôi thành hay quên. Tuy nhiên, tôi biết là chúng tôi có các Trung Tâm tại Khon Kaen, Hatyai, Chiang Mai và Vọng Các; Tôi không nhớ những nơi khác. Chúng tôi có đông đồng tu ở Thái Lan. Có người nói tiếng Thái, có người nói tiếng Trung Hoa. Họ thông dịch cũng khá. Khi tôi vừa mới đến Thái Lan lần đầu, một số người Trung Hoa không nói được tiếng riêng của họ, nhưng chẳng bao lâu họ đã học nói được sau khi nghe các cuốn băng thâu âm của tôi. Tôi nói đùa rằng sẽ tính tiền học phí! Người ở đó rất dễ thương và quảng đại; họ rất kính trọng những người tu hành. Một khi họ thấy quý vị là người tu hành, họ sẽ quỳ gối trước quý vị và cúng dường bông hoa cho quý vị. Họ là những người rất khiêm nhường.

Chủ Tọa: Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục đến Tân Gia Ba. Ngài đến đó ngay từ đầu năm 1991. Hình như có vài người tỵ nạn Âu Lạc ở Tân Gia Ba vào lúc đó.

THVTS: Vài trăm người.

Chủ Tọa: Tình hình vào tháng Tư 1991 như thế nào?

THVTS: Tôi đi thăm những người tỵ nạn và mua cho họ một ít đồ trong khi tôi ở đó, nhưng mục đích chính của cuộc thăm viếng của tôi là thuyết pháp. Có rất nhiều người đến dự và hội trường thuyết pháp đầy nghẹt cho đến lúc không còn chỗ để đi tới đi lui. Nhiều người phải ngồi trong hành lang hay trên các cầu thang. Ngày hôm qua cũng tương tự như vậy. Thậm chí chúng tôi còn có nhiều người đến tham dự hơn nữa và thật vô cùng đông đảo. (Tại đây Sư Phụ đề cập đến buổi thuyết pháp của Ngài tại Vận Ðộng Trường Quận Ðào Viên thuộc quốc gia Formosa vào ngày 5 tháng 5). Mọi chuyện ở Tân Gia Ba tiến hành rất êm đẹp. Chính phủ Tân Gia Ba rất cởi mở, còn dân chúng địa phương là những người có trình độ tâm linh cao nên họ lập tức chấp nhận chúng tôi. Quốc gia của họ rất sạch sẽ, còn dân chúng thì tôn trọng luật pháp. Nếu bị bắt gặp nhổ kẹo cao su trên đường, quý vị sẽ bị phạt $500 mỹ kim. Người ở đó có khả năng duy trì việc tu hành đều đặn; một khi đã bắt đầu thì họ sẽ tiếp tục. Chỉ cần nói sơ thì họ hiểu ngay lập tức. Dân chúng Tân Gia Ba phát triển trí huệ của họ thật giỏi. Và tôi rất vui mừng về chuyện đó!

Chủ Tọa: Pháp môn quan trọng nhất mà họ hiểu biết đến là gì? Ðâu là điểm cốt yếu?

THVTS: Tôi chỉ nói chuyện rất bình dân với họ [Khán giả cười].

Chủ Tọa: Nhưng khi tôi nói chuyện bình dân thì lại không có tác dụng gì!

THVTS: Họ khá thông minh hơn! [Khán giả cười]

Chủ Tọa: Ðược rồi, chúng ta hãy nói về Phi Luật Tân. Vào tháng Tư 1991, Ngài ở Phi Luật Tân để giúp đỡ những người Âu Lạc tầm trú. Tại sao Ngài lại dùng danh từ "Âu Lạc" thay vì "Việt Nam"? Ðây là câu hỏi đầu tiên. Câu hỏi thứ nhì là, tại sao Manila trao tặng cho Ngài chiếc Chìa Khóa Thành Phố và tuyên dương Ngài là công dân danh dự?

THVTS: Tôi chẳng biết tại sao cả. Họ làm như vậy ngay khi tôi vừa mới đến, vì có người nói trước với họ tôi là ai và lý do vì sao tôi đến đó. Thị trưởng Manila mời và trao cho chúng tôi chiếc chìa khóa. Tôi nghĩ chiếc chìa khóa trông thật xinh đẹp nên giữ nó làm kỷ niệm, nhưng nó không thể mở được cánh cửa nào cả [Khán giả cười]. Tôi cảm thấy vinh dự được nhận chiếc chìa khóa lần đầu tiên trong đời. Lúc đó tôi không có nhà; Tôi sống trong một túp lều nhưng lại có chiếc chìa khóa. Tôi gói nó lại rất đẹp đẽ trong một cái túi. Về sau, tôi không còn cảm giác hồi hộp nữa khi nhận được thêm nhiều chìa khóa. Tôi để chúng nằm cạnh nhau chỉ để ngắm nghiá . Tôi nhận được một số chìa khóa tại Hoa Kỳ. Tôi có thể cho quý vị một chìa nếu quý vị muốn. [Khán giả cười]

Chủ Tọa: Nó chỉ giá trị nếu chính phủ địa phương tặng chìa khóa cho tôi. Còn lấy từ Ngài, có lẽ cũng được!

THVTS: Chúng ta có thể cùng chia xẻ.

Chủ Tọa: Bây giờ, hãy tiếp tục đến phần nói về những người tỵ nạn Âu Lạc đó. Xin vui lòng nói thêm về chuyện này, vì Ngài cũng từ Âu Lạc. Chúng ta sẽ thảo luận về Âu Lạc trong nhiều chi tiết hơn về sau.

THVTS: Vào lúc đó, tôi đang thương lượng cho người tỵ nạn Âu Lạc với chính phủ Phi Luật Tân để giúp đỡ và cung cấp chỗ trú ngụ cho họ. Và quốc gia đó sau cùng đã cống hiến nơi cư trú cho 5 ngàn người tỵ nạn vẫn còn ở Phi Luật Tân. Dân chúng địa phương rất có lòng tốt và quảng đại, mặc dầu nước của họ nghèo. Do đó, tôi đã đến thăm viếng họ hai ngày trước để bày tỏ lòng biết ơn của chúng tôi.

"Âu Lạc" là danh xưng thời xưa của Việt Nam. Nó có nghĩa là "Hạnh Phúc". Tôi dùng tên này vì cảm thấy nó sẽ mang điều may mắn đến cho người dân. Tôi thích những cái tên nào nghe tốt đẹp. Là một nhà vẽ kiểu nên tôi thích những gì xinh đẹp, bao gồm cả các danh xưng. Ðó là lý do tại sao tôi thích dùng tên "Formosa" thay vì "Ðài Loan". Quý vị có thể thấy chúng tôi dùng tên này trong các tờ tài liệu quý vị cầm trong tay. Chúng tôi gọi hòn đảo này là Formosa, không phải Ðài Loan, mặc dầu có khi chúng tôi quên.

Chủ Tọa: Âu Lạc bị lụt lội và 2 triệu người bị ảnh hưởng. Ngài đã đóng góp cứu trợ cho họ bao nhiêu tiền? Tiền đó từ đâu ra? Vấn đề nhu yếu phẩm căn bản này rất quan trọng, nên tôi phải nói thẳng.

THVTS: Tôi không nhớ rõ hết vì chuyện này đã lâu rồi. Không phải vì tôi không muốn bàn về chuyện này, nhưng là vì tôi đã quên là có bao nhiêu quốc gia mà chúng tôi đã cứu trợ và bao nhiêu số lượng vật liệu cứu trợ chúng tôi cho. Có ai nhớ số tiền bao nhiêu không? Tôi thì không nhớ nổi.

Chủ Tọa: Ý tôi muốn nói là Ngài có quyên tiền để đóng góp cứu trợ không?

THVTS: Quý vị hỏi số tiền từ đâu đến phải không?

Chủ Tọa: Ðúng vậy.

THVTS: Ô'! Chúng tôi lấy tiền từ nhà băng ra [Khán giả cười]. Chúng tôi phải làm như vậy vì giữ số tiền nhiều như thế trong nhà rất là nguy hiểm [Khán giả cười]. Chúng tôi làm việc để kiếm hầu hết các số tiền này. Tôi vẽ kiểu thời trang và những thứ khác. Lúc đó tôi vẽ nhiều kiểu quần áo. Hiện thời tôi vẽ kiểu quần áo đắt tiền hơn. Tôi cũng vẽ kiểu một vài thứ phụ khác vào thời gian đó, hoặc chúng tôi đan mũ nón hay những thứ khác để bán lấy tiền. Là người tu hành, chúng tôi chỉ ăn mỗi ngày có một hay hai bữa cơm chay. Cuộc sống rất đơn giản. Chúng tôi sống trong lều và không có nhiều quần áo, chỉ có hai hay ba bộ. Vì vậy, chúng tôi tiết kiệm hầu hết số tiền kiếm được rồi dùng nó để giúp người tỵ nạn. Chúng tôi cũng có các đồng tu tình nguyện đi phân phát đồ cứu trợ. Chúng tôi không nhận tiền cúng dường trực tiếp từ các đồng tu. Nếu họ muốn đóng góp thì họ gởi thẳng đến các nước bị thiệt hại. Các đồng tu Formosa chúng tôi đã cung cấp sự đóng góp tài chánh cho Phi Luật Tân và nhiều nơi ở các quốc gia khác. Và bây giờ Formosa nổi tiếng về việc cứu trợ thiên tai [Khán giả cười]. Chúng tôi được xem là một nhóm người Formosa trên khắp thế giới.

Chủ Tọa: Có lẽ Hội Quốc Tế THVTS có thể cho chúng tôi biết nhiều hơn về cách làm sao tiền được quyên và được dùng như thế nào. Ðây là một câu hỏi rất là quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta có thể nêu vấn đề này ra khi bắt đầu phần thảo luận tổng quát, vì một số người lãnh đạo quan trọng của Hội có thể sẽ có mặt. Chúng ta hãy tiếp tục vì thì giờ quý báu. Bây giờ chúng ta vẫn còn nước Kam-pu-chia để bàn. Ngài có thể kể cho chúng tôi biết về Kam-pu-chia không ạ?

THVTS: Cả nước biết về chuyện đó. Những sự đóng góp đến từ cả nước, không phải chỉ có mình đoàn thể chúng tôi. Mỗi người đóng góp một ít và chúng tôi gởi bất kỳ những gì thâu thập được đến Kam-pu-chia. Chúng tôi gởi bao nhiêu, tôi đã quên mất. Thật ra, tôi quên rất nhanh. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng rất nhiều, khoảng 6 ngàn tấn gạo; quý vị có thể tìm các tài liệu đó trên báo. Chúng tôi gởi vật liệu cứu trợ đến Kam-pu-chia vì xứ đó bị thiếu thốn từ lâu. Dân chúng bị đói và mùa màng không phát triển. Hiện giờ họ không còn bị vấn đề gì nữa. Họ trữ lại một số lúa chúng tôi đóng góp để trồng trọt. Về sau, Thủ Tướng của họ báo cáo lại với tôi: "Thiền Sư, chúng tôi đã trồng nhiều ruộng lúa từ số lúa mà Ngài đóng góp, và năng xuất luôn luôn gia tăng." Sự giúp đỡ mà chúng tôi cung ứng không những chỉ phục vụ cho thời điểm đó mà còn cho các thế hệ tương lai nữa. Trẻ em và người lớn bây giờ đã có đầy đủ cơm ăn áo mặc. Họ rất biết ơn người Formosa, các đồng tu và những người khác đã giúp đỡ họ.

Chủ Tọa: Hai câu cuối là về quốc gia Kam-pu-chia. Bên dưới tiết mục sáu là cuộc thiền thất 1996. Ngài có thể giải thích cuộc thiền này và cho chúng tôi một hướng dẫn ngắn về nó?

THVTS: Mỗi năm, chúng tôi dành ra một ít thì giờ ngồi tĩnh lặng để tự xem xét nội tâm bởi vì Thượng Ðế ở bên trong chúng ta, và để củng cố sự khai ngộ bên trong của chúng tôi. Ðây là mục đích của mỗi cuộc thiền. Chúng tôi buông bỏ tất cả xuống trong một vài ngày ba, năm, hoặc bảy ngày, tùy theo trường hợp. Trong thời gian đó, chúng tôi tập trung hoàn toàn vào bản tánh Thượng Ðế của mình, hoặc là vị Thượng Ðế bên trong chúng ta. Ðiều này gọi là thiền thất. Chúng tôi có những cuộc thiền mỗi năm tại nhiều quốc gia khác nhau. Cuộc thiền vừa rồi ở tại Thái Lan; tuần tới, chúng tôi sẽ có một cuộc thiền khác tại Ðại Hàn. Chúng tôi làm việc này cho riêng mình và cho sự hòa bình của thế giới. Khi chúng tôi tụ họp lại, lực lượng sẽ mạnh hơn và sự cầu nguyện sẽ thuận lợi hơn. Ðây là mục đích của mỗi cuộc thiền.

Chủ Tọa: Tôi nghĩ khoảng ba mươi lăm phút đã trôi qua. Trong phần đầu, tôi đã hỏi Vô Thượng Sư Thanh Hải vài câu hỏi đơn giản về hoạt động của người Trung Hoa tại Ðông Nam Á. Giảng sư Ruaan Jy-sheng của Viện Ðại Học Quốc Gia Ðài Loan sẽ cho chúng ta biết lời bình luận của ông. [Vỗ tay]

Hình:


  1. Sư Phụ từng sống trong một căn lều.
  2. Buổi thuyết giảng tại Mã Lai Ał, 1993
  3. Sư Phụ thuyết giảng tại Indonesia. Báo chí điạ phương hầu hết đều đăng tin về Sư Phụ.

  4. Buổi thuyết pháp tại Thái Lan, 1993
  5. Vào năm 1996, sau khi được biết hơi lạnh miền Bắc Thái đã làm chết cóng một số người mỗi năm, Sư Phụ đích thân dẫn đoàn tình nguyện quân đi phân phát những đồ dùng hằng ngày cho những người thiếu thốn trong vùng.

  6. Thuyết pháp tại Singapore, 1993
  7. Sư Phụ được các thành phần báo chí phỏng vấn tại Phi Luật Tân, 1994
  8. Vào năm 1992, Sư Phụ gặp gỡ phu nhân Corazon Aquino, tổng thống quốc gia Phi Luật Tân, để bàn về việc người Âu Lạc được ở lại.

  9. Năm 1992, Sư Phụ gặp gỡ với phu nhân Imelda Marcos của nước Phi Luật Tân
  10. Năm 1996, Sư Phụ gặp gỡ Vua Sihanouk của nước Kam-pu-chia.

Lời Bình Luận Của Một Vị Học Giả

Giảng Sư Ruaan: Tôi cũng như tất cả mọi người tại đây rất vui mừng có được sự hiện diện của Vô Thượng Sư Thanh Hải với chúng ta. Tôi không nghĩ rằng nhiều người, kể cả những vị triệu tập viên, đã nghĩ rằng Vô Thượng Sư Thanh Hải sẽ gia ân cho chúng ta với sự hiện diện của Ngài trong ngày hôm nay. Bản thân tôi cảm thấy đặc biệt vinh dự. Những lời bình luận mà tôi sắp nói ra sẽ có liên hệ trực tiếp với đề tài của buổi hội thảo: Vô Thượng Sư Thanh Hải, pháp môn Quán Âm, và người Trung Hoa tại Ðông Nam Á. Ðề tài này có hai phần, thứ nhất là về Ðông Nam Á. Chúng ta có một số các chuyên gia và học giả đang hiện diện nơi đây. Vị Chủ Tọa, giảng sư Chu, là một chuyên gia trong việc nghiên cứu về người Trung Hoa hải ngoại, đặc biệt là những cộng đồng người Trung Hoa và những tôn giáo tại Nam Dương. Ông đã ấn hành một số bài báo trong lãnh vực này. Tại đây chúng ta cũng có những chuyên gia từ Học Viện Tôn Giáo Ðài Loan và Chương Trình Nghiên Cứu Ðông Nam Á, là những vị có thẩm quyền hơn tôi về chủ đề người Trung Hoa tại Ðông Nam Á. Do đó, tôi sẽ bình luận chủ yếu về Vô Thượng Sư Thanh Hải và pháp môn Quán Âm.

Tôi đã đọc những tài liệu do Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư cung cấp trước buổi hội thảo và vừa mới nghe bài diễn thuyết của Vô Thượng Sư. Tôi có cảm tưởng rằng pháp môn Quán Âm và những người lãnh đạo của pháp môn này rất đặc biệt; chúng ta có thể nói rằng họ thuộc về một "hợp tuyển đặc thù". Họ thật rất đặc biệt. Sự quan sát của tôi cho thấy rằng những hành động và ngôn ngữ của vị lãnh đạo này thường phá tan những giới hạn và luật lệ, vì chúng không tuân theo những nghi thức xã hội mà chúng ta vẫn thường quen thuộc. Ngài rất dị thường và ở bên trên những nghi lễ bình thường. Vì lý do này, người ta rất khó thông hiểu và phân loại Ngài theo những khái niệm sẵn có và những luật lệ thông thường. Trong con mắt người thế gian, Vô Thượng Sư Thanh Hải rất khác biệt với những vị lãnh đạo tôn giáo khác. Vô Thượng Sư Thanh Hải là một người phụ nữ á châu thuộc dòng dõi Âu Lạc. Ngài đã thuyết pháp bằng tiếng Trung Hoa, tiếng Anh, tiếng Âu Lạc, và ngay cả tiếng Ðức và tiếng Pháp trên năm châu của địa cầu. Ngài rất thấu đáo về tất cả những kinh điển tôn giáo và có thể dễ dàng giải thích một cách thâm thúy những học thuyết sâu sắc bằng những lời lẽ đơn giản bình dân.

Vị Vô Thượng Sư truyền Tâm Ấn cho những người khát khao Chân lý của bất cứ dân tộc nào hoặc bất cứ quá trình tôn giáo nào, mà không đòi hỏi họ phải bỏ niềm tin nguyên thủy của họ. Ngài truyền bá một pháp môn giải thoát siêu thế gian, nhưng cũng rất quan tâm về sự đau khổ của thế gian, dẫn đạo những công cuộc cứu trợ và hoạt động từ thiện khi cần thiết. Ngài dạy pháp môn Quán Âm, một pháp môn đơn giản và có vẻ mới lạ, mà Ngài tuyên bố là một pháp môn cổ truyền nhất và cũng là một pháp môn rất huy hoàng. Ðệ tử của Ngài được đòi hỏi phải giữ nghiêm nhặt năm giới luật và phép ăn chay trọn đời, và thiền định hai tiếng rưỡi mỗi ngày. Họ cũng được khuyến khích thực hành theo Trung đạo, để giữ khỏi đi theo cực đoan, và theo đuổi một cuộc đời thuộc về Chân, Thiện, Mỹ. Tuy nhiên, trong khi diễn thuyết về Chân lý, Ngài cũng làm thơ, soạn nhạc, xử dụng các nhạc khí, ngâm thơ, ca hát, vẽ tranh, nấu những món ăn chay, và đã soạn những sách dạy nấu các món chay.

THVTS: Ðiều này rất quan trọng đối với người Trung Hoa!

Giảng Sư Ruaan: Ngài cũng là một người vẽ kiểu y phục và thiết kế nữ trang. Ngài đã từng tổ chức các cuộc triển lãm tranh, trình diễn thời trang, và các buổi hòa nhạc trong những thành phố lớn trên thế giới. Người ta gặp khó khăn khi muốn khám phá về những điểm tâm linh của Ngài, và ngay cả nghi ngờ việc Ngài là một nhà tu hành tâm linh [Khán giả cười]. Ngài dâng hiến sự giúp đỡ tài chánh và cống hiến những nỗ lực của Ngài để giúp đỡ những người nguy khốn trên thế giới, về cả hai phương diện vật chất và tâm linh. Ngài không xây cất chùa chiền hoặc thánh đường, và cũng không nhận cúng dường. Ðệ tử khắp nơi thương yêu mong mỏi Ngài ở với họ càng lâu càng tốt, nhưng Ngài muốn đi khắp thế giới hơn mà không có một chỗ ở cố định nào, không muốn định cư tại bất cứ một nơi nào. Với lòng bác ái mãnh liệt đối với nhân loại, Ngài giúp đỡ mọi người với tất cả con tim và nỗ lực, nhưng thỉnh thoảng khiển trách họ do lòng thương sâu đậm của Ngài đối với họ. Ngài đã được gọi là "vị Minh Sư la mắng người." Trong lúc mọi người đang bi quan về thời kỳ mạt pháp, hoặc lo âu hãi sợ về một ngày tận thế, Ngài nói bằng một tinh thần hăng hái về việc bước vào một thời đại hoàng kim. Dù là người ta nghe rằng Ngài đã đạt được sự giác ngộ tuyệt đối ở sâu thẳm bên trong rặng Hy Mã Lạp Sơn, Ngài thuyết phục người ta rằng không cần phải thực hành phép tu khổ hạnh trong rừng núi sau khi đã thọ Tâm Ấn, bởi vì cũng có thể đạt được sự giác ngộ bằng cách tu hành tại gia. Ngài có lực lượng để hấp dẫn hàng ngàn đệ tử và khiến cho họ phải bay khắp thế giới để tham dự các cuộc thiền quốc tế [Khán giả cười].

THVTS: Nghe có vẻ như là chúng tôi có lực lượng thần thông!

Giảng Sư Ruaan: Ðiều này còn đáng nể hơn là những người du hành khắp đảo tại Formosa. [Khán giả cười]

THVTS: Giảng sư, chúng tôi có thực hành thần thông!

Giảng Sư Ruaan: Những buổi hội họp của họ được hàng ngàn người tham dự. Ngài phải thường xuyên gặp gỡ những vị lãnh đạo chính trị tại những quốc gia khác nhau trong khi đang dẫn đạo những hoạt động từ thiện hoặc cứu trợ. Tuy nhiên, Ngài nói rằng Ngài bản tính hay e lệ, và thật sự mong mỏi được sống một cuộc đời tự do, thảnh thơi và đơn giản. Tùy theo trường hợp và quốc gia mà Ngài đang ở tại đó, Ngài mặc những y phục có tính cách sáng tạo do Ngài tự vẽ kiểu hoặc là những y phục cổ truyền của những quốc gia mà Ngài đang thăm viếng. Ngài xuất hiện trong nhiều dáng vẻ và thể điệu khác nhau, như là một phụ nữ có hàng ngàn hình dạng. Cũng chính vì lý do này mà Ngài thường tạo nên sự hiểu lầm đối với người khác và trở thành mục tiêu của những sự bình phẩm. Tuy vậy, Ngài tiếp tục sinh hoạt trong cách riêng của Ngài, chịu đựng tất cả trong yên lặng và vẫn đóng vai trò của mình. Ngài tuyên bố rằng pháp môn mà Ngài dạy là một pháp môn cổ xưa nhất, và cùng lúc Ngài cho người ta một ấn tượng rất tân thời. Ngài còn muốn đệ tử trở thành những người tu hành tâm linh tân thời. Tất cả những việc đặc thù, siêu việt và khác thường mà Ngài làm đã mở rộng quan điểm của thiên hạ và cũng khiến cho họ bối rối. Chúng ta có thể hiểu được sự bối rối và nghi ngờ của người thế gian, nhưng chúng ta không thể chối bỏ việc Ngài đã dạy người ta làm những việc tốt và nâng cao cho họ trên cả hai phương diện vật chất và tâm linh. Chúng ta không thể tìm thấy một điểm xấu nào của Ngài. Chúng ta có thể nói rằng đối với đại chúng, những chuyên gia nghiên cứu về tôn giáo, và những người tu hành tâm linh, Thanh Hải Vô Thượng Sư và pháp môn Quán Âm đã cống hiến một thông điệp mới và sự lựa chọn mới. Ðây là một việc ích lợi, dù thế nào đi nữa.

THVTS: Xin cám ơn!

Giảng Sư Ruaan: Một xã hội rộng mở và đa nguyên sẽ chào đón tất cả các điều mới lạ vô hại. Tôi nghĩ Thanh Hải Vô Thượng Sư đã đem đến cho chúng ta một cảm giác mới mẻ tinh khôi! Và tất cả những sự đóng góp đặc biệt của Ngài đã cung ứng nhiều sự lựa chọn tự do cho xã hội, khiến cho văn hóa xã hội của chúng ta thêm phong phú và nhiều màu sắc. Cuối cùng, tôi xin cảm tạ Thanh Hải Vô Thượng Sư. Cầu xin Thượng Ðế ở cùng với Ngài. Chúng ta hãy xin Vô Thượng Sư cầu với Thượng Ðế những lời tốt lành cho Formosa, cho dân chúng của Formosa và Trung Hoa lục địa, và cho cả nhân loại. [Vỗ tay] Ðể tiếp tục, tôi xin có vài câu hỏi. Câu đầu tiên có liên quan đến bản chất và định nghĩa tôn giáo. Câu hỏi này có ba phần. Phần thứ nhất: Cả hai đại chúng và những nhà nghiên cứu tôn giáo xem pháp môn Quán Aạm như là một tôn giáo mới. Vị triệu tập buổi hội thảo cũng đề cập đến nhóm của Ngài là nhóm tôn giáo Thanh Hải. Pháp môn Quán Aạm có phải là một tôn giáo không? Ðây là phần thứ nhất của câu hỏi.

Tất Cả Các Tôn Giáo Phát Sinh
Từ Pháp Môn Quán Âm

THVTS: Pháp môn Quán Âm không phải là một tôn giáo. Tuy nhiên, tất cả các tôn giáo đều phát sinh từ pháp môn Quán Âm. Ðã có rất nhiều tôn giáo trên thế giới; tôi không muốn thêm một tôn giáo nữa vào trong danh sách. Ngay từ đầu tôi đã không hề có ý định đó; nếu không tôi đã làm điều này từ lâu rồi. Người ta gọi mình là "Tổ khai sáng một tôn giáo" nghe cũng vui tai [Khán giả cười], nhưng qua việc thực hành Pháp Môn Quán Âm, chúng ta khôi phục lại Bản Tính Nguyên Thủy của mình. Những tôn giáo thường hay bàn về những thể nghiệm của những vị thời cổ xưa. Lấy Giê-Su Ki-tô làm thí dụ, trọng điểm là về khả năng hoặc lực lượng thần thông mà Ngài đã đạt được qua sự thực hành tâm linh, làm thế nào mà Ngài đồng nhất trở lại với Thượng Ðế, đệ tử của Ngài đã đạt được những điều gì qua sự thực hành tâm linh, và cuối cùng họ làm cách nào để đồng nhất với Thượng Ðế. Trong trường hợp Phật Thích Ca Mâu Ni, trọng điểm là về việc Ngài đã đạt được những gì qua sự tu hành tâm linh, Ngài làm thế nào để thành Phật (một vị Minh Sư giác ngộ), và đệ tử Ngài tu hành ra sao và làm thế nào để trở thành Phật trong cùng một cách như vậy. Ngày nay, pháp môn Quán Âm của chúng tôi dạy chúng ta đi cùng một con đường đó. Do đó, tất cả tôn giáo đều phát sinh từ pháp môn Quán Âm. Người ta gọi nó là "Thiên Chúa giáo" bởi vì Giê-Su Ki-tô đã xuất hiện; người ta gọi nó là "Phật giáo" bởi vì Phật đã thị hiện. Ðó là lý do tại sao nhiều tôn giáo đã được thành lập. Tôi van xin quí vị đừng gọi chúng tôi là đạo Thanh Hải sau khi tôi chết! [Khán giả cười]

Giảng Sư Ruaan: Ðại chúng và các học giả tôn giáo đều gọi nhóm của Ngài là pháp môn Quán Âm hoặc là nhóm tôn giáo Thanh Hải. Ngài có chấp nhận cái tên "Nhóm tôn giáo Thanh Hải" không?

THVTS: Dĩ nhiên quí vị có quyền gọi chúng tôi bằng bất cứ tên gì quí vị muốn. Tuy nhiên, vì chúng tôi cảm thấy chúng tôi đơn giản chỉ là một nhóm người thành tâm với việc nhận biết Bản Tánh Nguyên Thủy của chúng ta, chúng tôi không cần phải tạo thêm một tôn giáo nữa. Chúng tôi lo ngại rằng nó sẽ có một hậu quả hoặc tạo thêm những sự tranh luận tôn giáo. Chúng tôi chỉ muốn nhận biết Bản Tánh Thượng Ðế của chúng ta, phẩm chất cao nhất bên trong của chúng ta, cho nên chúng tôi không nghĩ rằng cần phải đặt cho chúng tôi một nhãn hiệu gì. Mặc dù vậy, quí vị muốn gọi chúng tôi là tôn giáo Thanh Hải cũng được. Tuy nhiên chúng tôi sẽ không in nhãn hiệu này trên danh thiếp của chúng tôi!

Giảng Sư Ruaan: Phần thứ hai của câu hỏi của tôi có liên quan đến việc Ngài nói rằng Ngài không thuộc về một tôn giáo nào cả.

THVTS: Ðúng vậy!

Giảng Sư Ruaan: Như vậy có sự liên hệ gì giữa pháp môn Quán Âm và những tôn giáo khác? Tôi không chắc Ngài đã trả lời câu này trong phần thứ nhất của câu hỏi chưa, hoặc giả Ngài có thể bàn thêm về việc này?

THVTS: Tôi sẽ nói thêm. Tôi đã giải thích rằng ban đầu chẳng có tôn giáo nào cả. Trước khi Phật xuất hiện, không có đạo Phật; trước khi Giê-Su Ki-tô đến, không có Thiên Chúa giáo; trước khi Mohammed xuất hiện, không có đạo Hồi. Tất cả những vị khai ngộ đến đây để làm việc qua ý chỉ của Thượng Ðế và truyền bá pháp môn giải thoát này cho những người đã sẵn sàng về Nhà. Sau khi những vị Minh Sư và đệ tử họ qua đời, những người thuộc các thế hệ sau hiểu biết rất ít về giáo lý của các vị Minh Sư, và do đó pháp mạch bị cắt đứt. Người ta thờ phượng các bức tượng và các giáo lý truyền miệng mà không có lực lượng của sự trao truyền từ tâm đến tâm. Cho nên, từ từ, các tôn giáo được sáng lập. Tuy nhiên, pháp môn Quán Âm là con đường cổ xưa nhất và là con đường duy nhất để trở về Nhà. Quí vị chỉ có một con đường để dẫn về Nhà. Ðó là như vậy.

Giảng Sư Ruaan: Bây giờ đến phần thứ ba của câu hỏi. Chúng ta đã nghe đến sự trao truyền của pháp môn Quán Âm tại Formosa và hải ngoại. Có sự khác biệt nào không giữa những pháp môn Quán Âm khác và pháp môn Quán Âm mà Ngài truyền bá? Tôi đưa ra điểm này bởi vì đề tài của cuộc hội thảo là "Vô Thượng Sư Thanh Hải, pháp môn Quán Âm..."

THVTS: Ðó là do người ta đã đặt tên cho nó như vậy. Khi chúng ta thực hành pháp môn Quán Âm, chúng ta lắng nghe Chân Ngã bên trong của chúng ta; có nghĩa là, chúng ta trầm tư mặc tưởng vào Âm lưu bên trong, Bản thể nguyên thủy của chúng ta và Bản Tánh Thượng Ðế của chúng ta. Nếu một nhóm nào khác cũng dạy như vậy, thì họ cũng dạy pháp môn Quán Âm, ngoại trừ họ có thể gọi nó bằng một tên khác, thí dụ như "Dòng Âm Thanh", "Tiếng Bên Trong của Thượng Ðế", hoặc "Ngôi Lời". Nếu họ có thể đưa chúng ta đến việc nghe được Bản Tánh Thượng Ðế bên trong, Thiên Quốc bên trong, và thấy được ánh sáng bên trong, thì pháp môn của họ cũng là một với pháp môn của chúng tôi.

Giảng Sư Ruaan: Câu hỏi kế tiếp có liên quan đến tổ chức của Ngài. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, dù là Thiên Chúa giáo cổ xưa hay là một đạo mới thành lập như Nhất Quán Ðạo, mỗi tôn giáo đều có một nhà thờ vĩ đại và một tổ chức, một hệ thống cấp bậc chặt chẽ, và danh hiệu cho mỗi cấp bậc. Thí dụ như, trong Thiên Chúa giáo, giữa Ðức Giáo Hoàng và các vị thầy tu chúng ta có Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, và Linh Mục. Trong Nhất Quán Ðạo, chúng ta có ông Tộc Trưởng, bà Tộc Trưởng, những vị thầy tu chính, thầy khai tâm, thầy bàn thờ, và thầy giới thiệu. Với sự thiết lập đồ sộ và thứ bậc được tổ chức chặt chẽ, những tôn giáo này có thể huy động hội viên của họ một cách nhanh chóng và hữu hiệu. Tuy nhiên, điều này cũng có thể phát sinh ra một hệ thống quan liêu. Ðiều này thường hay xảy ra. Pháp môn Quán Âm hiện đang được thực hành bởi đệ tử trên khắp năm châu. Tôi không biết con số chính xác, nhưng ít nhất là hằng trăm ngàn, và tôi tin rằng con số này sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai. Theo sự quan sát của chúng tôi và những tin tức mà tôi thu lượm được từ các sách báo, chỉ có một danh hiệu duy nhất - sứ giả Quán Âm - giữa Ngài, vị Minh Sư, và những môn đệ trong nhóm của Ngài. Nhóm Pháp môn Quán Âm không có vẻ được tổ chức chặt chẽ lắm. Tuy nhiên, một tổ chức không được thiết lập chặt chẽ như của Ngài có thể nào huy động được những thành viên trong khi làm công việc chia xẻ Chân lý trên một bình diện rộng lớn không? Và điều này có thể giữ được lâu không? Hiện tại, câu trả lời có vẻ khẳng định, bởi vì Ngài tạo được những cuộc hội họp khổng lồ. Tôi nghĩ rằng điều này tùy thuộc vào sức hấp dẫn bản thân của người lãnh đạo, nhưng điều này có thể tiếp tục trong một thời gian dài chăng? Ngài có thể chia xẻ với chúng tôi quan điểm và cảm nghĩ của Ngài không?

THVTS: Xin cám ơn rất nhiều! Câu hỏi của ngài rất rõ ràng. Ngài không bỏ sót một điều gì. Có lẽ ngài là người rất khai ngộ. Ðiểm chánh là chúng tôi không tin tưởng vào sự tổ chức thứ bậc và những địa vị có tính cách quan liêu. Sứ giả Quán Âm là một danh hiệu không chính thức để cho người ta biết rằng người này được quyền chỉ dẫn về pháp môn Quán Âm. Tuy nhiên, sự trao truyền chân thật bên trong được thực hiện trong tĩnh lặng hoàn toàn, từ Thượng Ðế, từ bên trong, từ tâm truyền tâm. Nó không được thực hiện bởi người sứ giả Quán Âm, họ ở đó chỉ để cho những hướng dẫn truyền miệng. Ðó là vì sao họ được gọi là "sứ giả".

Chúng tôi không thích những danh hiệu hoa mỹ cho lắm. Bản thân tôi đã phải chịu đựng danh hiệu "Vô Thượng Sư" quá nhiều rồi. Tôi không muốn những người khác phải là mục tiêu của sự phê bình nữa. Chúng tôi nhấn mạnh sự khiêm nhường và tự tu tập, mà không có những ham muốn địa vị. Dù là chúng tôi có rất nhiều thành viên làm việc trong nhóm, quý vị ít khi nào thấy họ được danh vọng trước công chúng. Những nhóm làm việc, thí dụ như nhóm thâu hình, đã làm rất nhiều việc, nhưng tên tuổi không bao giờ được nhắc đến. Rất nhiều người làm việc in sách biếu và kinh sách, nhưng không có sự nhắc nhở nào cho họ. Ðôi khi một vài cái tên được ghi danh, nhưng chỉ khi nào do pháp luật của một quốc gia bắt buộc. Giữ mình như bóng mờ thì tốt hơn. Tuy nhiên, nếu cần thiết phải cho người khác biết, thì tên tuổi sẽ được công bố. Tên tuổi được công bố khi chúng tôi không còn cách nào khác, nhưng những người liên hệ không ham muốn địa vị gì. Họ đã biết sự vĩ đại bên trong của mình mà không cần phải được công bố.

Giảng Sư Ruaan: Như vậy, nếu có áp lực gì, Vô Thượng Sư sẽ chịu đựng một mình.

THVTS: Như vậy thì tốt hơn, cho nên tất cả mọi người có thể tự do và thoải mái.

Giảng Sư Ruaan: Các câu hỏi của tôi được chấm dứt tại đây, giảng sư Chu.

Chủ Tọa: Thật tuyệt diệu! Chúng ta hãy cám ơn Giáo Sư Ruaan về các lời bình luận và câu hỏi xuất sắc của ông, và Vô Thượng Sư nữa về các câu trả lời chính xác của Ngài. Chúng ta có lẽ sẽ thay đổi chương trình một chút. Tôi chắc là tất cả mọi người hiện diện đều rất thích thú trong việc phát biểu quan điểm của mình, hỏi Vô Thượng Sư một vài câu hỏi, hay bàn luận với các bình luận viên. Bây giờ chúng ta có thể bắt đầu phần câu hỏi cho mọi người không ạ? Ðược rồi, xin mời bà!

V: Ðây là một câu hỏi tiếp theo câu đã được vị chủ tọa hỏi vừa rồi. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã nhấn mạnh rằng Ngài không nhận cúng dường. Tuy nhiên, Ngài đã làm nhiều công tác từ thiện khắp thế giới, mà những việc này không thể thực hiện được với một số tiền nhỏ bé. Ngài vừa đề cập là Ngài đan mũ nón và vẽ kiểu quần áo. Những thứ này chỉ bán cho các đệ tử hay bán cho công chúng nữa? Những số tiền thâu được có đủ để giúp đỡ nhiều người tị nạn tầm trú, hay các nạn nhân lụt lội ở Hoa Kỳ và các thiên tai ở Ðông Nam Á không? Ngài có thể nào giải thích thêm về nguồn tài chính của Ngài không?

THVTS: Tôi không nhận bất kỳ sự cúng dường nào cả. Tuy nhiên, nếu có thiên tai xảy ra và các đồng tu của chúng tôi muốn gởi tiền đóng góp hay vật liệu cứu trợ đến các nạn nhân thì họ có thể bỏ chung với phẩm vật của chúng tôi trong một kiện hàng hay trong một số lượng hàng lớn. Theo cách đó thì tất cả chúng tôi bao gồm các đồng tu, đóng góp chung với nhau.

Hình: Pháp Môn Quán Âm là con đường dẫn chúng ta về Bản Tính Thượng Ðế của mình và Thiên quốc bên trong.

Công Tác Cứu Trợ
Trận Ðộng Ðất 21/9/99 ở Formosa

Phóng Viên: Xin lỗi, nhưng tôi muốn tiếp tục câu hỏi này. Chúng ta đều biết rằng trong quá khứ, Ngài đã cung cấp sự trợ giúp đến nhiều nơi và biểu lộ lòng từ bi đến nhiều người. Tuy nhiên, chúng tôi không thấy Ngài hiện diện tại những vùng bị thiệt hại do trận động đất ngày 21 tháng 9, 1999 gây ra. Ngài có thể vui lòng cho chúng tôi biết là Ngài có tham gia công tác cứu trợ thiên tai hay cung cấp sự trợ giúp bằng cách nào đó không?

THVTS: Khi tôi vừa mới nghe tin tức trên đài truyền hình ở Hoa Kỳ, thì tôi cố gắng gọi nhưng không thể nào liên lạc được với các đồng tu liên lạc viên vì đường giây điện thoại của họ bị bận. Lúc đó gọi qua được đường giây điện thoại là việc rất khó khăn. Sau cùng, tôi xoay xở gọi được Sư Huynh Lin không phải là đồng tu liên lạc viên. Tôi yêu cầu ông lập tức huy động mọi người và cung cấp tất cả sự giúp đỡ tài chánh và vật liệu mà họ có thể kham nổi. Nhóm người của chúng tôi có mặt tại mọi nơi cần sự giúp đỡ và đã có mặt tại những khu vực bị thiệt hại bởi thiên tai vào ngày đầu tiên. Sư Huynh Lin có thể kể lại cho chúng tôi nghe về chuyện đó không?

Chủ Tịch: Ông có thể vui lòng tự giới thiệu mình trước khi đi vào chi tiết không?

Sư Huynh Lin: Tôi tên là Lin Shu-Lin, và tôi ở Ðài Nam. Vào buổi sáng động đất ngày 21 tháng 9, tôi nhận được một cú điện thoại của Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư gọi từ ngoại quốc. Ngài nói là đã cố gắng gọi gần hai tiếng đồng hồ nhưng không thể liên lạc xuyên qua đường giây được, nên cuối cùng Ngài đã gọi tôi và bảo: "Xin hãy giúp tôi lập một toán cứu trợ thiên tai ngay lập tức và nhanh chóng đến cứu trợ mọi khu vực cần sự giúp đỡ. Gom góp lại tất cả lực lượng của quý vị rồi cung cấp sự trợ giúp càng nhiều, càng nhanh càng tốt."

Ðây là điểm đầu tiên tôi muốn làm sáng tỏ - là Vô Thượng Sư rất quan tâm đến trận thiên tai ở Formosa. Sau đó, khi tôi truyền lại những lời quan tâm của Ngài đến các đồng tu khắp Formosa, tôi cần phải cho họ biết là Ngài rất lo lắng về tình trạng hậu địa chấn. Mặc dầu Ngài không thể nào đích thân thăm hỏi và an ủi mọi người, nhưng Ngài muốn truyền đạt mối quan tâm sâu xa của Ngài về tình hình lúc đó. Vì vậy, nên tôi yêu cầu các Trung Tâm địa phương liên lạc với người của họ để chuẩn bị toán lưu động bằng xe hơi. Vào đêm động đất, chúng tôi đến được Chungliao. Ở đó chúng tôi đã để lại một lời nhắn trên bảng thông cáo của trạm cảnh sát địa phương, nói rằng: "Nếu khu vực của quý vị cần sự giúp đỡ hay hậu thuẫn, xin hãy gọi cho chúng tôi ở số như vậy, như vậy." Chúng tôi để lại số điện thoại của Trung Tâm liên lạc Nantou và Ðài Trung của chúng tôi, là những nơi gần trung tâm địa chấn nhất.

Chúng tôi cũng giao các vật liệu cứu trợ đóng góp bởi các hội viên của Formosa đến sân vận động phía trước văn phòng Chính Phủ Quận Nantou. Bản thân tôi có đến thăm các khu vực bị thiệt hại, và thấy rằng các vật liệu này cũng không thể nào giải quyết được tình trạng. Ðiều thấy rõ là chúng tôi phải phối hợp với chính quyền và để cho các nhân viên có thẩm quyền lo công việc đó. Vì vậy, các đồng tu chúng tôi, những người có cùng lý tưởng và ý chí đã cùng nhau quyên góp quỹ cứu trợ các khu vực bị thiệt hại. Chúng tôi đã quyên được đúng NT$10 triệu và đóng góp tất cả cho lúc đó.

Chủ Tịch: Bây giờ chúng ta hãy hỏi giám đốc của Hội Quốc Tế THVTS để nói về các chi tiết này, và rồi chúng ta sẽ lấy lời bình luận của một vị ngồi phía sau.

Sư Huynh Ke: Tôi xin tự giới thiệu, tôi là cựu Giám Ðốc của Hội. Họ của tôi là Ke. Tôi đã đích thân tham gia công cuộc cứu trợ tại những khu vực bị thiệt hại do động đất gây ra. Sau khi nhận được cú điện thoại từ Ông Lin, chúng tôi đi thẳng đến các khu vực bị thiệt hại và là toán cứu trợ đầu tiên đến đó. Vào lúc ấy, Trung Tâm chỉ huy Nantou chưa có điện thoại nào cả nên chúng tôi đưa cho họ điện thoại của chúng tôi. (1) Chúng tôi cũng thành lập một toán đào xới (2), vì đã không thấy người đào xới nào lúc chúng tôi vừa mới đến. Một cách tổng quát, chúng tôi lo giải quyết những vấn đề khẩn cấp và ưu tiên nhất. Chúng tôi lập tức yêu cầu các hội viên của mình đi mua tất cả lều vẫn còn trong các tiệm bán sỉ và xưởng làm lều gần đó. Quý vị có thể đã xem trên đài truyền hình là tất cả các lều ở Formosa đều bán sạch. Ðó là vì chúng tôi mua hết chúng với giá giữa NT$900 và NT$1,600 cho mỗi cái. Chúng tôi mua tổng số khoảng bốn đến năm ngàn cái lều. Vì chúng tôi đã dự nhiều buổi thiền do Sư Phụ tổ chức trong những năm vừa qua, nên chúng tôi biết được nhu cầu cần có lều. (3) Chúng tôi cũng mua một số vải bố. Nếu quý vị đến những khu vực thiên tai thì quý vị có thể để ý thấy một số tấm vải bố nơi đó cạnh bên những tấm lều; chúng đều do chúng tôi đóng góp. Khi không còn cái lều nào nữa ở Formosa nữa thì chúng tôi mới biết là nhiều tổ chức từ thiện đã đặt mua lều ở các nước ngoài như là Hồng Kông và Hoa Kỳ, chở thêm lều vào bằng đường hàng không.

Ðối với những khu vực bị thiệt hại không dùng xe đến được, chúng tôi huy động các đồng tu leo núi và đi đến đó bằng đường bộ. Chúng tôi tổ chức một toán cứu thương để cung cấp dịch vụ tại những khu vực bị thiệt hại trước khi các toán phóng viên truyền hình hay các nhóm khác đặt chân đến. Chúng tôi là nhóm đầu tiên đến những nơi đó, trước các nhóm từ thiện khác (4).

Số tiền NT$10 triệu vừa mới nói qua chỉ đề cập đến sự đóng góp bằng hiện kim đầu tiên của nhóm chúng tôi thôi. Nếu kể hết tất cả vật liệu cứu trợ chúng tôi cung cấp, thì tổng số tiền sẽ gần đến NT$20 triệu. Vì chúng tôi là nhóm người tu hành nên chúng tôi làm loại công việc này một cách tự nhiên, mà không nghĩ rằng mình bỏ công lao gì. Người ta có thể thấy điều này rất là lạ, vì số tiền đó hình như rất lớn còn tổ chức của chúng tôi hình như rất là nhỏ. Xin cho tôi được chia xẻ thêm một ít chi tiết với quý vị. Sư Phụ luôn luôn dạy chúng tôi hành động như Giê Su Ki-tô - khi tay trái cho, không nên để ngay cả tay phải của mình được biết. Do đó, chúng tôi không nghĩ những hành động như vậy là điều quan trọng. Ðây là điểm đầu tiên mà tôi muốn nhấn mạnh.

Ðiểm thứ nhì liên quan đến việc làm thế nào chúng tôi huy động được tổ chức của mình trong công tác cứu trợ. Ða số các tổ chức đều có một người hay một nhóm người lãnh đạo. Vậy thì các đệ tử của Sư Phụ, khi tham gia công cuộc cứu trợ thiên tai, làm sao đến được những khu vực bị thiệt hại trước các tổ chức to lớn khác? Theo ý kiến cá nhân tôi, đó là vì tất cả chúng tôi đều câu thông với Thượng Ðế, nên cách tổ chức duy nhất mà chúng tôi có là sự tổ chức của Thượng Ðế. Ðó là ý nói, Ngài câu thông với tất cả mọi người chúng tôi, với mỗi đệ tử của Sư Phụ. Mối quan tâm thương yêu và nỗi lo âu của Sư Phụ về các khu vực bị thiệt hại do động đất gây ra đã thúc đẩy chúng tôi tự hành động theo sáng kiến của mình. Chỉ cần Ngài gọi một cú điện thoại thì tất cả mọi người đã có mặt tại đó. Dầu sao thì chuyện không thể tin được là chúng tôi đi mà không hề biết ai sẽ đến đó nữa, không biết rằng các bác sĩ sẽ có mặt ở đó hay không, hoặc là có phương tiện chuyên chở nào không.

Trước khi bất cứ chiếc xe nào đến được, thì chúng tôi đã thành lập xong một toán xe jeep. Sau đó, chúng tôi thấy một số các toán xe jeep tại khoảng một số khu phố bị thiệt hại. Tôi muốn cho quý vị biết là toán xe jeep chúng tôi đã hậu thuẫn cho trung tâm cứu trợ. Chúng tôi cũng thiết lập một hệ thống liên lạc bằng máy truyền thanh HAM radio. Hệ thống truyền thông được một vài hội cứu trợ xử dụng thật ra là của chúng tôi. Vì sao chúng tôi lại có các hệ thống này? Ðó là vì chúng tôi thường hay tổ chức thiền trên núi với Sư Phụ nên chúng tôi phải lo việc liên lạc ở những nơi xa xôi. Nhiều người tham dự những cuộc thiền này, là những nơi chúng tôi cần thức ăn, vật liệu, các cơ sở tiếp vận và liên lạc với bên ngoài, cho nên chúng tôi phải lập ra hệ thống truyền thông để trang bị cho mình. Nhiều người trong nhóm chúng tôi đã dự khóa huấn luyện tại Tổng Nha Truyền Thông của Formosa, nên chúng tôi biết cách thiết lập dụng cụ truyền thanh. Chúng tôi gởi tất cả máy phát điện và dụng cụ truyền thanh đến những khu vực thiên tai sau trận động đất.

Các hội viên chúng tôi đã có mặt ở đó khi tất cả mọi chuyện vẫn còn hỗn loạn, trước khi các nhóm từ thiện khác đến, bàn ghế đã được sắp xếp sẵn hay các vật liệu cứu trợ đã được chở đến Trung Tâm Chỉ Huy Cứu Trợ Nantou. Sau đó, khi chúng tôi thấy các nhóm cứu trợ khác di chuyển đến thì các hội viên chúng tôi lập tức phân tán ra một cách nhanh chóng để giúp những vùng mà các nhóm khác chưa đến được. Tôi phải nhấn mạnh một lần nữa là chúng tôi làm những công việc này mà không cảm thấy mình bỏ công lao gì nhiều. Làm sao có thể đến được những nơi khẩn cấp nhất là chuyện quan trọng hơn đối với chúng tôi, thay vì xuất hiện ở những nơi có mặt giới báo chí.

Chú thích cho lời của Sư Huynh Ke:

(1) "Ðiện thoạI" mà chúng tôi cung cấp không phải là loại điện thoại thường dùng; nó là loại điện thoại vô tuyến mà âm thanh được chuyển qua đường giây bên ngoài. Ða số các đường giây điện thoại ở Nantou đều bị cúp vào lúc đó. Hội Cứu Trợ Ðài Trung và Ðào Viên, phối hợp điều hành cứu trợ chung ở Chungliao, Chichi, và Puli tại quận Nantou đã xử dụng đài truyền thông trung ương và những mạch giây điện thoại do chúng tôi thiết lập và cung cấp.

(2) Toán đào xới của chúng tôi có mười hai chiếc xe, bao gồm ba chiếc xe xới đất, một xe ủi đất, ba máy kéo, hai xe vận tải 35 tấn, một xe vận tải 8 tấn và hai xe jeep. Những chiếc xe này đã được dùng tại những khu vực bị thiệt hại nặng nề ở Chungliao và Chichi để mở đường và hốt các mảnh vụn từ các cao ốc và đường xá bị sập. Chúng cũng giúp làm sạch địa điểm được chọn làm trạm cảnh sát tạm thời và để mở các con đường giữa các làng mạc. Trong giai đoạn đầu khi các khối đá lỏng lẻo vẫn còn đang rơi thì công tác đào xới rất là nguy hiểm. Các toán làm việc đã can đảm bất chấp trời mưa và các cơn hậu địa chấn để mở đường giữa các làng ở Chungliao, để Công Ty Ðiện Lực Ðài Loan có thể đến những khu vực đó để sửa chữa các đường giây điện bị hư hại. Các con đường bị tắc nghẽn sau cùng đã được mở ra vào khoảng 3 giờ sáng, đổi lại bằng sự mất mát của hai đường rãnh nâng trên những chiếc xe xới đất đã bị hư hại.

Khi các nhân viên trong toán làm việc rời khỏi khu núi, dân làng muốn bày tỏ lòng biết ơn của mình về việc họ đã không màng đến tính mạng để mở đường, đã đóng góp tiền để làm một buổi tiệc khoản đãi. Khi đó các dân làng vừa mới bị thiên tai và đang rất cần tiền nên toán làm việc không muốn họ dùng tiền đãi tiệc, nên đã lập tức xin trả tiền cho bữa ăn, nhưng dân làng từ chối không nhận tiền. Cho nên, toán làm việc đã quyết định lấy cớ mua mấy con chó của họ nhưng dân làng vẫn từ chối nhận tiền. Họ là các nạn nhân, còn đây là những "nạn chó", họ bảo vậy, trong cùng lúc họ cám ơn chúng tôi đã coi giùm mấy con chó cho họ. Một trong những con chó được đặt tên là A Chung, còn con khác là A Liao, lấy tên khu phố "Chung-liao'. Câu chuyện của A Chung và A Liao đã khiến cho chúng tôi kính trọng một cách sâu xa hơn về cuộc đời và những phản ảnh của đời sống, và hoàn toàn biểu lộ được vẻ huy hoàng của tình người nồng ấm, khiến chúng tôi hiểu được rằng tất cả chúng ta đều sống trong ân điển của Thượng Ðế.

Toán đào xới chúng tôi làm việc bảy ngày. Sau khi các con đường đã được mở ra, đa số những công việc khác đều liên hệ đến các vấn đề pháp lý và nhân quyền, như là việc ấn định tình trạng của các căn nhà bị thiệt hại - được xem là sập hoàn toàn hay bị sập một nửa, và khoản tiền bồi hoàn mà chủ nhà được nhận; do đó, chính phủ sau đó đã hoàn toàn nắm giữ công tác cứu trợ. Chúng tôi đã thực hiện xong công tác của mình vào giai đoạn khẩn yếu nhất. Chúng tôi cũng để lại 95 thùng dầu cặn, mỗi thùng chứa 50 ga-lông, cho quân đội, các nhóm tư nhân, và văn phòng khu phố nông thôn Chungliao, là các nhóm đang điều hành công tác cứu trợ ở Puli.

(3) Khi các cửa tiệm đã hết lều, chúng tôi thâu góp lều của các đồng tu và gởi đi đến những khu bị thiệt hại do trận động đất gây ra. Chúng tôi cũng nghĩ đến phương pháp khác, đó là cung cấp màn ngủ, vải bố, túi ngủ, và nệm. Góp chung lại, những thứ này cũng phục vụ được mục đích như là lều. Ða số màn ngủ trong khu vực thiên tai đều do chúng tôi cung cấp. Ðể giải quyết vấn đề tìm những thứ này cho các nạn nhân, chúng tôi đã mua hết màn ngủ bán ở Ðài Trung, rồi đến Cao Hùng và Ðài Nam để mua thêm.

(4) Vào ngày bị động đất, chúng tôi đã dựng lên hai trung tâm cứu trợ, một ở Trung Tâm Ðài Trung còn một ở Trung Tâm Nantou. Trung Tâm Ðài Trung giải quyết công việc thâu thập các vật liệu cứu trợ và sắp đặt các đồng tu khắp Formosa. Từ Ðài Trung, chúng tôi vẽ ra các đường cứu trợ và gởi các toán xe cộ đến từng khu phố thành thị và thôn quê, bao gồm Tali, Taiping, Wufeng, Fengyuan, Shihkang, Hsinshe, và Tongshih. Trung Tâm Nantou trách nhiệm công việc điều hành công tác cứu trợ tại 13 khu phố và làng ở Nantou, bao gồm Chungliao, Chichi, Chushan, Hsinyi, Luku, Shuangwen, Kuohsing, Yuchih, Puli, Jenai, Wushe, và Tsaotun.

Ðiện nước đều bị cúp ở Nantou, và lúc đó mua sắm vật liệu cứu trợ rất là khó khăn. Mặc dầu Ðài Trung cũng bị thiệt hại bởi trận động đất, nhưng là thành phố lớn nên vật liệu vẫn còn bán và phương tiện chuyên chở cũng thuận tiện. Do đó, Trung Tâm Ðài Trung đã phối hợp với Trung Tâm Nantou trong việc điều hành cứu trợ và công tác cứu trợ đã được tiến hành rộng rãi và thuận lợi.

Vì đường xá ở Nantou bị hư hại hoàn toàn, nên nhiều nạn nhân không thể nào đến được các trung tâm cứu trợ của chính phủ để lãnh đồ cứu trợ. Ngoài ra, đôi khi họ cần sự xác nhận danh tánh từ làng của mình hay từ người giám sát khu láng giềng trước khi họ có thể lãnh được vật gì. Ðể cung ứng sự trợ giúp khẩn cấp đến các nạn nhân, các đồng tu chúng tôi đã tụ tập tại Trung Tâm Nantou của chúng tôi và chia ra làm hàng trăm toán, mỗi toán được hướng dẫn bởi một đồng tu ở địa phương Nantou. Các toán này đã đi đến nhiều khu phố, dùng xe van du lịch và xe jeep để mang lều, túi ngủ, vải bố, sữa bột, nước khoáng chất, mì, và các vật liệu khác đến các đơn vị gia cư bị thiệt hại. Ðối với những nơi không thể nào đến được bằng xe thì các toán cứu trợ đi bộ từng nhóm hai hay ba người leo núi, vượt sông để mang các vật liệu cứu trợ đến các khu vực bị thiệt hại. Thường thường sau nửa khuya họ mới trở về lại Trung Tâm Nantou.

Vào những ngày sau trận động đất hôm 21 tháng 9, một loạt các cơn hậu địa chấn đã xảy ra, và những cục đá rơi xuống thường chỉ cách chúng tôi vài tấc. Chúng tôi cần đến sự gia trì của Thượng Ðế để có thể đi sâu vào trong núi. Dưới sự che chở của Ngài, các đồng tu chúng tôi chẳng màng gì đến chính mình, thám hiểm sâu vào trong các khu rừng núi, nơi mà không có ai đặt chân đến. Những khu này bao gồm các làng bộ lạc nhỏ ở thôn phố Yuchih và Tonghuang, dãy núi chạy đôi của Chiufen ở thôn phố Kuosing, Pinting ở Shuangwen, đập nước trên Núi Shuili, thôn phố Jenai, và các ngọn đồi ở Wushe. Thậm chí toán cứu thương của chúng tôi còn leo núi để đến Wushe và phải rời khỏi nơi đó bằng phi cơ trực thăng vì nạn đất lở.

Các đồng tu chúng tôi đã thăm viếng cả 13 làng phố tại những khu vực bị thiệt hại, gồm cả những nơi xa xôi hẻo lánh nhất để an ủi các nạn nhân. Ngoài việc cung cấp các vật liệu cứu trợ tổng quát ra, chúng tôi cũng còn cung cấp cho họ các vật liệu nhu yếu cho các nhu cầu đặc biệt. Những thứ này bao gồm khăn vệ sinh và nhiều loại sữa bột cho các hài nhi. Từ công tác này, chúng tôi đã học được cách cung cấp trợ giúp đúng lúc cùng thỏa mãn được các nhu cầu khẩn thiết của dân chúng.

Ngoài việc phân phát các vật liệu cứu trợ cho các nạn nhân ra, chúng tôi còn huy động trên 50 xe vận tải nhẹ và các xe van du lịch bốn bánh do các đồng tu Formosa cung cấp. Gặp nhau tại Trung tâm Chỉ Huy Cứu Trợ Chính Phủ Quận Nantou, các đồng tu đã giúp chuyên chở vật liệu cứu trợ đến nhiều khu phố khác nhau khắp Formosa. Quả thực, chúng tôi đã làm việc một cách âm thầm để đẩy mạnh công tác cứu trợ của chính phủ được nhanh chóng. Ngay cả trước khi báo chí kêu gọi chính phủ cung cấp các nhà vệ sinh lưu động ba ngày sau trận động đất, các đồng tu đã âm thầm mua hơn 20 nhà vệ sinh lưu động từ Cao Hùng một ngày trước đó, và đã chuyển đến Chungliao, Chichi, và Puli. Sự lo nghĩ cho nhu cầu khẩn cấp nhất của các nạn nhân thật sự rất là cảm động. Ðó là tình thương của Thượng Ðế đang làm việc.

Chủ Tọa: Giờ chúng ta hãy tiếp tục. Bài diễn văn của ông cựu Giám Ðốc Ke rất hay. Lẽ dĩ nhiên chúng ta quan tâm đến Formosa hơn là Ðông Nam Á, nhưng vì tiết mục của chúng ta hôm nay là người Trung Hoa tại Ðông Nam Á, nên đầu tiên chúng ta hãy tiếp tục với chuyện đó đã. Một số quý vị ở đây vẫn còn có câu hỏi liên hệ đến các hoạt động của Sư Phụ ở Formosa. Chúng ta có thể thảo luận sau. Có lẽ vị phụ nữ này vẫn còn điều gì muốn nói về Formosa, nhưng xin bà vui lòng đặt câu hỏi của mình sau. Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục đề tài Ðông Nam Á của mình.

Hình: 1. Sau khi trận động đất ngày 21 tháng 9, 1999 tại Formosa, Ðồng tu giúp đỡ bằng mọi cách tại những vùng bị ảnh hưởng

2. Những nạn nhân động đất của Formosa dùng lều do Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư cung cấp.

Phóng Viên: tôi là phóng viên của tờ United Daily News. Thanh Hải Vô Thượng Sư, trước kia Ngài đã nói về nhóm của Ngài không phải là một tổ chức chặt chẽ, nhưng tôi tò mò về cấu trúc làm việc của nó. Thí dụ, có nhiều quốc gia ở Ðông Nam Á. Làm thế nào Ngài kêu gọi các đồng tu tình nguyện quyên góp nhiều tiền trong một tổ chức không chặt chẽ như vậy? Chẳng hạn Hội Phật Giáo Từ Thiện Tzu Chi, có một ngân quỹ nhất định. Nếu Ngài chỉ kêu gọi các hội viên của Ngài đóng góp khi có việc cần, và gởi tiền đến đó mua mọi thứ, thì tiến trình sẽ gặp nhiều điều phức tạp. Vì vậy, tôi rất là tò mò là làm thế nào mà Ngài hoàn tất việc này ở Ðông Nam Á.

THVTS: Cũng chỉ giống vậy thôi. Chúng tôi thật ra không có tổ chức gì cả. Nếu quý vị muốn, quý vị có thể đến để điều tra. Chúng tôi chỉ đóng góp những gì chúng tôi có đủ sức cho. Tôi cho cái gì mà tôi có, và quý vị cho cái gì mà quý vị có thể cho. Chúng tôi thâu thập tất cả và gởi đi. Chúng tôi làm việc một cách tình nguyện. Ðây là công việc của Thượng Ðế. Một khi Thượng Ðế ở trong chúng ta thức tỉnh, Ngài sẽ biết làm thế nào để cứu thân nhân và bè bạn chúng ta. Không cần phải tổ chức gì cả. Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư được thiết lập theo chỉ thị của nhà nước.

Nhà cầm quyền nói rằng chúng tôi phải thành lập một tổ chức để họ có thể có danh sách của các hội viên, và chúng tôi đã có vài trăm người ký tên là hội viên. Nếu không, thật sự mà nói thì chúng tôi không có hội viên nào cả. Chúng tôi có thẻ Tâm Ấn để chứng minh rằng chúng tôi thật sự là những đồng tu khi chúng tôi đi bế quan. Nó chứng tỏ rằng chúng tôi đi đến đó để tọa thiền, không phải để gây phiền phức. Chúng tôi không có một tổ chức nào cả; tất cả đều là những người tình nguyện.Những người tu học về tâm linh thì nên thoải mái và vô tư lự. Chúng tôi không thể đòi hỏi họ thường xuyên làm bất cứ gì hay là trả lệ phí hàng năm.Ý tưởng đó chưa hề xảy ra với chúng tôi. Chúng tôi chỉ muốn nhắc nhở họ về Bản Tính Thượng Ðế của họ, và tùy họ muốn làm gì thì làm. Họ tự do đóng góp hay không đóng góp. Khi họ đến Trung Tâm của chúng tôi, họ không phải trả tiền ăn, thức uống, hay chỗ ở. Ðiều đó hoàn toàn tùy họ quyết định rằng họ nên làm một điều gì đó hay là đóng góp tiền bạc. Khi có thiên tai, mọi người có bổn phận đóng góp và chia xẻ trách nhiệm. Nó không phải là trách nhiệm của riêng người nào. Ðiều này có đủ rõ ràng cho vị phóng viên nhà báo United Daily News không?

Vị Chủ Tịch: Chúng ta hãy tiếp tục cuộc thảo luận. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên để thêm thời giờ để thảo luận bởi vì Thanh Hải Vô Thượng Sư cho chúng ta biết nhiều hơn trong một cuộc trao đổi như vầy. Quý vị nên hiểu ý của Ngài và ý nghĩa ẩn phía sau những lời của Ngài. Chúng ta tuyệt đối không thể thực hiện được công việc một cách hữu hiệu mà không có một tổ chức, vì vậy, đây mới thật sự là một phương pháp tổ chức ở một trình độ "vô thượng". Có lẽ quý vị có những câu hỏi khác cho Vô Thượng Sư.

Ông Wen Chin-Ko, Tổng Giám Ðốc Cơ Quan Truyền Thông Trung Ương: Thanh Hải Vô Thượng Sư, đây là một vinh dự lớn cho tôi được gặp Ngài! Tôi đã nghe về Ngài và đã khâm phục Ngài từ lâu. Vì tôi tu học theo Phật Giáo, tôi muốn hỏi Ngài một câu hỏi nhỏ có liên quan đến Phật Giáo. Chúng tôi biết rằng Ngài đã đạt đạo trước khi Ngài đến Formosa. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng đầu tiên Ngài xuất hiện ở Formosa trong hình thức của một tì-khưu ni (ni-sư Phật Giáo). Từ quan điểm của cộng đồng Phật Giáo, chúng tôi thắc mắc vì sao Ngài đến với xã hội của người Formosa như là một Phật Tử.

THVTS: Ðịnh mệnh của tôi là phải một vị sư trong một thời gian. Quý vị có thể hỏi Thượng Ðế nếu quý vị muốn. [Khán giả cười] Thí dụ, một số người trong chúng ta phục vụ trong quân đội trong hai năm, nhưng một số biến nó thành sự nghiệp trọn đời của họ. Mỗi người có một định mệnh khác nhau. Mọi việc đều được an bài bởi một định mệnh.

Ông Wen: Ngài đang nói rằng đó không phải là do quyết định của Ngài sao?
THVTS: Dĩ nhiên đó là quyết định của tôi, nhưng chúng ta chỉ làm điều gì mà Thượng Ðế bảo chúng ta làm.

Ông Wen: Nếu đó là quyết định của Ngài, thì khi đó những yếu tố nào khiến cho Ngài cân nhắc đến?

THVTS: Tôi không nghĩ đến điều gì cả. Tôi chỉ làm điều gì mà Thượng Ðế bảo tôi làm, như vậy đơn giản hơn.

Ông Wen: Câu hỏi của tôi là tại sao Ngài đã không xuất hiện trong địa vị nguyên thủy của Ngài, hoặc là tại sao Ngài đã không chọn xuất hiện, thí dụ, như một người đạo Tin Lành, Công Giáo, hay Hồi Giáo. Tại sao Ngài chọn đến như là một Phật Tử? Tôi nghĩ rằng phải có một lý do cho sự quyết định của Ngài. Ngài có thể nói cho chúng tôi biết điều đó không?

THVTS: Tôi mới vừa nói. Nếu Thượng Ðế muốn chúng ta làm một điều gì thì chúng ta chỉ làm điều đó; đây là cách đơn giản nhất. Chống đối lại ý chỉ của Ngài thì phức tạp hơn. Một khi chúng ta đã được khai ngộ, cuộc sống của chúng ta trở thành đơn giản hơn, bởi vì Thượng Ðế an bài tất cả mọi việc cho chúng ta. Nếu Ngài bảo chúng ta làm điều gì, chúng ta chỉ cần vâng lời Ngài. Chúng ta không dùng đầu óc của mình để cãi vã với Ngài như chúng ta từng làm, hay cầu nguyện với Ngài điều gì mà chúng ta nghĩ là có lợi ích hay thích hợp hơn cho người thế gian. Hãy dùng tôi để làm thí dụ: Nếu tôi thật sự có sự lựa chọn, tôi sẽ không mặc những y phục và trang sức nặng nề như vầy. Khi tôi về đến nhà, tôi lột chúng ra nhanh như chớp. Thông thường, nếu không phải đi thuyết pháp hay gặp mọi người, tôi không mặc những bộ trang phục lễ nghi như thế này, khiến cho tôi cảm thấy không được thoải mái. Tôi thích ăn mặc giản dị và đi lại chung quanh như chẳng là ai cả. Vì thế, tôi chỉ làm điều gì mà Thượng Ðế bảo tôi làm. Có lẽ quý vị sẽ ở trong một hoàn cảnh như thế một ngày nào đó rồi quý vị sẽ hiểu. Tôi đã phản đối Ngài nhiều lần, nhưng vô ích! Vì vậy, tôi chỉ bỏ cuộc. Ngài dạy tôi phải biết đầu hàng. Quý vị có thỏa mãn với câu trả lời của tôi không? Nếu quý vị vẫn còn nghi ngờ, xin cứ hỏi.

Ông Wen: Xin lỗi, tôi vẫn còn một vài điều để nói. Tôi có một lý do để hỏi câu hỏi này. Riêng bản thân tôi, tôi rất kính trọng Ngài, nhưng tôi không nghĩ rằng cộng đồng Phật Giáo của Formosa có lòng thân thiện với Ngài và có một vài hiểu lầm giữa Ngài và cộng đồng này. Ðây có lẽ bởi vì Ngài đã từng là một thành viên của cộng đồng này, nhưng các tín đồ Phật Giáo thấy rằng giáo lý của Ngài lại khác biệt. Vì thế, từ quan điểm thế tục, tôi nghĩ rằng chiến thuật của Ngài là... có lẽ tôi không biết, Ngài có thể nói rằng đó là Thiên Ý. Nhưng tôi cảm thấy đó là một điều thật đáng tiếc. Tôi nghĩ rằng Ngài đang chia xẻ một Pháp Môn thật tự do và tràn đầy sức sống, và dù vậy bản chất nó tự bên trong lại rất uy nghiêm. Ðây là một phương pháp xuất chúng hoặc là một cách dạy dỗ rất hay. Nếu vì một lý do nào đó, có một sự hiểu lầm hay một kinh nghiệm không vui giữa Ngài và những nhóm tôn giáo hiện tại, tôi xin nói rằng đó là một điều vô cùng đáng tiếc. Vì thế, tôi rất muốn biết lý do.

Tôi Sống Ðể Nhắc Nhở Mọi Người Về Sự Vĩ Ðại Của Chính Họ
THVTS: Tôi là một vị sư trong tiền kiếp, nhưng sứ mệnh của tôi chưa được hoàn tất, vì vậy tôi phải trở lại để làm cho xong giai đoạn cuối. Một khi tôi đã hoàn thành công việc, tôi không phải làm nữa; có thế thôi. Ngài rất đúng về điều ngài đã nói. Tuy nhiên, cho dù tôi đã chưa hề là một vị sư mà sau đó thay đổi, người ta cũng sẽ vẫn hiểu lầm tôi. Chúa Giê Su Ki-tô chưa bao giờ là một vị sư, nhưng Ngài cũng bị đóng đinh. Ðức Phật Thích Ca là một vị sư cả cuộc đời của Ngài, tuy vậy, một người nào đó đã cố ý làm cho Ngài bị thương tích ở chân. Ngài đã cả đời chịu đựng sự khinh bỉ của những người khác và vẫn còn là mục tiêu của sự phê phán cho tới ngày nay. Ngài đã không được vãng sinh trong sự thanh tịnh; vẫn còn có người công kích Ngài. Hôm nay, vẫn còn có người hiểu lầm Chúa Giê Su Ki-tô, vậy thì quý vị mong mỏi điều gì cho một người đàn bà không nghĩa lý gì cả như tôi, người nói những điều mà người ta không hiểu? Dĩ nhiên, nếu cả thế giới có thể hiểu những gì tôi nói thì chúng ta sẽ không còn ở trong chiều hướng này. Chúng ta sẽ không gọi nó là "Ðịa Cầu" mà thay vào đó là "Thiên Ðàng".

Tôi đến thế giới này và tôi sống nơi đây không phải để làm hài lòng tập tục, cũng không phải để được sự khen ngợi và chấp thuận. Tôi sống để nhắc nhở mọi người về sự vĩ đại của chính họ. Tôi cố hết sức mình để làm càng nhiều càng tốt và nhắc nhở càng nhiều người càng hay. Khi thời điểm đến, chúng ta phải ra đi, dù rằng chúng ta tốt lành hay đê tiện, dù chúng ta mặc quần áo đẹp đẽ hay xấu xí. Tôi không còn nhiều thời giờ nữa. Tôi đang chồng chất thêm những tháng năm.

Ông Wen: Cảm ơn Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư. Tôi rất thích câu trả lời của Ngài. Xin cảm ơn Ngài.

THVTS: Xin cám ơn quý vị! Quý vị thích nó là điều rất tốt. Tôi rất thích nghe như vậy. [Mọi người vỗ tay]

Chủ Tọa: Kính thưa quý vị, chúng ta đã dành thêm thời giờ cho phần thứ nhất này để có thể bàn luận thêm những đề tài có chất lượng. Theo chương trình của chúng tôi, phần thứ nhì sẽ tập trung vào thứ nhất là sự thành công của Thanh Hải Vô Thượng Sư về việc truyền bá Pháp Môn Quán Âm ở Ðông Nam Á; thứ nhì, những khó khăn chính mà Ngài phải đối phó; và điều thứ ba, những viễn tượng Ngài dự định cho tương lai. Xin Ngài vui lòng thảo luận về những thành quả chính trong việc truyền bá cho người Trung Hoa ở Ðông Nam Á, những trở ngại chính mà Ngài đã gặp, làm cách nào để Ngài giải quyết được những khó khăn này, cùng những kế hoạch và dự tính gì mà Ngài có cho sự phát triển trong tương lai?

THVTS: Chúng tôi tu tập về tâm linh trong tĩnh lặng để tự giúp mình. Chúng tôi trở thành vui vẻ hơn, những thói quen cũ và những khái niệm xấu dần dần phai nhạt đi. Ðó là lý do tại sao Phật Thích Ca đã phải tu hành một thời gian dài trước khi Ngài đạt được quả vị Phật; Ngài đã không đạt được quả vị này chỉ trong một ngày. Mọi việc sẽ trở thành tệ hại hơn nếu mọi người không tu hành. Theo sự quan sát của tôi trong cả một thập niên, những đồng tu của chúng tôi đã tiến bộ rất nhiều sau khi tu thiền, và điều này thật rất huy hoàng! Như quý vị đã thấy, chúng tôi không những chỉ làm lợi ích cho chính mình, mà còn phục vụ cho xã hội. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể chứng minh được những thành quả tâm linh bên trong. Có thể sau một thời gian quan sát lâu dài, chúng ta có thể nói rằng một người nào đó có thói quen hay chửi rủa, cãi cọ, hoặc là ngay cả đánh đập người khác, đã trở nên hiền lành, và đã cải thiện qua việc tu hành tâm linh. Nhưng chúng ta không thể nói điều đó một cách dễ dàng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã giúp ích được cho xã hội. Câu hỏi sau cùng của quý vị, thí dụ, về việc làm cách nào mà chúng tôi tập trung được nhiều người một cách nhanh chóng để giúp đỡ những người khác. Ðây là vì Thượng Ðế Tánh của chúng tôi đã thức tỉnh; chúng tôi trở nên có tình thương hơn và biết phải làm gì một cách chính xác. Chúng tôi nhìn người khác đau khổ cũng như chính mình đau khổ, vì vậy chúng tôi không do dự trong việc cứu giúp xã hội. Chúng tôi làm những gì có ích cho xã hội.

Ðôi khi, các đồng tu của chúng tôi gặp nhiều khó khăn hay kinh nghiệm nhiều sự đau khổ trong lúc làm việc ở hải ngoại, rồi họ tọa thiền cùng với nhau, họ phấn khởi và trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng, khi họ không tiến bộ lên cao trong việc thiền định, họ nói chuyện với những người khác và giúp đỡ lẫn nhau.

Dĩ nhiên quí vị sẽ gặp khó khăn trong bất cứ công việc gì quí vị làm, không phải là các sự khó khăn này chỉ thuộc độc quyền về các nhóm hoạt động tôn giáo, hoặc là những nhóm chia xẻ Chân lý như chúng tôi. Thí dụ, những vị là giảng sư đôi khi gặp phải những sinh viên khó dạy. Ðôi khi công việc bận rộn của quí vị có thể làm suy yếu sức khỏe; quí vị có thể phải hi sinh những giấc ngủ ban đêm, và vẫn phải chăm sóc cho gia đình và có thể lại còn phải hoàn thành những bổn phận khác. Làm cha mẹ cũng có những điều khó khăn của nó. Làm một vị giảng sư không phải là một công việc vô tư lự không có vấn đề gì cả. Dĩ nhiên chúng tôi những người tu hành tâm linh phải giúp đỡ kẻ khác. Và trong sự tu hành tâm linh, chúng tôi sẽ gặp phải những chướng ngại và sự hiểu lầm. Tuy nhiên, chúng tôi đã chấp nhận sự việc xã hội này là như vậy. Chúng tôi làm công việc của mình mà không ham muốn sự khen ngợi hoặc sự chấp thuận từ những người khác, cho nên chúng tôi không bị thất vọng.

Chúng tôi phát triển ra sao trong tương lai tùy thuộc vào ý chỉ của Thượng Ðế. Tôi sẽ sống nếu Ngài muốn tôi sống, và nếu Ngài không muốn, tôi sẽ nói "bái bai" - chỉ đơn giản như vậy. Một số trong quí vị hỏi làm cách nào chúng tôi có thể tổ chức và phát triển tốt đẹp đến như vậy. Tất cả đều xảy ra rất tự nhiên. Tôi không thật sự làm gì cả. Tôi chỉ nói, "Ðược! Không!", "Ðược! Tôi sẽ đến!" hoặc là "Tôi không đến được!" Chỉ có vậy thôi. Tôi không làm gì cả, và tôi cũng không bảo họ điều gì hoặc thống trị bất cứ ai. Tôi rất ít khi gọi điện thoại cho họ; thỉnh thoảng tôi chỉ gọi khi xảy ra thiên tai. Thí dụ như sư huynh Lin. Tôi không gọi cho ông hoặc các liên lạc viên mỗi ngày. Quí vị hãy hỏi những đồng tu và liên lạc viên của chúng tôi xem bao nhiêu người nhận được điện thoại do tôi gọi. Không ai cả, trừ khi có xảy ra thiên tai hoặc khi có việc phải làm.

Những lúc đó tôi yêu cầu họ kêu gọi sự giúp đỡ từ các đồng tu. Nếu họ không đủ tiền, chúng tôi đóng góp những gì chúng tôi có thể đóng góp được từ Trung Tâm. Chỉ khi đó tôi mới phải gọi điện thoại; nếu không, tôi không cần gọi. Họ ngay cả cũng không biết là tôi đã đến đây [Formosa]. Chỉ khi tôi xuất hiện trên diễn trường họ mới nhận biết, "ồ! Sư Phụ ở đây!" Trước đó, họ không biết chút gì là tôi đang ở đâu hoặc đang làm gì. Tôi không làm phiền hoặc thống trị người khác, cũng không thực hành việc thống trị họ từ xa. Tôi không làm vậy! Họ tự động làm việc. Bởi vì họ đã hưởng được hương vị của hạnh phúc, họ muốn chia xẻ với những người khác, do tình thương của họ. Mọi việc xảy ra như vậy một cách tự nhiên. Tôi không có dự tính gì cả.

Sự Khác Biệt Giữa Các Nhận Thức Về Ý Nghiã Tôn Giáo
Chủ Tọa: Tôi nghĩ rằng các hội viên của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư có một sự hiểu biết sâu xa về Vô Thượng Sư hơn là những người bình thường như chúng ta. Giờ chúng ta hãy nhanh chóng liếc mắt qua trang 29 và 30 trong chú thích, nơi có đề cập đến những thành quả chính của Ngài. Những trang này ghi, "Ðánh thức và nâng cao đẳng cấp của nhân loại về thể chất, tinh thần và tâm linh." Thành quả thứ nhất là những đệ tử, sau khi đã trải qua một đời sống tâm linh qua hơn một thập niên, đã bắt đầu kết chặt lại thành một lực lượng hùng hậu để tiến vào một kỷ nguyên mới. Thành quả thứ hai là những công trình của họ trong các công việc từ thiện và cứu trợ thiên tai. Chúng ta vừa mới nghe lời điều trần của ông cựu giám đốc Ke của hội. Thành quả thứ ba là sự phát triển việc ăn chay, và thứ tư dĩ nhiên là việc đẩy mạnh một quan niệm sống được xây dựng nền tảng trên Chân Thiện Mỹ. Chúng ta hãy tiếp tục bàn về sự khó khăn mà hội của Ngài đã gặp phải trong hai lãnh vực - sự khác biệt giữa các nhận thức về ý nghiã tôn giáo và những khía cạnh của đời sống. Sự khác biệt giữa các nhận thức về ý nghiã tôn giáo có nghĩa là, hiểu biết bản chất đích thực của những tôn giáo." Những chú thích ở đây đã đề cập đến một vài sự khác biệt, mà chúng ta hy vọng là Thanh Hải Vô Thượng Sư sẽ giải thích thêm. Ở đây có đề cập đến thể nghiệm đồng nhất với Thượng Ðế. Làm cách nào mà điều này có thể thực hiện được? Ðây là một câu hỏi.

THVTS: Giả sử quí vị đang đi ăn tại một nhà hàng, và quí vị biết rõ rằng nhà hàng này có phục vụ thức ăn ngon hay không. Nếu quí vị bảo người nào đó đang đọc thực đơn ở bên ngoài rằng món súp ngon tuyệt ra sao, hương vị rau trộn ngon lành như thế nào, và quí vị chắc chắn sẽ trở lại nhà hàng này nữa, người này có hiểu quí vị nói gì không? Hầu như là không. Ðây mới là vấn đề. Mọi người đều nói về Thượng Ðế và ca ngợi Ngài, nhưng rất ít người có thể thật sự tiếp xúc và nói chuyện với Ngài, hoặc là hỏi Ngài một số câu hỏi. Chúng tôi có thể làm như vậy được bởi vì chúng tôi hiện giờ đã nhớ lại Bản Tánh Chân Thật của mình. Chúng ta không phải là thân thể con người tầm thường như vầy. Chúng ta đã hiện hữu trước khi nhục thể này hiện hữu và chúng ta sẽ tiếp tục hiện hữu sau khi chúng ta rời khỏi nhục thể này. Ðây là Chân Tánh của chúng ta, mà chúng ta gọi là "Thượng Ðế bên trong" hoặc là "Phật tánh bên trong". Do đó, chúng tôi nhận biết được rằng Thượng Ðế yêu thương và bảo vệ chúng tôi, dạy dỗ chúng tôi mỗi ngày ra sao, giúp đỡ chúng tôi giải quyết các vấn đề, và phát triển tình thương của chúng tôi. Chúng tôi có thể tham khảo với Ngài khi chúng tôi có vấn nạn. Người đọc chiếc thực đơn bên ngoài lúc nào cũng ca ngợi Thượng Ðế, nhưng ông ta chưa bao giờ nói chuyện với Ngài, cho nên dĩ nhiên rất khó cho ông hiểu được những lời giải thích của chúng tôi. Trước khi ông ta thưởng thức các món ăn, rất khó để cho chúng tôi chứng minh cho ông biết những món này thơm ngon ra sao. Tôi có thể không có kiến thức như một vị giảng sư, tôi chỉ có thể nói những lời đơn giản.

Ðịnh Nghiã Chân Thực Của "Sự Trao Truyền Vượt Trên Giáo Lý"
Còn nói về làm cách nào "chúng tôi trở thành đồng nhất với Thượng Ðế," điều này không thể giải thích bằng lời được. Trong lúc trao truyền, hai chúng tôi chỉ ngồi tĩnh lặng, trong khi sự trao truyền được thực hiện từ tâm sang tâm. Thượng Ðế nói chuyện với vị Thượng Ðế bên trong chúng tôi, và không có chỗ nào để cho lời nói. Chúng tôi có nói trước đó, nhưng chỉ là để bảo quí vị nên ngồi ra sao, và không có vấn đề gì nếu quí vị ngồi xếp bằng hay không xếp bằng trong khi thiền định, và làm cách nào để thư giãn và chú ý tập trung ở nơi nào, để quí vị có thể thấy được Thượng Ðế và tiếp xúc với Ngài. Những điều này chỉ là những hướng dẫn bằng lời. Sau đó, khi tâm ấn thực sự xảy ra, không ai nói lời nào. Ðó là tâm ấn, sự trao truyền từ tâm sang tâm, và sự "trao truyền vượt trên giáo lý". Nó được gọi như vậy bởi vì nó không thể tìm thấy được trong kinh điển. Chúng ta đã có Thượng Ðế và Phật bên trong chúng ta ngay từ nguyên thủy, cho nên ai có thẩm quyền để dạy một vị Phật hoặc Thượng Ðế phải làm gì? Ðiều đó chỉ thực hiện được sau khi Chân Tánh của chúng ta tỉnh dậy. Ðây giống như là lấy hai ngọn nến, một ngọn đã được thắp sáng. Khi chúng ta chạm ngọn nến kia vào ngọn này, nó cũng sáng lên. Bản chất sáng đã có sẵn trong các ngọn nến; chúng chỉ cần người nào đó thắp lên. Tiến trình này không cần lời nói hoặc giáo lý; điều cần thiết duy nhất là một ngọn đèn để thắp sáng nó lên. Nếu không có ngọn đèn, dù rằng quí vị có nói chuyện về nó hoặc van nài nó cả hàng ngàn năm, nó cũng không sáng lên.

Chủ Tọa: Xin cám ơn! Một điều khó khăn được đề cập đến ở đây có liên quan đến đời sống hàng ngày, bởi vì Vô Thượng Sư Thanh Hải đòi hỏi một phép ăn chay hoàn toàn. (Sư Phụ: Phải!) nếu Ngài đòi hỏi người khác phải theo một phép ăn chay nghiêm khắc, họ có thể do dự để đến với Ngài bởi vì họ có thể gặp khó khăn thực hành điều này. Ðây là vấn đề. Giả sử Ngài nói, "Không sao, quí vị chỉ cố gắng hết sức để ăn chay," và như vậy rất nhiều người sẽ gia nhập vào nhóm của Ngài. Ngài sẽ làm sao để vượt qua khó khăn này trong sự phát triển tương lai?

THVTS: Chúng tôi không thực sự muốn vượt qua nó! [Khán giả cười] Ông ta là một vị Phật và ông ta là Thượng Ðế. Nếu ông ta muốn thức dậy, thì chúng tôi đưa tay giúp cho ông. Ông ta là ngọn nến đáng lẽ phải sáng lên. Nếu ông ta muốn sáng lên, thì ông phải đến gần để chúng tôi có thể thắp sáng cho ông. Nếu ông ta không muốn, ông có thể ở đó trong bóng tối một vài ngàn năm; chúng tôi sẽ không làm phiền ông. Bổn phận của một vị Phật là phải là một người ăn chay. Ðể làm một vị Phật, phải làm như là Phật Thích Ca: có lòng từ bi, yêu thương tất cả mọi chúng sanh, và chỉ dùng những thức ăn chay. Chúng tôi ăn một ít rau chỉ vì chúng tôi không có cách nào khác. Do đó, chúng tôi không ăn nhiều lắm, chỉ vừa đủ, no khoảng 80 phần trăm, không ngập đến cổ. Tôi chỉ ăn một, hoặc nhiều nhất, là hai bữa mỗi ngày. Tôi ăn nhiều hơn chỉ khi nào tôi thật sự quá mệt mỏi. Do đó, người ta sẽ tự quyết định là họ có trở thành người ăn chay hay không; tôi vừa mới nói chúng tôi không muốn cầm quyền bất cứ ai. Chúng tôi đứng cạnh bên sẵn sàng giúp đỡ. Nếu họ muốn đến, chúng tôi bảo họ những điều nên làm; nếu họ không muốn, thì lần sau họ đến cũng được, và bỏ thêm thì giờ để suy nghĩ về điều này. Họ là Thượng Ðế; Họ là những vị sẽ quyết định khi nào họ muốn tỉnh dậy.

Chủ Tọa: Phần này ngắn hơn, vì mục đích chính của chúng ta là muốn hiểu rõ hơn một số điểm từ quan điểm khoa học và tôn giáo. Chúng ta cảm tạ Vô Thượng Sư về những câu trả lời của Ngài. Chúng ta sẽ tiếp tục sang phần thứ hai, và một lần nưã xin mời Giảng Sư Ruaan cho lời bình hoặc đáp lại những lời của Vô Thượng Sư trong cuộc luận bàn trước đây.

Giảng Sư Ruaan: Từ phần vấn đáp này, tôi dường như thấy một lỗ hổng ở đây, giữa một người nói chuyện về thể nghiệm cá nhân của bà như một người tu hành tâm linh và một người khác đang cố gắng một cách khách quan để đạt đến sự hiểu biết và kiến thức về một vấn đề. Vấn đề có vẻ như là có một lỗ hổng giữa một kẻ bên trong và một kẻ bên ngoài. [Khán giả cười]

Trong phần hai, cá nhân tôi muốn đào sâu về phần "Nhìn về quá khứ và nhìn đến tương lai." Tại đây, chúng ta có một số tài liệu về tư tưởng và quan niệm. Là một học giả về ngành lịch sử, tôi nghĩ rằng đã có nhiều chinh chiến giữa nhân loại trong khắp các thời đại trong lịch sử được ghi chép. Mặc dầu chiến tranh đã đem lại những khổ ải và sự đớn đau vô cùng cho nhân loại, chúng ta vẫn không đủ khả năng để chấm dứt nó, ngay cả cho đến ngày hôm nay. Nhìn bề mặt, chiến tranh có vẻ như là một cuộc tranh chấp quân sự; nhìn từ một chiều hướng sâu xa hơn, cuộc tranh chấp này có liên quan đến những nguồn lợi kinh tế và lực lượng chánh trị. Ở một chiều hướng sâu xa hơn nữa, chúng ta thấy rằng nó là cuộc tranh chấp giữa các nguồn văn hóa. Và các yếu tố tôn giáo, các sự dị biệt và đối chọi, ít nhất là trong một số thời kỳ, đã là nguyên nhân của những sự tranh chấp giưã các nguồn văn hóa.

Nhân Loại Chỉ Có
Ðộc Nhất Một Tôn Giáo
Chúng ta thấy rằng Thanh Hải Vô Thượng Sư, qua nhiều năm dài, đã thúc đẩy sự hòa đồng tôn giáo và quan niệm hòa bình thế giới. Một số quí vị tại đây có thể đã quán sát Vô Thượng Sư từ lâu, nhưng một số có thể chỉ mới đọc về những điều này trên những tài liệu. Tôi đã để ý thấy rằng Ngài đã và đang thúc đẩy sự hòa đồng giữa các tôn giáo và quan điểm thế giới hòa bình. Ngài đã đưa ra quan điểm rằng chỉ có một tôn giáo cho nhân loại. Vài ngày trước, trong tờ Trung Quốc Thời Báo China Times, chúng ta đã đọc một bài phỏng vấn giữa Ngài và một đài truyền thanh của Nam Phi. Ngài đã đề xướng rằng nhân loại chỉ có một tôn giáo và các tôn giáo khác nhau thật sự đều chiêm bái cùng một Thượng Ðế, ngoại trừ rằng Thượng Ðế được biết đến qua nhiều tên gọi khác nhau của những nền văn hóa khác nhau, và những tên gọi này khác nhau do bởi những ngôn ngữ khác nhau. Tôi nghĩ rằng đó là một quan niệm cao cả và tuyệt diệu. Nếu tất cả các tôn giáo có thể chấp nhận quan điểm này, họ sẽ kính trọng lẫn nhau, và từ từ sẽ học hỏi để thương yêu và trở thành hòa đồng với nhau. Ðó sẽ là một ân sủng cho nhân loại. Vô Thượng Sư đã kêu gọi và diễn đạt sự ủng hộ của Ngài cho việc triệu tập một đại hội tôn giáo thế giới để kêu gọi các nhà lãnh đạo tôn giáo của những đạo lớn, cũng như là các nhà lãnh đạo tâm linh, đến với nhau, để cầu nguyện cho hòa bình thế giới và để đưa ra những đề nghị cho sự ích lợi của cộng đồng thế giới. Ðiều này sẽ giúp đỡ rất nhiều cho sự tiến đến hòa đồng tôn giáo và hòa bình thế giới.

Tôi đã đọc từ những bản tường trình tin tức thế giới là Ðức Giáo Hoàng Phao Lồ Ðệ Nhị, trong một buổi lễ tại Thánh đường Vatican vào ngày Lễ Ân Xá (12 tháng Ba) năm nay, Ngài công khai thú nhận trước thế giới những tội lỗi mà Tòa Thánh Thiên Chúa Giáo La-Mã đã phạm trong hai thiên niên kỷ qua và cầu xin sự tha thứ của Thượng Ðế. Sự thú tội và xin ân xá như vậy từ một vị lãnh đạo của một tôn giáo lớn nhất trên thế giới nhân danh Tòa Thánh của Ngài từ trước đến giờ là việc chưa từng có trong hai ngàn năm. Ðiều này đòi hỏi sự thành tâm, lòng can đảm và trí huệ rất cao cả! Khi chúng ta nghe tin này, trái tim chúng ta không chút nào cảm thấy có sự kết tội hoặc khinh miệt. Ngược lại, chúng ta cảm thấy xúc động và phấn khởi. Tin tức tốt đẹp này trong mùa xuân đầu tiên của năm đầu tiên của thế kỷ 21 cho chúng ta một lý do để ôm ấp một quan niệm lạc quan hướng về tương lai của nhân loại và thế giới. Vô Thượng Sư của chúng ta thường nói về sự tiến vào một kỷ nguyên mới và thời đại hoàng kim. Có thể là điều này cuối cùng không hẳn chỉ là một giấc mơ.

Tôi muốn đề cập đến một điểm khác sau khi đọc thời biểu của Vô Thượng Sư trong những cuộc du hành thuyết pháp lớn tại Ðông Nam Á. Dù chỉ là bảng tóm tắt, thời biểu này đã trải dài trên nhiều trang giấy. Sau khi đã xem qua, tôi cảm thấy khó mà tin được một vị phụ nữ nhỏ bé và mảnh dẻ như vậy, trong một thời gian ngắn ngủi, có thể lãnh đạo, phát khởi, và huy động được một lực lượng làm việc khổng lồ đến như thế; và đây chỉ là những hoạt động của Ngài trên vùng Ðông Nam Á mà thôi. Nó không bao gồm những hoạt động tương tự khác từ những vùng khác trên thế giới. Nếu đây là sự thật, thì nó phải đòi hỏi một tình thương lớn lao và sự bền bỉ kiên nhẫn để có thể hoàn thành. Tôi đã nói trong phần đầu rằng tại đây có rất nhiều học giả, chuyên gia, và các vị nghiên cứu tôn giáo đã chuyên nghiên cứu về người Trung Hoa và những niềm tin tôn giáo tại Ðông Nam Châu á. Chúng ta cũng có những vị học giả thuộc ngành "tôn giáo so sánh" là những vị có thể đặt những câu hỏi hay hơn tôi. Tại đây, thay mặt cho rất nhiều người có thể chia xẻ những ý nghĩ tương tự, tôi xin hỏi Vô Thượng Sư hai câu hỏi có liên quan nhiều hơn đến pháp môn Quán Âm.

Cánh Cửa Khai Ngộ Mở Ra Cho Tất Cả Chúng Sanh
Câu thứ nhất: chúng tôi để ý thấy trong bài phát biểu cho Ðại Hội Tôn Giáo Thế Giới tại Cape Town, Nam Phi vào tháng mười hai năm 1999, Ngài không nhấn mạnh đến giáo lý. Thay vào đó, Ngài nhấn mạnh đến phương pháp thể nghiệm sự đồng nhất với Thượng Ðế mỗi ngày. Lịch sử được ghi chép cho thấy rằng có rất ít những vị Minh Sư Giác Ngộ đã có khả năng truyền trao pháp môn Tức Khắc Khai Ngộ này. Câu hỏi của tôi là, nếu Ngài có pháp môn này, Ngài có, như các vị kia, trao truyền nó chỉ cho một số các đệ tử mà thôi? Ðiều hiển nhiên là, trước Lục Tổ Huệ Năng, các vị Minh Sư chỉ truyền cho có một đệ tử. Ngay cả Lục Tổ chỉ truyền cho khoảng mười đệ tử - Tôi không chắc chắn lắm về con số chính xác. Những vị Minh Sư trong quá khứ trao truyền pháp môn cho rất ít đệ tử, và các đệ tử của họ phải trải qua những thử thách lớn lao trước khi có thể học được pháp môn quí báu này. Tuy nhiên, Pháp môn Quán Âm ngày nay, nếu có một pháp môn như là Ngài đã diễn tả, mở rộng cho tất cả những người tìm Chân lý. Chỉ cần họ thành tâm, Ngài sẽ rộng lượng dạy họ miễn phí. Ngài cho họ đạt được một cách dễ dàng. Chúng tôi muốn biết vì sao Ngài làm như vậy. Vì sao lại có sự khác biệt lớn lao như vậy?

THVTS: Trong thời xa xưa, họ cũng dạy nhiều đệ tử. Phật Thích Ca, thí dụ, có hàng trăm ngàn đệ tử. Tuy nhiên, vài người chính, như A-Nan-Ðà và Ra-Hầu-La, có trách nhiệm truyền tông phái. Những vị đệ tử chính này, cũng như là các sứ giả Quán Âm, đã được đặc biệt huấn luyện và đã nhớ những chỉ thị truyền miệng để họ có thể truyền bá cho người bên ngoài. Tuy nhiên, hầu hết những đệ tử khác đều là người tại gia, và họ cũng không gặp phải khó khăn gì. Thí dụ như, có một vị đệ tử tại gia tên là Duy-Ma-Cật, ông không đi ra ngoài thuyết pháp, nhưng tất cả mọi người đều sợ ông. ông không cần phải đi ra ngoài giảng dạy, bởi vì ông đủ lực lượng để dạy tại nhà. Thật ra, Giê-Su Ki-tô cũng có rất nhiều đệ tử, nhưng mười hai người trong số đó luôn luôn theo Ngài và nhận được sự huấn luyện để cho họ có đủ khả năng giúp Ngài hoàn thành sứ mạng giảng dạy sau đó.

Thật ra, nếu lời ngài là sự thật, chúng ta hiện thời đang ở trong một thời kỳ khó khăn bất tiện hơn. Chúng ta cần phải nhanh chóng chia xẻ Chân lý; nếu không sẽ quá muộn. Tôi không phải là người hà tiện; tôi đóng góp tiền bạc và tất cả những gì mà tôi biết. Có lẽ bản tánh tôi là vậy.

Giảng Sư Ruaan: Có lẽ chúng ta nên mở rộng quan điểm hơn. Chúng ta không thể chỉ lo về tình trạng của Trung Quốc; chúng ta nên nhìn từ quan điểm cho toàn thể thế giới.

THVTS: Khi có những điều tốt, chúng ta cần phải loan truyền; nhưng dĩ nhiên đây là một công việc hết sức khó khăn. Tôi muốn làm như ngài đã đề nghị, trốn trong một góc và chờ cho người ta tìm ra mình. Ðiều này làm cho tôi cảm thấy mình có giá trị hơn. Còn khi mà quí vị chia xẻ chân lý trong xã hội cách này, người ta sẽ trách móc và hiểu lầm quí vị. Quí vị sẽ mất mặt. Tuy nhiên điều đó cũng chẳng sao; đây không phải là "Bản mặt nguyên thủy" của chúng ta. Chúng ta mất cái mặt này, nhưng sẽ có chiếc Mặt tốt đẹp hơn bên trong.

Giảng Sư Ruaan: Tôi có câu hỏi thứ hai, và cũng là câu hỏi chót. Từ tài liệu này, tôi hiểu rằng ngoài sự làm việc như một nhà lãnh đạo tâm linh để dẫn dắt chúng sinh tìm về Thượng Ðế và trở thành đồng nhất với Thượng Ðế, Ngài còn có một mơ ước cho thế giới này, Ngài khao khát hòa bình thế giới. Ðây là một ước mơ chung của nhân loại. Tuy nhiên, dù những người bình thường đều ước muốn hòa bình, chiến tranh thường phát sinh và phát khởi do các chính trị gia đang cầm quyền. Do đó, nói theo luận lý, nếu những chính trị gia đang cầm quyền có thể trở nên khai ngộ nhanh hơn [Khán giả cười], nó sẽ là một cách nhanh chóng và hữu hiệu để đạt được hòa bình thế giới. Vô Thượng Sư, Ngài có nghĩ rằng đây là một ý tưởng hợp lý chăng? (Sư Phụ: Rất hợp lý.) Ngài có cách nào để đạt được mục đích này?

THVTS: Ðây chỉ là một điều vô cùng hợp lý; vấn đề là họ không chịu cộng tác. Nhìn tôi mà xem, một phụ nữ nhỏ bé. Có dễ dàng cho tôi gặp mặt họ không? Quí vị hãy đem họ đến đây và tôi sẽ khai ngộ cho họ. Hai người chúng ta có thể cộng tác làm việc chung [Khán giả cười]. Thế giới này kính trọng nam giới hơn là nữ chúng. Một người được bầu vào địa vị quan trọng sẽ không thèm gặp mặt chúng ta. Họ không giết chúng ta đã là may mắn lắm rồi! Một số chánh quyền sợ những người nổi tiếng và có được sự ủng hộ của đám đông, và họ xem những người đó là cạnh tranh với họ. Những chính trị gia nghĩ rằng chúng tôi cũng thuộc về ngành kinh doanh chính trị, cố gắng đạt được tiếng tăm và lợi lộc. Do đó, những người tu hành như chúng tôi, là những kẻ cởi mở và nổi tiếng, phải đối diện với những sự nguy hiểm có thể mất mạng. Nếu có chánh quyền nào có thể chịu đựng và hiểu chúng tôi, và cho chúng tôi dạy một cách tự do, chúng tôi đã rất biết ơn rồi. Chúng tôi không bao giờ dám nghĩ đến việc họ sẽ đến với chúng tôi. Cho nên giấc mơ này của ngài là một giấc mơ rất đẹp! [Khán giả cười]

Giảng Sư Ruaan: Giấc mơ này cần có Vô Thượng Sư mới có thể hoàn thành được.
THVTS: Làm việc với thế giới này thật không dễ. Như quí vị đã biết, liên lạc với những người thế lực rất khó khăn. Họ được bảo vệ rất kỹ đến nỗi dù muốn họ cũng rất khó mà liên lạc được với chúng ta. Những người chung quanh những kẻ cầm quyền ngăn cản không cho họ gặp những người mà họ cho là không nên gặp; những người này cho họ những tin tức sai lầm và những quan điểm khác biệt. Người cầm quyền, chính ông ta, không thể thoát khỏi sự cản trở này để có thể tiếp xúc với công chúng; do đó, ông ta cũng bị bó buộc. Thật rất khó khăn, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng tìm cách, dù rằng tôi không thích mấy. Chúng ta nên để mọi sự việc phát triển một cách tự nhiên.

Chủ Tọa: Xin cám ơn rất nhiều về sự trao đổi này. Tôi nghĩ chúng ta nên trở lại với chương trình này. Có ai muốn đặt những câu hỏi ứng khẩu không? Thật ra, chúng ta có một vị khách rất đặc biệt tại đây. Ông ta rất khiêm nhường, và từ chối lời mời của chúng tôi không ngồi lên trên này. Vị này là ông Ko Wen-Tu, cựu thẩm phán tỉnh Bình Ðông và cựu Thứ Trưởng Ủy Ban Sự Vụ Trung Hoa Hải Ngoại. Ông ngồi ở dãy cuối phía sau quí vị. Ông hiện là tổng Giám Ðốc một công ty viễn thông. Chúng ta có nên mời Giám Ðốc Ko nói một vài lời chăng?

THVTS: Một người vĩ đại bắt buộc phải khiêm nhường. Ông rất khiêm nhường; đó là lý do tại sao ông là một người vĩ đại.

Giám Ðốc Ko: Thưa ngài Chủ Tọa, Vô Thượng Sư, và ngài giảng sư, kính thưa quí vị, tôi vô cùng hân hạnh được có mặt nơi đây. Vô Thượng Sư có thể đã đến tỉnh nhà của tôi tại Bình Ðông, Ngài có một trung tâm tại Chaochou. Tôi được sanh ra và lớn lên tại tỉnh Chaochou. (Sư Phụ: Tôi rất thích Bình Ðông; nó rất ấm vào mùa đông.) Tôi đã đến trung tâm của Ngài, được đặt tại một địa điểm do cựu thị trưởng Chaochou Hung cống hiến. Khi tôi là thẩm phán của tỉnh Bình Ðông, ông là thị trưởng của Chaochou, nên ông cũng như là một người anh em của tôi. Rất tiếc là ông đã qua đời. Khi tôi đến viếng mộ của ông, tôi đã thấy trung tâm. Nó vẫn còn đó và được duy trì tốt đẹp. Theo thiển ý của tôi, Vô Thượng Sư rời Formosa thật là điều đáng tiếc, bởi vì đó thật là một Trung tâm rất đẹp. Khi Ngài còn ở đây, Trung tâm này như là một thánh địa tâm linh, một nơi chốn thiêng liêng của Phật giáo. Pháp Môn này tinh lọc đầu óc của con người và dẫn dắt họ về con đường Thiện. Ðây là một động lực mà xã hội chúng ta đang cần đến nhất hiện nay. Câu hỏi của tôi là, vì Ngài đã bắt đầu truyền pháp tại Formosa, có cơ hội nào để Ngài sẽ trở lại và tiếp tục hoạt động đầy ý nghiã này chăng? [Khán giả vỗ tay]

THVTS: Ðiều này còn tùy vào sự an bài của Thượng Ðế. Dân chúng trong mỗi quốc gia đều yêu cầu tôi ở lại, và như vậy khiến cho tôi rất khó xử. Tôi đã luôn luôn di chuyển để có thể chia xẻ thời giờ với tất cả mọi người. Có thể tôi sẽ để dành việc này lại cho đến khi già hơn, khi tôi không còn nơi nào để đến, tôi sẽ trở lại, van nài quí vị để xin một chỗ ở. Xin cám ơn rất nhiều về sự quan tâm và đề nghị của quí vị. Tôi rất nhớ nhà, nhưng đôi khi vận mạng của chúng ta không giống nhau. Chúng ta phải làm những gì mình phải làm. Tôi rất nhớ Formosa. Tại đây, tôi có cảm giác như mình là người bản xứ, và tất cả mọi người rất yêu mến tôi. Do đó, nếu có cơ hội trong tương lai, dĩ nhiên tôi sẽ trở lại.

Giám Ðốc Ko: Tôi xin nói thêm vài lời. Tôi rất thích dáng vẻ của Ngài bây giờ. Trước đây Ngài không cho tôi một ấn tượng tốt như hôm nay. Có thể tôi cũng sẽ theo Ngài. [Khán giả cười và vỗ tay]

THVTS: Xin mời! Dĩ nhiên là tôi nhìn trang nhã hơn theo cách này. Tôi chưa từng ăn mặc như vầy, và cũng không trang điểm. Tôi từng cảm thấy thoải mái hơn nhiều, tôi cảm thấy như là có gì dính trên mặt, nhưng tôi đã quen với nó. Mọi người đều thích thì rất tốt, tiếp xúc với quí vị như vậy dễ dàng hơn. Xin cám ơn! Tôi có thể cảm nhận được lòng thương mến và tử tế của quí vị. Nếu có cơ hội trở lại trong tương lai, chúng tôi sẽ trở lại. Tôi đã đến đây ba ngày rồi; khoảng 30 ngàn người đã gặp tôi ngày hôm qua. Tất cả Formosa đều thấy tôi, nhờ vào trực tiếp truyền hình. Trong cách này, tôi đã trở lại Formosa. Tôi đã bỏ thì giờ để viếng thăm mỗi quốc gia một chút. Dù sao xin cám ơn quí vị rất nhiều. Tôi sẽ tìm cách nào đó. Tôi thích Formosa nhất; Tôi đã ở đây hơn mười năm, và nó giống như là nhà của tôi. Tôi chưa bao giờ ở tại đâu lâu như vậy, trừ Âu Lạc. Trong thế giới này, tôi đã ở lại Formosa lâu dài nhất.

Chủ Tọa: Xin cám ơn rất nhiều, Thanh Hải Vô Thượng Sư. Kính thưa quí vị, không có cuộc họp nào kéo dài vô tận. Chúng ta rất vui mừng có được Vô Thượng Sư đến với chúng ta ngày hôm nay. Trong buổi hội thảo kéo dài trên hai tiếng đồng hồ này, quí vị đã thấy cuộc thảo luận giữa tôn giáo và khoa học, niềm tin và kiến thức. Dĩ nhiên là có những lỗ hổng ở giữa chúng, nhưng chúng tôi là những nghiên cứu gia của Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, cho nên chúng tôi tìm câu trả lời trong những lãnh vực khoa học và trí tuệ qua buổi hội thảo này. Qua buổi hội thảo, Ngài Vô Thượng Sư đã cho chúng ta những lời trí tuệ cao cả, mà sẽ rất có giá trị trong những cuộc nghiên cứu tương lai của chúng tôi.

Qua cuộc trao đổi ngày hôm nay, quí vị sẽ nhận biết rằng Pháp Môn Quán Aâm, như Giảng Sư Ruaan đã đề cập, đang tiến về việc giáo dục những người tu hành tâm linh hiện đại. Vô Thượng Sư đã nhấn mạnh, trong một câu chính xác, sự trở về với Bản Tánh Thượng Ðế nguyên thủy của chúng ta, là mục đính của sự tu hành tâm linh. Về phần tổ chức của Ngài, chúng ta đã thấy rằng nó rất đặc biệt và siêu việt. Ðộng lực nào đã khiến những người ở nhiều nơi tiến ra một cách tự động và cùng một lúc để giúp lẫn nhau? Ngoài việc nghiên cứu vấn đề từ quan điểm tôn giáo và khoa học, vẫn còn rất nhiều điểm để cho chúng ta suy gẫm sâu xa. Pháp môn của họ trong việc truyền bá thông điệp cũng rất đặc biệt. Những vị lãnh đạo của Hội tại đây cũng đã giải thích rằng họ hoàn tất công việc phần nhiều bằng cách làm việc trong yên lặng, và điều này thật sự đáng để chúng ta thán phục!

Chúng tôi đã hy vọng sẽ điều khiển một công trình nghiên cứu sâu xa hơn về người Trung Hoa tại Ðông Nam Á, nhưng chúng tôi đã khám phá rằng tôn giáo không có biên giới. Chúng ta không thể giới hạn Vô Thượng Sư chỉ thảo luận về Ðông Nam Á mà thôi. Có lẽ đây là một ưu điểm đặc biệt hơn là một lỗi lầm. Trong tương lai, thế giới người Trung Hoa sẽ trở thành một thế giới được nối liền bằng tất cả các đại dương của Ðịa cầu. Quan điểm về "Người Trung Hoa ở Hải Ngoại" là một điểm quan trọng mà nhóm nghiên cứu Trung Quốc của chúng tôi sẽ chú ý đến trong tương lai. Từ chiều hướng này và từ những hoạt động tôn giáo, chúng ta có thể chứng minh xa hơn rằng người Trung Hoa đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Khi họ làm vậy, đặc biệt là khi họ vượt ra khỏi văn hóa Trung Hoa và Tây phương, chúng ta thấy rằng chúng ta có thể vượt trên quan điểm chính trị. Từ những hoạt động và lời lẽ của Ngài Vô Thượng Sư, chúng ta có thể thấy rằng động lực văn hóa đang dẫn dắt động lực kinh tế, và nó vượt trên những giới hạn chính trị. Ðây là một hiện tượng tốt đẹp trong một xã hội đa nguyên. Do đó, chính trị không còn là động lực kiểm soát tất cả nữa. Trong xã hội đa nguyên này, những cộng đồng khác nhau đã mở ra những thế giới riêng của họ.

Ngày nay, chúng tôi rất vui mừng đã nhận được sự giúp đỡ của các cộng sự viên từ Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, đã giúp cho buổi hội thảo này thành công tốt đẹp. Dĩ nhiên chúng tôi cũng cảm tạ các nhóm nghiên cứu và lời cảm tạ đặc biệt xin dành cho vị phó Bí thư của chúng tôi. Sự dàn xếp của bà và sự tham gia hăng hái cùng sự cộng tác rất có tổ chức của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã khiến cho buổi hội thảo được thành công rực rỡ. Chúng tôi xin cảm tạ tất cả các quan khách từ những lãnh vực khoa học, báo chí, và xã hội đã đến tham gia một cách nghiêm túc. Chúng tôi cũng xin cảm tạ vị bình luận gia về sự tường thuật, quán sát và những câu hỏi rất sâu sắc và đầy trí tuệ của ngài. Cuối cùng, lời cảm tạ sâu xa nhất của chúng tôi dành cho Thanh Hải Vô Thượng Sư về việc đã đến Viện Hàn Lâm Trung Quốc dù rằng Ngài có một thời biểu rất bận rộn. Bài diễn văn sâu sắc và đầy hứng khởi của Ngài ngày hôm nay đã để lại nhiều điểm cho chúng ta suy ngẫm. Xin cám ơn tất cả quí vị rất nhiều!

THVTS: Xin cám ơn rất nhiều! Xin cám ơn, tất cả quí vị! [Khán giả vỗ tay]

V: Tôi có thể hỏi một câu chót được không?

Chủ Tọa: ồ! Vẫn còn một câu hỏi nữa?

V: Ða số những đệ tử vùng Ðông Nam Á của Ngài thuộc dòng giống Trung Hoa phải không? Có những người địa phương, thí dụ như, người Nam Dương hoặc Mã Lai chăng?

THVTS: Cả hai, người Trung Hoa và người địa phương.

V: Nhưng, họ phần đông là Trung Hoa?

THVTS: Không, không! Chúng tôi sẽ tiếp tục cống hiến Pháp Môn của chúng tôi cho tất cả những ai đến. Có rất nhiều người địa phương, và rất nhiều người chúng tôi cần phải nghe thông dịch qua máy nghe. Bất cứ nơi nào chúng tôi đến, chúng tôi thường xuyên phải cần rất nhiều người để thông dịch bài diễn văn sang nhiều ngôn ngữ khác nhau.

V: Câu hỏi của tôi liên quan đến Trang phục Thiên đường. Ngài có nói rằng những trang phục Thiên Ðường mà Ngài vẽ kiểu đang trở nên đắt giá hơn. Chúng tôi thắc mắc là những trang phục này đã đi về đâu sau những buổi trình diễn thời trang. (Sư Phụ: Ðã bán hết.) Tất cả đã bán hết? Hay là chúng được giữ lại cho những buổi trình diễn khác hoặc là những mục đính khác?

THVTS: Chúng tôi bán chúng đi.

V: Cho ai?

THVTS: Cho bất cứ ai muốn mua. Ðây là sự tự do. Chúng tôi cũng có một hiệu thời trang ở Ðài Bắc. Bất cứ ai cũng có thể vào và mua những gì họ muốn.

Chủ Tọa: Còn kích thước thì sao? [Khán giả cười]

THVTS: Chúng tôi phải đo kích thước và rồi quí vị phải chờ một thời gian. Bởi vì chúng tôi nhấn mạnh phương diện phẩm chất, chúng tôi phải lấy kích thước chính xác cho mỗi khách hàng. Ngoài ra, chúng tôi có nhiều nhất là hai hay ba bộ trang phục cho mỗi kiểu. Chúng tôi không thể sản xuất quá nhiều.

Chủ Tọa: Hay lắm! (Sư Phụ: Cám ơn.) Chúng ta bây giờ tuyên bố buổi hội thảo đã chính thức chấm dứt. Cám ơn tất cả quí vị đã đến đây ngày hôm nay. Xin cám ơn! [Khán giả vỗ tay]


Giáo Lý Chọn Lọc [Top]

Thi Triển Thần Thông Không Dùng Ngã Chấp

Thanh Hải Vô Thượng Sư thuyết giảng
Ðài Nam, Formosa
Ngày 31 tháng 8, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Vị Minh Sư bên trong chúng ta có đại trí huệ. Ngài biết chúng ta nên dùng những gì và nên làm điều gì để tránh gây hại cho chính mình, cản trở công việc của người khác, và làm xáo trộn luật lệ của thế giới này. Ðiều này khác với những thần thông rất hạn hẹp được ghi lại trong đầu óc chúng ta. Nếu chúng ta có những thần thông nào đó, thì chúng ta chỉ biết bấy nhiêu thôi. Nếu chúng ta đạt được thần thông do tu hành Pháp Môn Quán Âm, thì đây là thứ thần thông không thể nghĩ bàn, và chúng ta có thể xử dụng nhiều thần thông khác nhau trong những trường hợp khác nhau.

Nếu không có đại trí huệ này, chúng ta dễ bị lẫn lộn trong việc tu hành. Nếu không có một vị thầy giỏi, chúng ta dễ lầm lạc. Kết quả, chúng ta chỉ học được một phần nào đó và chỉ theo đuổi phần này thay vì sự toàn diện toàn mỹ. Nhiều tôn giáo nhấn mạnh về việc học hỏi thứ này, thứ nọ, và nhiều loại phương pháp và thần thông; không đặt trọng tâm vào việc tìm lại bản lai diện mục của chúng ta.

Thanh Hải Vô Thượng Sư thuyết giảng
Tây Hồ, Formosa
Ngày 3 tháng 9, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Vì sao chúng ta tu hành pháp môn Quán Âm? Ðó là vì chúng ta muốn thấu hiểu toàn bộ vũ trụ. Ngoài ánh sáng mặt trời của thế giới vật chất này ra, còn có một thứ ánh Sáng lớn hơn, rực rỡ hơn và đẹp hơn. Ngoài những ngôn ngữ của thế giới chúng ta, còn có một thứ Ngôn Ngữ vĩ đại hơn và tuyệt diệu hơn. Khi chúng ta học được thứ ngôn ngữ này, Âm Thanh này, chúng ta sẽ hiểu tất cả các ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ của loài người, và của tất cả các chúng sanh.

Thanh Hải Vô Thượng Sư thuyết giảng
Tây Hồ, Formosa Ngày 11 tháng 10, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Lực lượng của chúng ta mạnh nhất trong khi cộng tu. Vài người cộng tu với nhau cũng có thể tạo ra rất nhiều lực lượng, nhưng dĩ nhiên càng nhiều người thì lực lượng càng mạnh hơn. Nhờ vào những người tu hành thành tâm này mà thế giới đang bắt đầu trở nên hòa bình hơn. Ðôi khi, thiên tai của một quốc gia đột nhiên tan biến đi, mà lẽ ra nó sẽ xảy ra. Và đôi khi một quốc gia đột nhiên được cứu thoát, trong khi lẽ ra nó sẽ bị chìm xuống biển hay bị tiêu diệt,. Nếu chúng ta có mắt trí huệ, chúng ta sẽ thấy được những điều này; nếu không, chúng ta không thể biết được.

Chúng ta nên cố gắng tu hành cho mình và đồng bào của mình, cũng như cho sự hòa bình của thế giới và vũ trụ. Càng nhiều người tu hành thì thế giới sẽ càng thanh bình hơn. Thế giới sẽ hòa bình mà không cần phải bàn về chuyện hòa bình.

Thanh Hải Vô Thượng Sư thuyết giảng
Ba Tây Ngày 13 tháng 11, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Giúp người khác quá nhiều trong khi chúng ta thiền quá ít thì không tốt, bởi vì chúng ta sẽ không được thăng bằng. Chúng ta sẽ mất sự kiên nhẫn và tình thương. Nếu chúng ta không có tình thương, tất cả những việc làm đều vô ích. Không cần biết chúng ta làm gì, nó phải được thực hiện bằng tình thương. Chỉ có tình thương mới cảm động được Thượng Ðế, Phật, và lòng người. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể cảm hóa được người khác qua việc làm của chúng ta, và chuyển đạt tình thương của Thượng Ðế đến với họ. Và rồi, qua những đóng góp đầy tình thương của chúng ta, nhân loại sẽ nâng cao đẳng cấp của họ từng bước một.


Tin Tức Ðặc Biệt [Top]

Thanh Hải Vô Thượng Sư - Chuyến Hoằng Pháp Biển Tình Thương
Thể Nghiệm Ðấng Thiêng Liêng

Trạm Dừng Chân Ðầu Tiên: Auckland, Tân Tây Lan

Vào ngày 27 tháng 4, 2000, nhằm đáp ứng lại tấm lòng khao khát của nhiều linh hồn thành tâm, Sư Phụ kính yêu cuối cùng đã đến ban ân điển cho Vùng Mây Trắng, Tân Tây Lan. (Chú thích: Người Maoris, dân bản xứ Tân Tây Lan, gọi quốc gia của họ là Aotearoa, có nghĩa là 'Vùng Mây Trắng').

Ðịa điểm thuyết pháp là Trung Tâm Aotea thuộc thành phố Auckland, một địa điểm nổi tiếng tại Tân Tây Lan dành cho các cuộc hội nghị và trình diễn quốc tế. Sân khấu rộng rãi được các đồng tu dùng cảnh trời xanh, mây trắng trang trí vô cùng thanh lịch. Mép ngoài sân khấu trông như các ngọn sóng nhấp nhô trên biển. Hình ảnh một vài ngọn núi, cây xanh trên sân khấu tạo nên một cảm giác thiên nhiên, ấm áp, cùng với ánh mặt trời mọc ở giữa chói lòa, rất phù hợp với vô lượng quang của Sư Phụ mến yêu.

Lễ Maori Chào Mừng Sư Phụ

Chương trình thuyết pháp tại Auckland được bắt đầu vào lúc 7:00 giờ tối. Khán giả chiếm cứ nhiều ngàn ghế, mong mỏi được gặp Thanh Hải Vô Thượng Sư cho họ biết cách để thể nghiệm cảnh giới thiêng liêng của Thiên Ðàng. Tối hôm đó, Sư Phụ mặc chiếc áo ngắn tay lộng lẫy cùng chiếc váy dài màu hồng nhạt được trang điểm bằng những đóa hoa xinh xinh màu xanh và tím. Với mái tóc thắt bín hai bên thái dương trông Ngài càng xinh tươi, dễ thương và quý phái.

Trong khi các đồng tu đang chia xẻ thể nghiệm cá nhân với khán giả thì một nhóm người Maori phía ngoài hội trường trình diễn một nghi lễ cổ truyền Powhiri, chào mừng Sư Phụ đã đến Tân Tây Lan. Powhiri không những là một nghi lễ chào đón mà còn nói lên sự lành mạnh về cả ba phương diện thể xác, tinh thần và tâm linh. Ðây là lần đầu tiên Sư Phụ được giới thiệu đến phong tục Maori, một khía cạnh quan trọng trong dòng dõi và đời sống của người Maori.

Powhiri là phong tục rất thịnh hành trong nếp sống của dân Maori. Về phương diện vật chất, nó dùng để cảm tạ sự hiện diện của người đang được chào đón. Sự cảm tạ này nhắc nhở con người tới tinh hoa trong cảnh giới tâm linh của những người đã quá cố trong năm, tháng, tuần và ngày thuộc về người đang được chào đón, nhất là người (quá cố) Manuhiri Tuarangi (đã du hành qua các đại dương). Nó cũng nhắc tới tinh hoa sông và núi hòa nhập với tinh hoa của người Tangatawhenua (thổ dân nước Tân Tây Lan) đã quá vãng. Sự hiện diện về mặt thể xác của người đang được chào đón là một sự tiêu biểu hữu hình cho cảnh giới tinh thần và vật chất.

Một vị "Kaumatua", người lãnh đạo Maori, chào mừng Sư Phụ tới bờ đại dương, cám ơn Tạo Hóa đã che chở cho Sư Phụ được thượng lộ bình an; vừa nói ông vừa liên kết tới những khía cạnh khác nhau trong phong tục "Powhiri". Lần này, "Kaumatua" cũng kiêm việc lãnh đạo về tôn giáo của dân chúng Maori. Sau đó ông cám ơn Sư Phụ đã làm việc quá nhiều để giúp đỡ cho tất cả dân tộc. Ông nói rằng là thổ dân Tangatawhenua, chúng ta có bổn phận và trách nhiệm đối với người dân, chào đón, chăm sóc Sư Phụ bằng lòng yêu thương tôn kính. Ông chấm dứt bài nói chuyện bằng cách kêu gọi thiên thần, Tạo Hóa hãy gia trì cho Sư Phụ trong thời gian lưu lại nơi đây, và hãy tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ Ngài trên suốt con đường hoằng pháp.

Kế đến là một bài ca được Ban Văn Học Thánh Peter dâng lên diễn tả vẻ diễm tuyệt, dịu hiền trong năng lực của một người phụ nữ. Bài ca thứ hai chào mừng người đến bờ đại dương Tân Tây Lan. Sau đó Sư Phụ được tặng một "hongi" (ấn vành mũi, trán hay mắt thứ ba cùng lúc để chỉ sự sang sẻ hơi thở sức sống tâm linh ở mọi đẳng cấp). Ðây là lối chào linh thiêng của người Maori tặng cho những người được coi như là bạn. Thấy vậy, Sư Phụ cũng tặng một "hongi" cho tất cả mọi người trong Ban Văn Học.

Nghi lễ này khiến Sư Phụ vô cùng cảm kích, Ngài nói: "Nghi lễ chào mừng và những ca khúc này rất là cảm động." Sư Phụ cho hay Ngài cảm nhận được truyền thống tâm linh mạnh mẽ của dân tộc Maori. Ðể xác nhận lời nói của Sư Phụ, một sư tỷ mới thọ Tâm Ấn người Maori sau đó đã cho chúng tôi biết: "Dân Maori có truyền thống sống một cuộc đời thiên về đạo nhiều hơn là vật chất. Dân tộc này ví như một người khổng lồ còn ngái ngủ, đang đợi một người đến lay họ tỉnh." Cô tin chắc Thanh Hải Vô Thượng Sư là một vị Thánh đã đến lay tỉnh người khổng lồ thức dậy về ánh Sáng.

Theo lời của anh thông dịch viên, Naida Glavish: "Sư Phụ rất giỏi và khiêm nhường. Ngài đã cho chúng ta thấy Chân Lý, cái mà thế giới này đang thiếu. Ngài không hề sợ, vô cùng mẫn cảm, thấy được từ trường phát ra từ lễ Powhiri. Ngài là năng lực phái nữ rất mạnh nhưng không làm hại năng lực phái nam để mà bảo trì lực lượng của mình." Sau đó Kamatua, người đã chào mừng Sư Phụ, nói ông vô cùng vinh hạnh được gặp Sư Phụ.

Lễ Powhiri vừa chấm dứt thì Sư Phụ vào trong hội trường trước sự ngạc nhiên của khán giả Tân Tây Lan. Ngài yên lặng bước giữa hai hàng lối đi, miệng mỉm cười yêu thương đáp lại những người đang đưa tay ra chào đón.

Khi Sư Phụ ngồi xuống phía trước, đối diện khán đài, Ban Văn Học Thánh Peter bắt đầu trình diễn. Sư Phụ tươi cười xem ba màn vũ Maori: Màn thứ nhất nói về sự đồng nhất giữa nam và nữ. Màn thứ hai nói về thế hệ trẻ tôn trọng trí huệ khôn ngoan của thế hệ già. Màn thứ ba nói đến giới trẻ quý chuộng ngôn ngữ Maori như là một "taonga" (tài sản hay kho tàng) được truyền khẩu xuống từ thế hệ này qua thế hệ khác, đáng được trưởng dưỡng, bảo tồn. Sau đó Sư Phụ được mời lên khán đài, Ngài chào khán giả Tân Tây Lan bằng lời chào Maori "Tena Koutou" (Chào tất cả quý vị!) rồi cám ơn mọi người đã tiếp đón Ngài đến Tân Tây Lan.

Nhớ Lại Phẩm Chất Cao Thượng
Bên Trong Của Chúng Ta

Sư Phụ nói: "Tôi nghĩ quý vị biết tại sao quý vị có mặt ở đây. Ai cũng muốn biết Thượng Ðế là gì, chúng ta từ đâu đến, và tại sao lại đến tinh cầu này. Mặc dù trong cùng lúc chúng ta câu thông với Thiên Ðàng và những tinh cầu tâm linh, nhưng vì quên sự câu thông này, cho nên đa số chúng ta chỉ nhận biết đời sống vật chất mà thôi. Thật tình chúng ta không phải chỉ là người phàm phu, mà còn là những chúng sinh cao đẳng. Như những ca khúc cổ truyền Maori mà chúng ta vừa mới nghe, những bài này có tính cách tu hành cao, bởi vì tổ tiên của người Maori đã biết một cảnh giới tâm linh khác. Chúng ta có thể nhớ lại cảnh giới đó được, bởi vì những gì đã có thì không bao giờ mất."

Sư Phụ nói tiếp bằng cách đưa thí dụ. Chúng ta là chúng sinh trọn vẹn, không phải chỉ là ngón tay, ngón chân hay cái trán. Cũng như vậy, nếu chỉ nhớ mình là chúng sinh vật chất thì chúng ta chưa phải là trọn vẹn. Sư Phụ nói Ngài đến đây là do Thiên ý để nhắc nhở mọi người nên nhớ lại con người trọn vẹn của mình. Giống như chúng ta thích chiếc nhẫn này quá (Sư Phụ chỉ chiếc nhẫn của Ngài) rồi cứ nhìn chiếc nhẫn hoài, thì chỉ nhớ tới chiếc ngón tay đó thôi mà quên mất chính mình. Thật ra, tài sản tâm linh lúc nào cũng có ở đó, nhưng chỉ vì chúng ta quá bận rộn nhìn ra ngoài, chỉ nhớ tới con người vật chất này, mà quên đi 99ddòn lại kia cao hơn, vĩ đại hơn, nhiều lực lượng hơn, thần diệu hơn, tuyệt vời hơn, linh thiêng hơn, diễm tuyệt, sung sướng, nhiều phước báu, hỷ lạc hơn.

Sư Phụ nói tiếp chúng ta là ngôi đền của Thượng Ðế, nhưng lại quên phẩm tính Thượng Ðế của mình. Bởi vậy mới nói khai ngộ "tức khắc", bởi vì nó đã có sẵn ở đó rồi. "Rất đơn giản", Sư Phụ giải thích thêm: "Quý vị đã thiêng liêng rồi. Tôi đến đây chỉ để nhắc quý vị nhớ lại. Thương Ðế sống bên trong quý vị. Nên, quý vị là Thượng Ðế. Nếu không thì ai là Thượng Ðế? Vì vậy, dù người nào chọn làm cái gì đi nữa cũng đừng phê phán họ. Họ chọn con đường khác để biết Thượng Ðế. Một ngày nào đó họ sẽ biết họ là Thượng Ðế, theo cách riêng của họ."

Thể Nghiệm Ðấng Thiêng Liêng

Sau cùng, Sư Phụ nói Ngài chỉ có thể giúp khi nào chúng ta sẵn sàng. Nếu không, không ai có thể làm gì được. Sư Phụ hỏi khán giả có muốn một chút thể nghiệm thiên đàng không, mọi người hăng hái trả lời: "Có!" Rồi Sư Phụ dạy mọi người thiền Pháp Phương Tiện; nhiều người thấy ánh sáng bên trong hoặc mặt trời, do đó đã biết mùi Thượng Ðế.

Sau đó Sư Phụ trả lời rất nhiều câu hỏi. Ngài khuyên một người hãy còn do dự về việc giữ Ngũ Giới, rằng Thượng Ðế là trên hết. Chúng ta nên làm bất cứ việc gì để được biết về Thượng Ðế, để sống một cuộc đời không sát sinh, để sống một cuộc đời không trộm cắp, một cuộc đời không tà dâm, và một cuộc đời không nói dối, không hút thuốc, uống rượu. Chúng ta làm người theo ý muốn của mình. Muốn làm người khai ngộ hay không thì đó là sự lựa chọn của chúng ta. Riêng về chuyện ăn chay, Sư Phụ giải thích rằng từ trường của loài vật rất nặng nề bởi vì chúng ham sống, sợ chết. Sư Phụ cũng nói rằng tất cả sự sống thật ra là đồng một thể. Khi làm hại chúng sanh khác là chúng ta tự làm hại chính mình. Giả thử ngón tay chúng ta bị cắt; dù dây thần kinh không bị đau, chúng ta cũng đã làm hại mình rồi.

Sau buổi thuyết pháp, Sư Phụ đã tự tay phát hoa quả cho khán giả. Mọi người vô cùng vui sướng, bịn rịn không muốn ra về! Ngoại trừ những người phải đi ghi danh thọ Tâm Ấn, đa số những người khác vẫn quanh quẫn xung quanh khu vực triển lãm xem những tác phẩm nghệ thuật của Sư Phụ như Thiên Y, Trang Sức Thiên Ðường, họa phẩm và đèn Vạn Tuế. Ðến khuya đám đông mới tản mác ra về.

Chia Xẻ Thể Nghiệm

Một nữ đồng tu ở Auckland kể chuyện cô thọ Tâm Ấn và bắt đầu con đường tu học. Khi còn nhỏ, cô tự hỏi: "Tại sao con người đến thế giới này?" và "Tại sao con người phải chịu đau khổ quá nhiều?" Mặc dầu tin Thượng Ðế, nhưng cô không thể tìm thấy Thượng Ðế bên trong, cũng như không biết tìm Thượng Ðế ở nơi nào. Dần dần, cô chỉ còn cách là nghiện ngập ruợu chè, thuốc phiện để được những phút giây hạnh phúc trong ảo tưởng.

Tại ngã ba đường của định mệnh, chuyện đời đưa đẩy cô tham gia công tác xã hội. Tình cờ, cô đọc tin trong báo về một cuộc triển lãm tâm linh địa phương; kết quả là cô gặp được giáo lý Sư Phụ. "Tôi yên lặng đi ngang qua lấy cuốn sách biếu; một cái gì đó xâm chiếm hồn tôi ngay lập tức." Rồi cô vội vã về nhà đọc một cách cẩn thận. Mặc dầu được học Pháp Phương Tiện ngay sau đó, cô vẫn biết là chưa đủ và không thể nào bỏ lỡ cơ hội duy nhất trong đời, hay có lẽ là hằng triệu năm mới có.

Từ ngày được truyền Tâm Ấn, cuộc sống của cô tràn đầy hạnh phúc; nhưng là người, cô vẫn còn phải trực diện với nhiều thử thách. Tuy nhiên, cô khám phá ra rằng với lực lượng của ánh Sáng và Âm Thanh mà cô thể nghiệm được trong lúc thiền định, những thử thách này đều có thể dễ dàng khắc phục. Pháp Môn Quán Âm đã mang lại cho đời cô rất nhiều hạnh phúc, hân hoan, nguồn hứng khởi, và thường cho cô rất nhiều năng lực. Ðiều này cũng giúp cho nghề xã hội của cô. Linh hồn say ngủ nay đã tỉnh, cô bắt đầu nhìn đời bằng con mắt khác hẳn, sáng suốt, rõ ràng hơn. Cô sung sướng chia xẻ với mọi người những thể nghiệm tuyệt vời, và cho biết chúng ta nên cảm thấy vinh dự vô cùng khi được gặp gỡ Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư, vị Chân Sư tại thế, người có bí quyết giúp chúng ta tìm thấy Chân Lý bên trong, một quyền lợi bẩm sinh.

Một nữ đồng tu người Maori mới thọ Tâm Ấn cách đây một tháng, kể rằng có lần cô coi cuốn sách biếu của Sư Phụ như là một quyển tập không giá trị. Nhưng sau đó, vì chị của cô đã tu Pháp Quán Âm và thay đổi rất nhiều, nên cô hứng khởi muốn tham khảo giáo lý của Sư Phụ một lần nữa, nhờ đó cô đã không bị mất cơ hội ngàn vàng. Hiện giờ, cha mẹ cô đã ngoài tám mươi và đang tu Pháp Phương Tiện.

Trong khi nghiên cứu giáo lý, câu nói của Sư Phụ đã làm cho cô rung động nhiều nhất, đó là: "Chúng ta là ánh Sáng! Nhưng cuộc sống trói buộc chúng ta vào vấn đề tiền bạc, công ăn việc làm, tin tức chuyện này chuyện kia, để chúng ta bị chôn vùi, chìm đắm trong những vấn đề này." Sư Phụ dạy chúng ta phải nhìn vào bên trong để biết được ai là chủ nhân ông và chúng ta cần phải làm gì. Giáo lý Sư Phụ giúp cô hiểu rằng khai ngộ là bản tánh thật sự của chúng ta, và lúc nào chúng ta cũng có. Sư Phụ cũng nói rằng nó luôn luôn có đó, nếu chúng ta có cách để nhận ra. Ðiều cô thích nhất là lúc nào Sư Phụ cũng ở bên cạnh chúng ta, và một khi đã câu thông với Ngài rồi thì chúng ta sẽ mãi mãi câu thông với nhau, dù Ngài đang ở nơi nào trên thế giới.

Tái Bút: Công Tác Chuẩn Bị Cho Buổi Thuyết Pháp

Ðồng tu tràn ngập niềm vui khi biết tin Sư Phụ đã nhận lời mời của họ đến thuyết pháp tại Tân Tây Lan; họ lập tức vào việc. Tất cả đồng tu Tân Tây Lan được hưởng rất nhiều lợi ích trong công việc vui tươi, tràn đầy thỏa mãn.

Ða số đồng tu Tân Tây Lan đều cư ngụ tại Auckland, một hải đảo về phía Bắc, chỉ một số ít sống rải rác tại những nơi khác. Tuy nhiên, để loan truyền tin vui về buổi thuyết pháp của Sư Phụ đến khắp nẻo đường đất nước, mọi đồng tu đã cố gắng hết mình. Một nữ đồng tu cư ngụ tại Nam Ðảo đã lái xe từ Dunedin, miền cực Nam, đến Christchurch, miền cực Bắc. Trong lúc lái xe, cô chỉ mang một ý nghĩ trong đầu: "Khi Thượng Ðế tới thì phúc âm phải được lan truyền đến những vùng đất xa xôi." Trong một vài phố nhỏ hẻo lánh miền Nam Ðảo, cô chỉ để lại một ít truyền đơn. Cô cảm động khi thấy những người bán hàng tại đây nhặt truyền đơn chăm chú đọc. Một số đồng tu khác sống ở Taranaki, miền Nam của Bắc Ðảo, cũng lái xe về phía Bắc, trên đường gieo hạt giống Quán Âm, hy vọng chúng sẽ nẩy mầm, giúp mọi người nghiêng về ánh Sáng thiêng liêng của Sư Phụ. Thành phố họ đến là Auckland, nơi họ sẽ cùng nhau làm việc để chuẩn bị cho ngày thuyết pháp.

Thành phố Hamilton chỉ cách hội trường thuyết pháp một tiếng ruỡi lái xe. Ngoài việc tổ chức những buổi hội thảo chiếu băng thâu hình và chia xẻ tin vui ở khu phố chính và trường đại học, các đồng tu còn dán bích chương Sư Phụ và phân phát truyền đơn tại những khu phố nhỏ ngoại ô. Nhiều người lập tức cảm thấy sung sướng, pháp hỷ tràn đầy khi đón nhận giáo lý của Sư Phụ lần đầu tiên. Kết quả là một người đàn bà người Nam Dương đã học Pháp Phương Tiện và xin Trung Tâm gởi sách biếu đến những người bạn cũ của bà tại Nam Dương. Một người đàn bà khác đã nhận được một cuốn sách biếu mấy năm về trước. Lần này, bà thật vui mừng, quyết tâm nắm cơ hội này để được truyền Tâm Ấn. Bà còn khuyến khích những người khác chưa theo Sư Phụ hãy vượt qua và khắc phục mối lo trong việc giữ trường chay và thiền định mỗi ngày. Bà bảo họ nếu quyết tâm thì chắc chắn sẽ làm được.

Trước khi đồng tu từ khắp nơi trong nước và ngoài nước đổ xô đến Auckland thì đồng tu địa phương đã hoàn tất rất nhiều trong công việc chuẩn bị. Không một ai tham gia công tác mà không học hỏi một điều gì. Vì luật lệ Tân Tây Lan không cho phép dán bích chương bừa bãi, nên các đồng tu phải đến nói chuyện xin phép nhân viên quản lý của từng cửa tiệm. Vào ngày đầu, nhiều đồng tu còn mắc cở, không quen làm chuyện này nên kết quả không được khả quan cho lắm. Tuy nhiên, sau khi cộng tu xong, ai nấy đều nhận thấy rằng tư tưởng và ý muốn của họ chưa đủ mạnh. Càng sợ bị từ chối nhiều chừng nào thì kết quả càng tệ hại chừng đó. Vào ngày thứ hai, thái độ làm việc và tư tưởng của họ trở nên khả quan hơn, vì vậy kết quả cũng đáng kể hơn. Sau cùng, tất cả những tấm bích chương đã được dán lên hết trước ngày hạn định!

Tất cả các đồng tu tham gia công việc thuyết pháp của Sư Phụ tại Tân Tây Lan đều tận tình tận lực, mong mang tin Sư Phụ viếng thăm đến mọi linh hồn đang khao khát. Hàng ngàn chỗ ngồi trong Trung Tâm Aotea thuộc thành phố Auckland đầy ắp khán giả đến nghe giảng pháp; nhiều người đã ở lại sau đó để được truyền Tâm Ấn và gia nhập vào đại gia đình Quán Âm. Nhưng quan trọng hơn cả là lực gia trì đầy thương yêu qua sự hiện diện của Ngài đã để lại một ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài cho vùng đất Tân Tây Lan.

Sau ngày Sư Phụ giảng pháp tại Auckland, đồng tu tới viện Ðại Học Thánh Peter để thăm những sinh viên đã trình diễn màn chào mừng Sư Phụ trong buổi thuyết giảng. Mới gặp Sư Phụ một chút mà họ đã vô cùng cảm kích. Nhiều người hỏi: "Tôi rất thích vị này! Khi nào Ngài đến nữa?" Có những người xin được viết thư cho Sư Phụ hoặc tới thăm Ngài lần nữa.

Chúng tôi mang theo quà của Sư Phụ: Số tiền 800$NZ (khoảng 400 mỹ kim) để tặng viện Ðại Học Thánh Peter, cộng thêm 500$NZ cho mỗi người trong 15 sinh viên đã trình diễn cho Sư Phụ (tổng số là 7500$NZ, khoảng 3750$ mỹ kim). Tất cả các sinh viên này vô cùng ngạc nhiên vui thích sau khi nhận một món quà bất ngờ và hậu hỹ. Nhiều người khóc vì cảm động, cho thấy nỗi niềm biết ơn sâu đậm của họ đối với món quà Sư Phụ và lần thăm viếng vừa qua. Cả hai vị huynh trưởng, người đã nói bài chào mừng Sư Phụ, Kaumatua Takutai, và cô Naida Glavish, người đã "gọi" Sư Phụ đến vùng đất Tân Tây Lan, cũng được tặng một món quà tình thương), biểu hiện cho tình thương của Vô Thượng Sư Thanh Hải.

Hình:


  1. Một nhóm người Maori làm lễ cổ truyền Powhiri để chào mừng Sư Phụ đến Tân Tây Lan.
  2. Lễ Powhiri được hướng dẫn bởi Kaumatua (đầu tiên bên phải) với Naida Glavish (đầu tiên bên trái) làm thông dịch viên.

  3. Như một nghĩa cử của tình thương từ Sư Phụ, một số tiền đóng góp NZ$9,900 (khoảng US$4,950) được trao tặng cho người Maori, gồm 15 sinh viên trình diễn vũ điệu Maori chào mừng Sư Phụ thuyết pháp. Các sinh viên bày tỏ lòng biết ơn thành thật đến Sư Phụ đối với chuyến thăm viếng thương yêu và món quà của Ngài.

Trạm Thứ Nhì: Sri Lanka
Ngày 29 tháng 4, 2000

Sri Lanka, phong phú về mặt tâm linh và nổi tiếng về trà Tích Lan, là một hải đảo nhỏ bé ở Ấn Ðộ Dương, phía nam Ấn Ðộ. Các tượng Phật tráng lệ, đứng uy nghi trên nhiều đường phố của tỉnh Colombo, thủ đô nước Sri Lanka. Những đền thờ này được thắp sáng vào đêm.

Trưa ngày 29 tháng 4, 2000, dân chúng bắt đầu vào đại sảnh của khách sạn Trans Asian, một khách sạn 5 sao ở Colombo, tọa lạc trên một hải cảng ven biển về phía tây, đối diện với Ấn Ðộ Dương.

Không bao lâu, dân chúng đã đầy ngập hội trường. Một người Hòa Lan đến dự thuyết pháp cho hay ông đã bay từ Hòa Lan đến Colombo để gặp Sư Phụ. Ông kể rằng đã nhiều năm ông tìm kiếm Chân Lý, thậm chí còn sang Ấn Ðộ, và bây giờ ông đang đợi một "dấu hiệu" bên trong để biết Pháp Quán Âm là con đường đúng. Một người khác từ Anh Quốc cũng tới gặp Sư Phụ vì chưa thỏa mãn trong lòng sau một thời gian xuất gia trong tu viện.

Ðể giới thiệu công việc của Sư Phụ, cuốn băng thâu hình với nhan đề "Nhìn Về Quá Khứ... Bước Vào Tương Lai Sáng Lạng" được trình chiếu cho khán giả, thuật lại Chuyến Hoằng Pháp Âu Châu của Sư Phụ từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1999. Sau đó, ban vũ trống Kandy đã đưa Sư Phụ đến phía trước hội trường, đi ngang qua đám đông đang kính cẩn đứng chào. (Kandy là một thành phố miền trung của nước Sri Lanka.) Trong chiếc áo khoác màu tím nhạt và chiếc váy dài màu tím đậm, Sư Phụ trông trẻ với mái tóc nâu thả xuống bờ vai. Ðể tỏ lòng tôn kính, Sư Phụ khiêm tốn chào các vị tăng ni người Sri Lanka đang ngồi ở hàng ghế trước. Sau đó, để theo truyền thống địa phương, Sư Phụ dùng nến đốt một ngọn đèn dầu rồi truyền ngọn nến đó sang tay người khác để họ tiếp tục đốt những ngọn đèn còn lại. Trước sự thích thú của Sư Phụ và khán thính giả, đoàn vũ công trang sức đủ màu và những người đánh trống lên trình diễn một vũ điệu Kandy hòa lẫn tiếng hát và tiếng trống tablas (loại trống cổ truyền của Ấn Ðộ và Sri Lanka).

Buổi thuyết pháp bắt đầu bằng lễ cầu nguyện hòa bình cho nước Sri Lanka. Sư Phụ nói rằng mặc dù nhiều người dân Sri Lanka đã được an ổn hạnh phúc tâm hồn, Ngài xin mọi người trong hội trường hãy cầu nguyện cho những ai vì chưa tìm ra thấy hạnh phúc này nên còn phải chịu nhiều đau khổ.

Sư Phụ nói rằng bình an, hạnh phúc là bản tính thật sự của chúng ta. Chúng ta có thể dùng những phương tiện có tính cách áp bức, vũ lực, nghĩ rằng đây là lối để đoạt lấy những gì mình muốn trong đời, nhưng cuối cùng không còn cách nào hay hơn là tìm an ổn hạnh phúc ở bên trong. Ðó là trở về lại với bản ngã của chúng ta, với Thượng Ðế Tánh của chính mình. Ngài giải thích rằng con đường của Ðức Phật, của những vị thánh từ nghìn xưa là con đường hòa bình và tình thương. Ðó cũng là con đường của Chân Tánh chúng ta. Có người đạt được tình thương và sự hòa bình an ổn này qua việc thiền định và cầu nguyện chân thành.

Ðức Phật xuống thế giới này để chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta cũng là Thượng Ðế. Một trong những cuốn kinh Phật Giáo nói rằng khai ngộ cũng như ngọn đèn được truyền từ người này sang người khác. Cho nên mới có lễ đốt nến trong truyền thống nhà Phật. Có người nghe danh Phật, tham khảo kinh điển của những vị đã khai ngộ nhưng vẫn không tìm được hòa bình hạnh phúc, có lẽ vì ngọn đèn của họ chưa được thắp lên. Khai ngộ tương tự như dùng ngọn nến đã sáng, thắp cho một ngọn nến khác. Ngọn nến của một người cần phải cháy sáng thì mới có thể thắp cho người khác.

Nhớ lại Thượng Ðế Tính của chính mình chúng ta mới có thể nhắc nhở người khác Thượng Ðế Tính của họ, bởi vì tất cả chúng ta đều từ Thượng Ðế mà ra. Ðức Phật nói rằng: "Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành." Thượng Ðế Tánh bên trong Ðức Phật và bên trong chúng ta đều giống y nhau! Bởi thế chúng ta cũng có thể thành Phật. Lý do chúng ta không nhìn thấy Phật Tánh của mình là vì chúng ta không cố gắng. Nếu thành tâm cố gắng thì chúng ta sẽ được chỉ đường. Kinh Kim Cang nói rằng cho dù căn phòng có tối bao nhiêu lâu đi nữa, chỉ cần một giây cũng đủ để cho ánh sáng đuổi bóng tối ra đi.

Thắp Sáng Phật Tánh Bên Trong của Chúng Ta

Ánh Sáng từ Ðức Phật truyền sang không bao giờ tàn. Chỉ cần tìm coi ngọn nến cuối cùng đang ở đâu, thì nến của chúng ta cũng sẽ được đốt lên. ánh Sáng là tinh hoa của con người chúng ta, là Thượng Ðế Tính của mình. Tất cả những gì cao cả, thiêng liêng, tràn đầy lực lượng là Thượng Ðế Tính.. Cho nên chúng ta gọi nó là "khai ngộ". Các tôn giáo khác nhau gọi Thượng Ðế Tánh này bằng những danh xưng khác nhau. Người Sri Lanka gọi một người khai ngộ là "Phật"; người Do Thái gọi là "Chúa". Người Sri Lanka gọi thầy là "Guru", còn người nói tiếng Anh gọi thầy là "Teacher". Ðôi khi ngôn ngữ hạn hẹp của loài người gây ra những hiểu lầm, tranh chấp nhau về tôn giáo.

Dù một vị Minh Sư sinh ra ở nơi nào, vị đó cũng vẫn là một ngọn nến đã được "thắp sáng", là người giữ ánh Sáng cho kẻ đến sau. Ai đến với họ sẽ được đốt sáng bởi ngọn nến đã sáng này. ánh Sáng Vũ Trụ không bao giờ tắt, nhưng phải được duy trì ở những nơi khác nhau: Ấn Ðộ, Sri Lanka, Ðức, Jerusalem, v..v.. Nó phải được lưu hành để cả thế giới có thể thức dậy; nó không thể bị giữ lại trong một quốc gia hay một ngôi đền nào đó, bởi vì cả thế giới cần phải biết ánh Sáng đó. Giống như nước hoặc mưa, ánh Sáng cũng cần phải ở nhiều nơi, vào những thời điểm khác nhau, để gia trì cho mọi chúng sinh trên tinh cầu. Thành ra, không cần biết nó đang được giữ ở chỗ nào, nếu muốn ngọn đèn của mình được đốt lên thì chúng ta nên đến với người mang ánh Sáng.

Tất cả chúng ta đều muốn biết Thượng Ðế Tánh là gì; ai cũng muốn biết Thượng Ðế ở đâu. Thượng Ðế ở bên trong chúng ta. Phật và Thượng Ðế sống trong thánh đường này (Sư Phụ chỉ vào mình). Bên trong chúng ta không có gì khác ngoài Phật và Thượng Ðế; chúng ta không là gì khác ngoại trừ là con cái của Thượng Ðế.

Cái ngăn cách chúng ta với Thượng Ðế Tính là cái ngã, cũng còn gọi là đầu óc. Ðầu óc giống như một cái máy hoặc máy điện toán, thâu vào rồi lại phát ra cùng thứ. Nhưng đầu óc chỉ có thể ghi nhận và hiểu biết những tin tức thế gian. Nó không thể hiểu Thượng Ðế Tánh. Muốn biết được Ðại Ngã của chính mình, chúng ta phải đi vòng qua đầu óc"băng ngang qua nhưng không ở trong đó. Nếu dùng đầu óc tìm Ðại Ngã của mình thì chỉ có thể đạt được những kiến thức, phong tục, tập quán thế gian. Khi đọc Kinh Ðiển Phật Giáo và Thánh Kinh, không phải lúc nào chúng ta cũng hiểu được những gì ghi chép trong các quyển sách này. Những gì Minh Sư khai ngộ viết xuống thì chỉ có Minh Sư khai ngộ khác hiểu, hiểu thật sự, chứ không phải đoán. Thành ra, muốn hiểu giáo lý Minh Sư, chúng ta phải ráng trở thành Minh Sư.

Từ Thượng Ðế Tánh Truyền Sang Thượng Ðế
Tánh Trong Yên Lặng

Sư Phụ nói rằng tất cả những điều Ngài nói thật ra chỉ là những lý thuyết nhàm chán, và Ngài không muốn nói nhiều, thay vào đó, chỉ muốn cho khán giả biết cách để tìm ra Thượng Ðế Tánh (Phật Tánh) của họ. Ngài nói chuyện đó rất là đơn giản, bởi vì chúng ta đã có Thượng Ðế Tánh rồi. Vấn đề là chúng ta chỉ nghe theo đầu óc mà quên không tìm Phật Tính. Khi bỏ quên đầu óc, thành kiến, những vấn đề khó khăn trong đời sống, đó là lúc chúng ta có thể tìm thấy được Phật Tánh.

Sư Phụ nói thêm: "Khi tôi chỉ dẫn cho quý vị, không phải bằng lời nói, mà trong yên lặng, tâm truyền tâm. Trong giây phút đó, nếu tập trung tốt, quý vị sẽ thấy Thượng Ðế Tánh ngay lập tức, đó là ánh Sáng, là giáo huấn Thiên Ðàng, giáo huấn của Phật - không ngôn từ. Rồi quý vị sẽ khai ngộ ngay tức khắc."

"Không những nhìn thấy ánh Sáng, Bản Ngã của chính mình, mà còn nghe được giáo huấn, Bản Ngã của chính mình, cái mà Ðức Phật nói trong Kinh Lăng Nghiêm. Tất cả những vị Minh Sư khai ngộ đều dựa vào dòng Âm Thanh này, sự hiểu biết nội tại này, sự giáo huấn bên trong này, để xuống đây dạy dỗ chúng sinh. Và tất cả những chúng sinh phải dựa vào Phật Âm, Chấn Ðộng thiêng liêng, giáo huấn thiêng liêng này - sự dạy dỗ bên trong - để được trở về Thiên Quốc. Tất cả chúng ta sẽ trở thành những Quán Âm Bồ Tát bởi vì tất cả chúng ta đều lắng nghe dòng Âm Thanh mà Phật Bà Quán Âm đã lắng nghe. Nghe Âm Thanh bên trong mà không cần dùng tai, thấy ánh Sáng bên trong mà không cần dùng mắt. Ðó mới là hiểu biết thật sự."

Sư Phụ nói rằng trong giờ phút khai ngộ, chúng ta có thể trông thấy Thiên Quốc; chúng ta có thể học hỏi những vị Thánh, Chúa Giê Su và những vị Minh Sư trong quá khứ đã đi khỏi tinh cầu vật chất này. Chúng ta có thể thấy Ðức Phật ngồi trên tòa sen, Ðức Chúa hào quang bao bọc, và có thể nghe họ dạy dỗ trực tiếp. Chúng ta có thể thấy ánh Sáng chói chan bằng hàng ngàn mặt trời ở đây, nhưng không làm cho chúng ta đau mắt. Ðó là loại ánh sáng mà Kinh Phật bảo chúng ta nên đi theo khi lìa đời để đưa chúng ta lên Thiên Ðàng, đến Ðất Phật, chứ đừng đi theo ánh sáng mờ có thể đưa chúng ta vào thế giới A-tu-la.

Mỗi người thấy những loại ánh Sáng khác nhau, tùy theo nghiệp chướng, sức chú ý hoặc lòng thành. Cho nên, khi vào trong, mỗi người sẽ thấy mỗi khác, nhưng ai cũng được thể nghiệm một chút Thượng Ðế Tánh, một chút Thiên Ðàng. Ðó chỉ là lúc đầu, rồi mỗi ngày tu thêm thì sẽ thể nghiệm thêm. Sư Phụ nói: "Tôi hy vọng giải thích được một chút cái mà không thể nào giải thích được. Ðiều duy nhất còn lại là quý vị phải tự mình thể nghiệm, phải tự mình thấy sự vĩ đại của chính mình, Thượng Ðế Tính của chính mình, bởi vì những cái này không thể nói được, không thể giải thích được bằng bất cứ ngôn ngữ gì."

"Giống như tôi uống ly nước này, rồi tôi nói về nước: nước mát, thơm tho, đã khát. Nhưng quý vị cũng phải uống vào thì mới biết được. Uống nhiều hơn hay uống ít hơn, tùy theo độ khát, nhưng cũng phải uống. Nếu không khát, thì đương nhiên không uống, nhưng quý vị sẽ không biết tôi đang nói cái gì. Nhưng tôi nghĩ quý vị hiểu, quý vị nhớ, bởi vì những gì tôi nói ngày hôm nay không có gì là lạ. Linh hồn chúng ta hiểu; Thượng Ðế Tính chúng ta hiểu. Dù không uống vào chúng ta cũng nhớ mùi vị của nước bởi vì tất cả mọi người trong chúng ta ai cũng đã có lần uống nước rồi. Chúng ta chỉ quên mà thôi vì không được uống lâu lắm rồi. Cũng giống vậy, chúng ta đã bỏ quên Thượng Ðế Tính lâu quá rồi. Lâu đến nỗi ngay cả mơ tưởng mình là Thượng Ðế cũng không có nữa. Chúng ta nghĩ mình là con người thấp kém, trong khi thật sự người đang sống trong ngôi đền này (Sư Phụ chỉ chính mình) là Thượng Ðế! Chỉ có Thượng Ðế sống ở đây thôi, không ai khác."

Sư Phụ tiếp tục: "Bởi vậy Ðức Phật mới dạy chúng ta phải yêu thương, kính trọng mọi người, vì thực sự ai cũng là Phật, dù biết hay không biết. Nhưng chỉ có Minh Sư khai ngộ là thấy điều này. Muốn thật sự yêu thương mọi người, mình cũng phải trở thành Minh Sư trước hoặc là Minh Sư một phần. Thật ra không phải là 'trở thành' Minh Sư mà là 'nhớ lại' mình là Minh Sư."

Sau đó Sư Phụ dạy khán giả một lối thiền đơn giản, Pháp Phương Tiện. "Nếu quý vị muốn biết thêm nữa, học sâu rộng hơn về cách làm sao để nhớ lại mình là Thượng Ðế, làm sao để nới rộng tình thương đến với tất cả loài người, thì phải trải qua cái kêu bằng Tâm Ấn, để chúng tôi có thể giảng giải nhiều hơn. Và quý vị cũng phải ngồi thiền nhiều hơn, mỗi ngày, để mà quán tưởng tới Thượng Ðế Tính của mình."

Nói tới tiến trình khai ngộ, Sư Phụ đùa: "Ðức Phật phải mất sáu năm; có thể chúng ta mất mười năm! Không, Ðức Phật mất sáu năm vì người ta dạy Phật sai, cho tới khi Ngài tìm được pháp cuối cùng, lúc đó là khai ngộ ngay lập tức. Chỉ có nhận diện trực tiếp Thượng Ðế Tính này mới có thể làm cho chúng ta khai ngộ. Những pháp môn khác chỉ giống như là nấu cát vậy thôi, không bao giờ thành cơm."

Sau phần thuyết pháp, Sư Phụ kiên nhẫn trả lời nhiều câu hỏi của khán giả. Khi được hỏi làm sao chữa được tính nóng nảy đối với chồng con, Sư Phụ trả lời chỉ có một cách, đó là khai ngộ. Ngài nói những chuyện này xảy ra là vì chúng ta không biết mình là Thượng Ðế. Chúng ta phản ứng như con người vì nghĩ rằng mình là con người phàm tục, xấu xa. Một khi nhớ lại rằng mình là Thượng Ðế, chúng ta sẽ bình tĩnh hơn, an tâm hơn, yên ổn, thương yêu, nhẫn nhịn hơn và từ bi hơn. Lúc đó chúng ta sẽ thấy chồng con của mình cũng là Thượng Ðế. Dù họ không biết Chân Ngã của chính họ, chúng ta vẫn yêu thương, kính trọng họ như là Thượng Ðế.

Một người Hồi Giáo trong khán giả khen Sư Phụ, nói Ngài là người duy nhất có thể cứu rỗi chúng ta. Sư Phụ cám ơn ông, nói rằng Mohammed cũng là một vị Minh Sư vĩ đại. Sư Phụ nói Ngài đã theo kịp những bậc Minh Sư thời quá khứ, còn chúng ta thì sao? Sư Phụ bảo chúng ta hãy đuổi theo cho lẹ để có thể cùng nhau đến Thiên Ðàng. Nếu không, Sư Phụ chỉ có một mình chán lắm.

Một người khác hỏi Phật có ra đời nữa không. Sư Phụ trả lời Phật sinh ra hoài hoài. "Nhìn quý vị kìa, nhìn người hàng xóm kìa; tất cả đều là Phật!" Sư Phụ kể có lần Ðức Phật nói với đệ tử rằng Thượng Ðế Tính của Ngài và của mọi người đều như nhau, tại sao người ta không thấy. Sư Phụ nói Ngài cũng tự hỏi như vậy. Biết mình là Thượng Ðế quá dễ, vậy mà chúng ta đã bỏ quên Kho Tàng to nhất ấy, bởi vì chúng ta quá lo lắng, bận rộn trong cuộc sống. Nhưng khi khai ngộ, chúng ta sẽ thông minh hơn, thương yêu hơn, và đời sống trần gian của chúng ta cũng sẽ tốt đẹp hơn. Lúc đó chúng ta có thể dùng tiền của, tài sản của mình đem cho người nghèo khổ và giúp đỡ mọi người.

Ðể không bị sợ hãi, Sư Phụ bảo chúng ta nên làm chủ đầu óc, đừng để đầu óc sai khiến chúng ta! Ðầu óc hay nghĩ nhiều chuyện vô nghĩa, làm cho chúng ta lo sợ. Khai ngộ không mất gì cả, cho nên không có gì phải sợ. Trái lại còn gặt hái được nhiều hơn cả trong lẫn ngoài, thành ra "lời" lắm!

Khi được hỏi Ngài có thể chấm dứt chiến tranh ở Sri Lanka không, Sư Phụ trả lời "không", rằng chiến tranh là do chúng sanh tạo ra, và họ phải là người giải quyết và chấm dứt. Chúng ta không thể ép con cái hiểu biết như mình, mà chỉ có thể dạy cho chúng tự biết lấy. Sư Phụ nói nếu Ngài dùng lực lượng (thần thông) bắt chiến tranh phải chấm dứt thì về sau một cuộc chiến khác sẽ xảy ra và có thể còn nặng hơn vậy nữa. Tốt hơn là để cuộc chiến được giải quyết một cách tự nhiên. Nhưng nếu dân Sri Lanka nhớ lại Thượng Ðế Tính của họ và thiền nhiều hơn, thì chiến tranh sẽ bớt. Những người gây ra chiến tranh cũng là Phật, cho nên họ phải tự mình nhận thức ra rằng chiến tranh là hoàn toàn không cần thiết; họ phải hòa giải với nhau.

Ðể trả lời câu hỏi rằng có phải con người thuộc tất cả các tôn giáo đều khai ngộ được, Sư Phụ nói mọi người đều có "ánh Sáng" của Thượng Ðế bên trong, không cần biết theo tôn giáo nào. Sư Phụ cho biết Ngài vô cùng kính trọng tất cả những vị Minh Sư trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Họ đều dạy cùng một thứ; chỉ vì chúng ta quên không nhìn vào những điểm giống nhau trong giáo huấn của họ mà thôi.

Khi được hỏi làm sao để đừng phải trở lại làm kiếp thú, Sư Phụ nói chúng ta phải sống đời của một con người. Ðức Phật dạy năm giới luật để chúng ta giữ trình độ con người. Tuân theo ngũ giới là sẽ không trở lại làm súc vật; tuân theo Thượng Ðế Tính thì sẽ trở thành Thượng Ðế, và chúng ta sẽ không bao giờ trở lại.

Sau buổi thuyết pháp, nhiều người học Pháp Phương Tiện. Hằng trăm người Sri Lanka và những người dân khác, như người đàn ông kể hồi nãy, đã thọ Tâm Ấn. Thế là đêm hôm ấy, hằng trăm "ngọn nến" đã được thắp lên tại thành phố Colombo, Sri Lanka, để làm sáng hải đảo Phật nhỏ nhắn này!

Hình:


  1. Một nhóm vũ công trống Kandian địa phương chào mừng Sư Phụ đến Sri Lanka.
  2. Sư Phụ khiêm nhường lạy các vị sư Sri Lanka tham dự buổi thuyết pháp ngay chân của họ.

  3. Lễ thắp đèn cầy theo truyền thống Phật Giáo nhắc nhở cho chúng ta thắp sáng lên Chân Tánh nội tại của mình.

Trạm Thứ Ba: Kuala Lumpur, Mã Lai Ał
Ngày 30 tháng 4, 2000

Vào ngày thuyết pháp, trời mưa to gió lớn, nhưng theo lời người dân ở đây thì mưa lũ vào lúc này trong năm là một chuyện khác thường...

Giảng đường tọa lạc tại một địa điểm thuận lợi trong cao ốc Menara PGRM. Vào lúc 6 giờ 30 chiều, hằng ngàn người gồm có Mã Lai, Trung Hoa, Ấn Ðộ và các sắc dân khác đến ngập hội trường. Mã Lai đúng là một quốc gia dân chủ với nhiều chủng tộc, văn hóa khác nhau. Sự thân thiện trong lòng người tại đây biểu lộ một cách rõ ràng qua những tràng pháo tay nồng nhiệt trước và sau khi xem cuốn băng thâu hình "Sống Trong Tình Thương" (Walk The Way Of Love) được chiếu trên hai đại màn ảnh truyền hình. Họ cũng vỗ tay rầm rộ khi một đồng tu địa phương kể thể nghiệm của cô sau khi tu Pháp Quán Âm.

Ðám đông chào mừng nồng hậu khi Sư Phụ bước vào, trong chiếc áo đầm dài màu lam nhạt. Cảm nhận được bầu không khí vui tươi từ khán giả, Sư Phụ nói: "Thượng Ðế gia trì cho quý vị đến đây, dù mưa to gió lớn. Xin Ngài ban phước lành cho quý vị và quốc gia của quý vị, một nước rất đẹp và phồn thịnh." "Cám ơn Thượng Ðế, các chư Phật, Allah đã nâng cao tâm thức của người dân tại đây."

Sư Phụ nhấn mạnh rằng: "Tất cả quý vị đều là Phật! Tinh hoa của đời sống là tình thương. Tinh túy của Thượng Ðế, của Phật, của Allah là tình thương. Không có gì khác hơn là tình thương. Khi chúng ta chọn tình thương, sự lựa chọn cao cả nhất, cũng là Chân Ngã của chúng ta, thì chúng ta sẽ cảm thấy rất gần Thượng Ðế, rất gần Phật. Có nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống, và tùy theo sự lựa chọn nào là chúng ta sẽ trở thành chúng sinh đại diện cho sự lựa chọn đó. Thời gian trôi qua, lần này sang lần khác, chúng ta luôn luôn chọn lựa những cái khác nhau - chọn làm người, thiên thần, thiên sứ, chọn đồng thể với Thượng Ðế, hoặc trở lại kiếp người để nhớ lại hoặc để học lại từ đầu. Khi nhớ lại hoặc biết lại rằng chúng ta phát xuất từ Thượng Ðế, chúng ta có Thượng Ðế Tính, Ðức Thánh Thần sống trong chúng ta, thì đó là lúc nói rằng chúng ta 'khai ngộ'."

"Biết Thượng Ðế hay biết Ðại Ngã của mình cũng giống như trở bàn tay. Nhìn lòng bàn tay: thấy Thượng Ðế, nhìn lưng bàn tay: chỉ thấy một con người phàm phu, chúng sinh thế tục. Chỉ cần quay trở lại là quý vị biết ngay mình là Thượng Ðế. Trong chúng ta không có gì khác hơn là Thượng Ðế. Tùy mình có muốn nhớ lại hay không. Tôi đến đây để giúp cho quý vị nhớ lại."

"Thượng Ðế là ánh Sáng rực rỡ hơn hằng ngàn mặt trời góp lại; Thượng Ðế là tiếng nhạc cho linh hồn chúng ta chan chứa vui tươi tự tại, không cần biết chúng ta đang ở đâu, giống người gì, tính nết ra ra sao, học vấn thế nào, hay theo đạo gì. Thậm chí nếu muốn sờ thấy Thượng Ðế, thì Ngài sẽ hiện ra thành một người trong chúng ta như Chúa Giê Su, Ðức Phật, Mohammed, những vị Thầy đạo Sikh, Krishna, một vị Minh Sư v..v.. Ðây là những hiện thân riêng biệt của Thượng Ðế để cho chúng ta yêu thương, trông thấy, sờ thấy, và tin tưởng. Chúng ta vẫn có thể tiếp xúc những Minh Sư này khi nâng cao đẳng cấp của mình lên cảnh giới của họ cảnh giới cao hơn là ở tinh cầu vật chất này. Nếu tôi làm được thì quý vị cũng sẽ làm được. Nếu anh chị em đồng tu chúng tôi làm được thì quý vị cũng làm được. Nó đang xảy ra bây giờ; không phải chỉ có mấy ngàn năm về trước."

"Cũng mừng là chúng ta cùng một thể với "Hệ Thống" này; chúng ta đồng một thể với Ðạo, đồng thể với tất cả những gì mà mình nhìn thấy, mơ tưởng tới, tưởng tượng được, chúng ta là cái đó. Giống như chúng ta là một nhân vật trong hội trường này, nhưng cũng là toàn thể khán giả. Thấy được Thượng Ðế, biết được Thượng Ðế, thậm chí nói chuyện được với Thượng Ðế là một chuyện rất bình thường đối với chúng ta. Một số chúng ta đã chọn nhiều rồi. Có khi chọn làm người u minh; có khi chọn quên mình là đồng thể với Thượng Ðế và Thượng Ðế ở trong mình. Có khi chọn làm những cái không phải đạo, kêu bằng 'không phải đạo' hoặc trái với tình thương. Chúng ta đã chọn làm rất nhiều chuyện, nhưng có thể bây giờ là lúc cho chúng ta chọn một sự nhận thức cao hơn, nhớ lại Ðại Ngã của mình bởi vì chúng ta đã làm tất cả những cái thấp kém kia rồi."

Sau đó, Sư Phụ cho "quà" khán giả. Ngài hỏi những ai muốn thể nghiệm Thượng Ðế thì hãy nhắm mắt lại, tập trung vào mắt trí huệ của mình, rồi Ngài dạy cho họ Pháp Thiền Phương Tiện. Ngài hứa sẽ ở một bên sẵn sàng 24 tiếng đồng hồ nếu họ gọi danh Ngài đến giúp. Sư Phụ nói đó là điện thoại gọi gần, mọi người cười thích thú.

Mở Mắt Linh Hồn

Trong phần vấn đáp, Sư Phụ nói:

* "Mắt trí huệ còn được gọi là "Mắt của Linh Hồn". Trước khi lên được đẳng cấp có thể nhìn thấy được Thượng Ðế bằng cả mắt trần lẫn mắt huệ thì chúng ta nên nhắm mắt trần lại trong lúc ngồi thiền để đỡ bị phân tâm."

* "Chúa Giê Su nói: "Trong nhà của Cha ta có nhiều lâu đài". Chữ "Lâu Ðài" chỉ những cảnh giới khác nhau. Dùng "con đường linh hồn", chúng ta có thể lên thiên đàng, thấy chúng sinh thuộc những đẳng cấp khác nhau, hay xuống địa ngục giúp những người đang đau khổ và đem họ lên. Ðây là những cái chúng ta có thể chọn sau khi khai ngộ."

* "Chúng ta không thể lừa bịp chính mình trong giờ phút lìa đời. Tiềm thức của chúng ta ghi lại tất cả những gì chúng ta đã làm khi còn sống; dù không một người nào trên thế giới này biết, tiềm thức của chúng ta vẫn biết. Cho nên khi chết, chúng ta bỏ tấm áo thể xác này, tất cả sẽ trở thành trong suốt. Chúng ta tuyệt đối biết tất cả, mọi người biết - cả vũ trụ tuyệt đối biết tất cả những gì chúng ta đã làm; vì vậy mà chúng ta cần phải giữ gìn thân khẩu ý cho trong sạch và cao thượng."

* "Mắt trí huệ luôn luôn mở; chúng ta không nhìn bằng nó mà thôi. Chúng ta hay dùng mắt trần, tai trần của thân thể này mà quên đi khả năng thiên đàng mình có. Thành ra chúng ta mới không biết chính mình."

* "Nếu quý vị tu pháp Quán Âm, thí dụ vậy, và mắt huệ thông suốt, quý vị sẽ tự động giải quyết được vấn đề mà không cần phải cố gắng; quý vị sẽ thông minh sáng suốt hơn. Những việc làm trong đời sống hằng ngày tự nhiên sẽ được nhiều kết quả hơn, đời sống sẽ tốt đẹp hơn. Quý vị sẽ cảm thấy dễ chịu hơn về mọi mặt."

* "Chúng ta gây chiến tranh vì không biết Thượng Ðế, không thấy rằng mình là một phần của Thượng Ðế, không thấy rằng anh em mà chúng ta giết cũng là một phần của Thượng Ðế, cũng là Phật. Vì thế mà mọi người cần phải khai ngộ, rồi chúng ta sẽ thấy rằng tất cả chúng ta là một, tất cả chúng ta là anh chị em với nhau, lúc đó mới hết chiến tranh."

* "Chúng ta không ăn thịt là vì chúng ta muốn phát triển hoặc nhớ lại Bản Tính từ bi của chúng ta. Vì Phật, Thượng Ðế là thương yêu, nhân từ, nếu muốn thành Thượng Ðế trở lại, đồng thể với Thượng Ðế lần nữa, hoặc gần Thượng Ðế, chúng ta phải tập tính của Thượng Ðế, đó là đại từ bi, đại tình thương."

* "Tôi đến đây không phải để chứng minh điều gì cả, mà để nhắc nhở quý vị biết rằng quý vị vô cùng vĩ đại. Nếu muốn nhớ lại sự vĩ đại của mình, thì tôi có thể giúp. Ðó là cách duy nhất để chứng minh, để quý vị chứng minh cho chính mình."

Với hằng trăm người thọ Tâm Ấn và nhiều người nữa học Pháp Phương Tiện, thể nghiệm qua Thượng Ðế, Mã Lai Ał trở nên phong phú hơn về phương diện tâm linh vào ngày cuối của tháng 4 năm 2000. Những người Mã Lai có phước này sẽ nhận biết được ý nghĩa thật sự của câu "Tìm Thượng Ðế trong con trước rồi mọi điều khác sẽ được!"

Hình: Dân chúng Mã Lai bày tỏ một cách rõ rệt tình thương của họ đối với Sư Phụ.

Trạm Thứ Tư: Kathmandu, Nepal
Ngày 1 tháng 5, 2000

Thứ hai, ngày 1 tháng 5, một ngày đẹp trời, những tia nắng vàng nóng chào đón Vô Thượng Sư Thanh Hải đến thành phố Kathmandu, nước Nepal. Mấy tiếng đồng hồ trước giờ giảng pháp, những chuyến xe buýt chở đầy người và dân chúng chen chúc đứng trước Hội Trường Quốc Tế Birendra. Nhiều người đạp xe đạp ngang qua, những chiếc xe hơi từ từ dừng lại như để ngắm nghía những tấm bảng treo bích chương đẹp mang hình Sư Phụ.

Khoảng 30 phút trước giờ hội trường mở cửa đón những người nóng lòng tìm Chân Lý đang chờ đợi bên ngoài, những giải mây đen đang ôm ấp bầu trời, bỗng nổ tung trút xuống một cơn mưa như thác lũ. ánh chớp ngoằn nghèo, sấm nổ vang, nhiệt độ bớt xuống 10 độ bách phân làm mát hẳn bầu không gian oi bức. Sức gia trì của Sư Phụ thật quá rõ ràng!

Năm phòng lớn trong hội trường đã được sửa soạn để tiếp hàng ngàn người đến nghe giảng pháp. Những màn ảnh truyền hình cùng với loa phóng thanh cũng được chuẩn bị cho những người sẽ phải đứng bên ngoài. Ðám đông vào tràn ngập các phòng. Thậm chí giảng pháp chấm dứt rồi mà vẫn còn ít nhất một ngàn người đứng đợi bên ngoài, ao ước được diện kiến Sư Phụ.

Sư Phụ tới, mọi người đứng lên vỗ tay nhiệt liệt, bầu không khí vô cùng nhộn nhịp. Sư Phụ tươi sáng trong bộ y phục cổ truyền của người xứ Nepal, màu ngà, tay rộng, tuy đơn sơ nhưng thanh lịch. Sân khấu được trang hoàng mỹ thuật với các loại hoa và cây xanh. Ghế xa-lông của Sư Phụ được trải bằng một lớp vải kiểu của Népal. Một số em nhỏ trong y phục cổ truyền người bản xứ cùng với nhiều người lớn lên dâng hoa cúng dường Sư Phụ trước khi chương trình được bắt đầu.

Trước đám đông khán giả, Sư Phụ nói Ngài cảm thấy tình thương sâu đậm và tấm lòng đơn thuần của người dân Népal - Ðất Phật. (Ghi chú: Ðức Phật ra đời ở thành phố Lumbini, vùng tây nam Nepal khoảng 2500 năm về trước.), và Sư Phụ vô cùng vinh dự được viếng thăm quốc gia mỹ lệ này. Sư Phụ ngạc nhiên thấy khí trời Kathmandu nóng bức, nói rằng đã có lần Ngài ở Hy Mã Lạp Sơn bên Ấn Ðộ, tưởng khí hậu Nepal cũng phải gần như vậy. Trái lại, Népal ấm quá, ấm như lòng người bản xứ.

Trong buổi giảng pháp, Ngài nhắc nhở khán giả rằng chúng ta đã sẵn có tình thương, sự nồng ấm, trí huệ, nhưng một số chúng ta đã quên. Những người nhớ Bản Lai của họ, Thượng Ðế Tính hay Phật Tính của họ thì được gọi là "chúng sinh khai ngộ". Còn những ai vẫn chưa nhớ ra Chân Tánh nguyên thủy của mình thì chúng ta gọi là "Phật-chưa-khai-ngộ", nhưng Sư Phụ cho biết cả hai đều là Phật. Thiếu sự hiểu biết này, chúng ta sẽ cảm thấy cuộc đời còn thiếu sót, không hạnh phúc, không tự tại. Sư Phụ nói rằng mọi khổ đau và thiếu hạnh phúc trên thế gian không phải là do chiến tranh tạo ra, không phải là do nghèo đói, không phải do tình cảnh đời sống, mà là do thiếu trí huệ, không biết rằng chúng ta còn hơn cả cái thân thể này nữa.

Ví dụ như nhiều vua chúa, nhiều nhà lãnh đạo, nhiều người giàu sang nổi tiếng, họ không hạnh phúc, họ vẫn muốn thêm quyền lực, thêm tiền, thêm địa vị, cái gì cũng nhiều hơn mà vẫn không hạnh phúc. Nhưng Ðức Phật, tuy là vị vua tương lai, nhưng Ngài vẫn bỏ hết tất cả, trong mình không có cái gì mà vẫn hạnh phúc; vì Ðức Phật nhớ mình là ai còn những người kia không nhớ. Ðức Phật cũng nói: "Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành." Trong truyền thống đạo Phật nói rằng sự khác biệt giữa khai ngộ và vô minh chỉ cách nhau một sợi tóc! Sư Phụ hỏi: "Làm sao chúng ta vượt qua được khoảng cách đó dù chỉ là một khoảng cách quá vi tế như vậy? Làm sao làm được? Có làm được không?" và Ngài trả lời là "Có", bởi vì ánh Sáng bên trong chúng ta không bao giờ tắt. ánh Sáng của Phật truyền sang cho đệ tử, ánh Sáng của Krishna và ánh Sáng của Shiva không bao giờ tắt. Nó tiếp tục truyền từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, và mãi mãi sáng. Nếu chúng ta tìm thấy ánh Sáng này, nó sẽ truyền sang ngọn nến nguội lạnh của chúng ta và ngọn nến chúng ta sẽ sáng lên ngay lập tức. Sự khác biệt giữa khai ngộ và không khai ngộ là tùy chúng ta chú tâm vào chỗ nào. Nếu chú tâm vào thân thể, vào môi trường vật chất ở xung quanh, tất cả những cái ở trong thế giới vật chất này thì chúng ta là chúng sinh vật chất, chúng ta ở trong thế giới vật chất. Nếu chú tâm đến Bản Ngã bên trong của chúng ta, vào Bản Tính Thượng Ðế luôn luôn có sẵn bên trong, thiên phú, không bao giờ mất thì chúng ta trở thành Minh Sư khai ngộ. Chỉ khác nhau chỗ đó thôi. Vượt qua khoảng cách này là một việc rất là đơn giản."

"Khi hướng sự chú ý vào bên trong, vào Bản Lai Nguyên Thủy của mình, chúng ta sẽ thấy ánh Sáng, Thiên Quốc, Thiên Ðường, bất cứ những gì làm nâng cao tâm thức của chúng ta, làm cho chúng ta sung sướng, sáng suốt. Khi hướng nội, lắng nghe Bản Ngã của mình, chúng ta sẽ nghe trực tiếp những giáo huấn từ Thượng Ðế, từ Thiên Ðàng, từ những vị Minh Sư quá khứ, tương lai và hiện tại, những lời trực tiếp, không ô nhiễm, vĩnh viễn trường tồn. Những lời dạy này làm chúng ta nhớ lại chúng ta là Thượng Ðế, từ Thượng Ðế mà ra. Việc này có thể xảy ra ngay tức thời. Chúng ta chỉ cần hướng vô trong."

"Chỉ thực sự thể nghiệm được đấng Thiêng Liêng, chỉ thật sự khai ngộ, thực sự nhận thức Chân Tánh của chính mình, chúng ta mới có thể tự tại, an vui, sung sướng, trí huệ hơn. Sau khi khai ngộ, Ðức Phật vẫn tiếp tục xuất gia. Ngài không cần phải làm vua hay trở lại đời sống trước kia. Lẽ dĩ nhiên, Ðức Phật vẫn có thể làm vua nhưng cũng vẫn là một người khai ngộ. Sau khi khai ngộ, dù làm cái gì cũng vẫn là khai ngộ. Shri Rama rất khai ngộ, cho nên không nhất thiết là ông làm vua hay bị đày xa nhà hàng ngàn dặm, ông vẫn sung sướng. Sau cùng người ta yêu cầu ông lên làm Vua, ông cũng nói: "Cũng được!"

Ðây là một người khai ngộ. Không có một cái gì làm họ vướng bận, dù đó là sự nghèo khó, xuất gia hay một vương quốc. Người khai ngộ làm bất cứ cái gì hoàn cảnh đòi hỏi, bất cứ cái gì lợi ích chúng sinh, bởi vì bên trong họ chỉ có an bình, thương yêu và hạnh phúc. Không cần phải có sự giúp đỡ về vật chất hay không về vật chất để cho họ hài lòng. Ðối với người khai ngộ, mọi việc họ làm chỉ vì lợi ích cho kẻ khác; họ làm hay không làm, lấy hay không lấy. Thậm chí ăn đồ ăn, uống sữa, tất cả mọi việc chỉ vì kẻ khác. Muốn được tự tại, an vui, hạnh phúc, yêu thương và thực sự sung sướng trong tâm, chúng ta cần phải nhớ mình thật sự là ai ở bên trong, như Ðức Phật và nhiều bậc Ðại Minh Sư khác.

Một trong những Ðại Minh Sư ở Ấn Ðộ rất là nghèo. Có một người, có thể là một nàng công chúa, biếu ông một viên kim cương, một hột ngọc. Viên ngọc đó trị giá ngàn vàng, nhưng ông không thèm lấy. Cô ấy để viên ngọc trên mái nhà, khi trở lại, nó vẫn nằm ở đó. Ðối với người khai ngộ, nghèo không ăn nhằm gì. Họ cũng có thể giàu, nếu muốn. Họ không cần phải sống nghèo, nhưng giàu nghèo gì đối với họ cũng giống nhau. Những vị Minh Sư này không còn bị ràng buộc bởi những cái họ có hay không có, vì họ đã biết tất cả những gì trên thế giới này đều không phải là Bản Lai thật sự của họ. Họ đã biết Thiên Quốc rồi. Muốn đạt được an bình, toại nguyện như vậy, chúng ta cũng phải kiếm bên trong, tìm sự vĩ đại của chính mình."

"Nhớ lại chính mình rất dễ - dễ hơn là thở, ăn, nói chuyện. Quảng cáo không thỏa mãn được nhu cầu, không thỏa mãn được những thèm muốn của chúng ta. Chúng ta cần có cái thật. Khai ngộ là đồ thật, không phải chỉ nói qua, giới thiệu hay quảng cáo mà thôi. Quảng cáo có thể nói là 'nước Coca-Cola ngon lắm'. Một quảng cáo khác có thể nói rằng 'táo ngọt lắm'. Nhưng chúng ta không bao giờ cảm thấy gì hết nếu chỉ nghe quảng cáo. Không thấy ánh Sáng. Không cảm nhận được gia trì của Thượng Ðế nếu chỉ có quảng cáo mà thôi."

Sư Phụ nói rằng không phải Ngài "cho người khác" cái gì, bởi vì chúng ta luôn luôn có sẵn Chân Tánh. Chúng ta chỉ quên không biết nó ở đâu mà thôi. Ngài sẽ cho chúng ta biết làm sao để khai ngộ, rồi chúng ta sẽ vĩnh viễn được lại Chân Tánh của mình.

Tới phần cuối của buổi giảng pháp, Sư Phụ đi xuống gặp gỡ chào hỏi đám đông. Dùng máy vi âm nói chuyện với những người đứng ngoài hội trường, Ngài nói rằng tuy họ không có chỗ ngồi trong giảng đường, nhưng họ đã có chỗ trong trái tim Ngài.

Sau buổi giảng pháp, hơn 600 người được thọ Tâm Ấn. Sau đó, mỗi ngày nhiều người gọi điện thoại xin thọ pháp! Những "ngọn sóng" từ chuyến hoằng pháp "Biển Tình Thương" vẫn tiếp tục cuốn vào bờ trên vùng đất Népal. Sự hiện diện từ bi của Sư Phụ đang thức tỉnh tâm hồn của những người tầm đạo, cho dù nhục thể của Ngài đã rời khỏi nước.

Hình: Sư Phụ làm động lòng nhiều ngườitại Ðất Phật -Nepal.

Thể Nghiệm Của Tôi Trong Buổi Thuyết Pháp của
Thanh Hải Vô Thượng Sư

Do nữ đồng tu mới, Punam Ghimire, Hoa Hậu Nepal
(Nguyên văn tiếng Anh)

Ðây là một thể nghiệm tuyệt vời! Mọi thứ vô cùng tuyệt diệu và thật là đáng quý: Các anh chị em trong Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư, sự hợp nhất của họ, tính chất đơn thuần giản dị, lòng thành tâm, nghĩa cử lịch sự của họ, Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư và bài thuyết giảng đầy trí huệ. Theo ý tôi thì không những riêng tôi mà tất cả mọi người tham dự buổi thuyết pháp và lễ truyền Tâm Ấn này chắc chắn cũng cảm thấy như vậy.

Thư Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút nguyệt san "Himshikhar", Nepal
(Nguyên văn tiếng Anh)

Thanh Hải Vô Thượng Sư:

Trân trọng kính chào. Xin cảm ơn Ngài về buổi nói chuyện xác thực ở quê hương của miền rừng núi Everest. Tôi cũng hy vọng được đón tiếp Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư đến quê hương Hy Mã của xứ Nepal trong tương lai, và cầu nguyện Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư sẽ một lần nữa đặt chân lên đất Phật.

Tôi là một trong những người có mặt tại Trung Tâm Quốc Tế Birendra tại Kathmandu, thủ đô của Nepal, đã nhiệt thành và chăm chú lắng nghe những lời giảng dạy của Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư đáng kính. Buổi nói chuyện của Ngài tràn đầy hứng khởi và tâm điểm là hòa bình thế giới và sự lợi ích cho nhân loại. Tôi chân thành cầu chúc cho những người khác cũng sẽ có cơ hội được nghe những lời vàng ngọc của Ngài.

Thành kính
Surya Prasad Koirala
Chủ Nhiệm/Chủ Bút, Báo Himskikhar
Hình: Punam Ghimire, Hoa Hậu Nepal 1996-97

Trạm Thứ Năm: Hồng Kông
Ngày 2 tháng 5, 2000

Trạm thứ năm trên chuyến hoằng pháp của Thanh Hải Vô Thượng Sư năm 2000 qua Ðại Dương Châu và á Châu được tổ chức ở Hồng Kông vào ngày 2 tháng 5. Trận mưa lũ làm bầu không khí đang nóng ẩm trở nên tươi mát. Tối mưa vẫn còn rơi, nhưng hàng ngàn người thành tâm tìm Chân Lý dường như không sờn lòng, tìm đến Vận Ðộng Trường Queen Elizabeth trong khu phố Wan Chai.

Sau giờ trưa, nhiều người xếp hàng đứng ngoài Vận Ðộng Trường. Tới 6 giờ chiều, cả trong lẫn ngoài Vận Ðộng Trường đèn bật sáng. Quan khách nóng lòng đổ xô vào cửa, tràn ngập phòng triển lãm trên lầu hai, nơi trưng bày kinh sách, Thiên Trang và Thiên Y. Quan khách ai nấy khâm phục, ngợi khen ra mặt. Trước 7 giờ tối, ghế trong hội trường không còn chỗ trống. Trên cao giữa hội trường, một màn ảnh lớn chiếu cuốn băng ngắn giới thiệu về Sư Phụ, "Sống Ðường Tình Thương" (Walk the Way of Love). Sau đó, một đồng tu Hồng Kông lên chia xẻ với khán thính giả về thể nghiệm của anh trên bước đường tu học. Vào lúc đó, Sư Phụ dịu dàng lịch thiệp bước vô; toàn thể hội trường vỗ tay như sấm động. Khán giả hăng hái đứng dậy đón chào Sư Phụ.

Tuy mệt nhọc qua cuộc hành trình vất vả, Sư Phụ vẫn giữ nét vui tươi, dễ chịu; tình thương và sức gia trì bất tận từ Ngài tỏa ra một cách tự nhiên. Với lời nói khôi hài nhưng đầy trí huệ, Sư Phụ làm toàn thể khán giả cười thích thú, vỗ tay liên tục. Bài giảng của Ngài sống động nhưng đơn giản và dễ hiểu, trực chỉ trí huệ và Chân Tánh bên trong của chúng ta. Lấy những ví dụ điển hình qua các vị Thánh thời xưa và những hiện tượng thông thường xảy ra trong đời sống hàng ngày, Sư Phụ cho thấy ngay cả hạnh phúc to lớn nhất trên thế giới này cũng không thể nào so sánh được với chân hạnh phúc mà chúng ta khám phá ra trong yên lặng khi tìm được Bản Lai nguyên thủy bên trong. Những người tu hành dễ dàng tự tại, bởi vì họ đã thoát, không còn bị sự giàu nghèo, sang hèn trói buộc, vì họ đã tìm ra Chân Tánh của họ. Sư Phụ lấy ví dụ Ðức Phật Thích Ca, Ngài có nguyên một vương quốc to lớn và tất cả tài sản, vinh quang ở đời, nhưng chỉ sau khi đạt được đại khai ngộ, Ngài mới thật sự giàu có và được tất cả.

Thật tình mà nói, chỉ khi nào thật sự có của cải, hạnh phúc, chúng ta mới có thể thật sự cho người khác của cải và hạnh phúc. Chỉ khi nào thật sự tìm thấy trí huệ bên trong, chúng ta mới có thể chỉ cho người khác trí huệ ở đâu. Tất cả thánh kinh đều nói rằng Thượng Ðế ngự trong ta. Sư Phụ hỏi: "Vậy tại sao chúng ta không tìm thấy?" Ngài trả lời: "Ðó là vì chúng ta nghĩ mình là phàm phu, dùng tất cả thời giờ làm công việc phàm phu, nghĩ theo đường lối phàm phu, tranh đấu cho sự sống còn của thân xác này. Chúng ta quên mình là Thượng Ðế. Nếu có người nói cho chúng ta biết sự thật, giúp chúng ta nhớ lại Bản Lai nguyên thủy của mình, rằng chúng ta là Thượng Ðế, thì rất dễ; không có gì là thần bí".

Sư Phụ xòe bàn tay ra bảo rằng khai ngộ thật dễ như trở lòng bàn tay. Nhờ khai ngộ, chúng ta sẽ nhận thức được Phật Tánh trong ta, phẩm tính bẩm sinh chúng ta đã có từ lúc ra đời. Chỉ khám phá lại, chúng ta mới có thể nhận thức được rằng tất cả chúng ta đều có cùng một Thượng Ðế Tánh và mọi người vốn đồng một thể, không phân biệt bạn hay thù, tôi hay anh. Lúc đó chúng ta mới thật sự an ổn, thuận hòa và có thể mang hòa bình thật sự về cho thế giới.

"Ví dụ như chúng ta vô ý làm đau ngón tay hay một phần trong thân thể. Chỗ đau này sẽ suốt ngày làm phiền toái chúng ta, không để cho mình ăn ngon ngủ khỏe. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta chặt chỗ đau ấy đi, mà phải tìm cách chữa trị. Sau khi tìm được Thượng Ðế Tính, rất dễ cho chúng ta thương yêu kẻ thù. Cái gì cũng dễ. Chúng ta sung sướng dù sống trong lâu đài hay trong lều; chúng ta thoải mái dù giàu sang hay nghèo túng; chúng ta cảm thấy vui dù bận đồ sặc sỡ hay đơn giản. Không một cái gì có thể làm cho tâm chúng ta lay chuyển. Vì thế, Phật Thích Ca bảo rằng mọi thứ ở đời đều là ảo tưởng; chỉ tìm thấy Chân Tánh thì mới là vĩnh cửu. Chúa Giê-Su Kê Tô cũng dạy rằng kho tàng của chúng ta không phải ở trong thế giới này, mà là ở Thiên Quốc vĩnh hằng. Chúng ta hay hướng sự chú ý ra ngoài, thành ra mới quên con người thật của mình. Khi nào nhìn vào trong, chúng ta sẽ biết mình là Thượng Ðế. Có một câu trong kinh Phật: "Ðồ tể buông dao lập tức thành Phật". Thật ra, chỉ cần buông thế giới này ra là chúng ta lập tức vào Niết Bàn. Thiên đàng ở bên trong chúng ta, chỉ cần vào trong là có thể tìm thấy được."

Tuy bài giảng không dài, nhưng lời giải thích giản dị của Sư Phụ quá hùng hồn, thâm thúy. Hàng trăm người thọ Tâm Ấn ngay sau đó. Thậm chí một phóng viên báo chí cũng xin học Pháp Thiền Phương Tiện sau khi nghe pháp. Ngoài dân Hồng Kông và du khách từ các quốc gia, còn có nhiều người đến từ khắp nơi trong Trung Hoa Lục Ðịa, người già lẫn trẻ em.

Sau buổi lễ Tâm ấn, tất cả những người mới thọ Pháp mặt mũi sáng tươi, mãn nguyện. Một tân đồng tu người Quảng Ðông trông giống hệt như một Phật Di Lạc "con", với khuôn mặt cười béo phệ. Một em bé gái có thể nghiệm rất tốt lúc thọ pháp cho hay em rất thích buổi truyền Tâm Ấn và cảm thấy vô cùng có phước được gặp Sư Phụ xinh tươi ngoài đời. Một số người đi với thân nhân đồng tu đến thọ pháp từ những nơi rất xa xôi, nỗi mừng vui hiện rõ ràng trên nét mặt. Sau khi thọ Tâm Ấn và hưởng những thể nghiệm tuyệt vời, họ nói rằng họ đã quên hẳn mọi khó khăn của cuộc hành trình, và trong tâm chỉ còn biết cám ơn.

Sự gia trì của Sư Phụ bao trùm mọi chúng sanh; Ngài đánh thức chúng ta dậy để thoát ra khỏi thế giới ảo mộng mà tìm về bản lai diện mục và Phật Tánh chính mình. Ngài giúp chúng ta thật sự nhận thức được rằng tất cả những thành phần trong Tạo Hóa đều là đồng một thể và ngộ được Chân Tình Thương, một tình thương đã hiện hữu trong chúng ta từ thuở khai thiên lập địa.

Hình: Với những câu nói khôi hài đầy trí huệ, Sư Phụ chỉ cho chúng ta nhìn thẳng vào Bản Lai và Trí Huệ bên trong.

Trạm Thứ Sáu: Manila, Phi Luật Tân
Ngày 3 tháng 5, 2000

Nếu những ai chưa từng nhìn thấy tận mắt buổi thuyết giảng của Sư Phụ thì khi đọc tin Thanh Hải Vô Thượng Sư có khả năng hấp lực một đám đông khổng lồ chắc cũng khó tin. Nhưng khi chứng kiến một làn sóng người chưa từng có chảy vào "Biển Tình Thương" để nghe giảng pháp, thì dù có diễn tả Ngài là một người làm thỏa mãn đám đông, cũng hãy còn thiếu sót. Một đám đông khổng lồ từ mọi nẻo đường đời tràn vào Khách Sạn Manila Midtown ngày 3 tháng 5, để dự buổi giảng pháp "Biển Tình Thương". Ðại Sảnh trong khách sạn với 3,000 ghế ngồi kẹt cứng người, góc nào cũng có. Rất nhiều người không tìm được chỗ, ngay cả chỗ để các máy truyền hình ngoài hành lang và chỗ tiếp tân của khách sạn. Một xướng ngôn viên đài truyền thanh tuyên bố có đến từ 6000 đến 7000 người tụ tập để nghe Vô Thượng Sư Thanh Hải. Một người chuyên về vấn đề tập họp tại Manila, theo sự ước đoán của anh thì số người có mặt ở buổi thuyết giảng này có thể lên đến 10.000.

Mới khoảng 10 giờ sáng, hàng trăm người sốt sắng không sợ nắng cháy đổ lửa giữa mùa hè đã đến đợi để có chỗ ngồi tốt, không tốn tiền, nhưng cao giá, một buổi giảng pháp sẽ bắt đầu vào lúc 7 giờ chiều. Ðến 9 giờ tối, cả ngàn người vẫn còn tụ tập bên ngoài, chờ dịp để được gặp và nghe Sư Phụ. Ông giám đốc khách sạn Midtown bật miệng: "Một hiện tượng lạ kỳ!" Viên quản lý tiếp tân cho khách sạn cũng tuyên bố: "Ðây là lần đầu tiên chúng tôi thấy một đám đông lớn như vậy".

Bác Sĩ Rene Santos xác nhận: "Thật không ngờ, nhất là người Phi Luật Tân đa số theo Công Giáo, chuyện ăn chay, ngồi thiền ở đây không thịnh hành gì mấy!" Người Công Giáo, Hồi Giáo, Cơ Ðốc Giáo, Phật Giáo, và các tôn giáo khác đều được đại diện ở buổi giảng pháp. Cũng có nhiều nhân vật quan trọng tới tham dự, kể cả ông Manuel L. Morato (Cựu Chủ Tịch Văn Phòng Từ Thiện Phi Luật Tân), bà Eva Estrada Kalaw (Cựu Thượng Nghị Sĩ Phi Luật Tân), bà Lourdes A. Genato (Thư Ký Hội Hồng Thập Tự Phi Luật Tân), ông Dante Le Jimenez (Chủ Tịch Phong Trào Chống Tội ác và Tham Nhũng), ông bà Joe Lad Santos (Nhà Ấn Bản Báo "Lãnh Ðạo"), và ông Nargarito T. Agnino (Chủ Tịch Ban Quản Trị Báo "Lãnh Ðạo").

Sư Phụ tới giảng đường dáng điệu xinh tươi trong bộ đồ trắng đơn sơ, thanh lịch. Ðể chào mừng, một nhóm học sinh lên trình diễn màn vũ dân tộc Phi Luật Tân miêu tả nền văn hóa nơi đây và cách Phi Luật Tân chào mừng quan khách.

Trước khi bắt đầu, Sư Phụ nói mọi người nhắm mắt cầu nguyện cho dân tộc và quốc gia Phi Luật Tân. Ngài xin lỗi đã không cung cấp đủ chỗ ngồi trong hội trường. Với những người không có chỗ ngồi, Sư Phụ nói: "Quý vị luôn luôn có chỗ trong trái tim tôi."

Sư Phụ khen dân Phi Luật Tân có một bản tính tâm linh thành tâm và ấm áp, nhất là đối với việc bố thí. "Nếu chúng ta chỉ tử tế và bố thí khi sống trong hoàn cảnh may mắn hoặc khi giàu có, dễ chịu thì không có gì đáng ngạc nhiên. Chỉ khi nào chúng ta bố thí trong tình trạng kém cỏi, tầm thường, ngay cả những lúc khó khăn, Thượng Ðế sẽ biết chúng ta thật sự là những đứa con cưng của Ngài, và chúng ta đang mang tình thương Thượng Ðế tới tinh cầu. Quý vị được gia trì, phước báu. Quý vị vĩ đại, yêu thương, tử tế, ấm áp và rất là rộng lượng. Mọi khó khăn trở ngại quý vị trải qua chỉ làm sáng tỏ tấm lòng vĩ đại của dân tộc nước Phi Luật Tân." (Chính phủ vaà dân chúng Phi Luật Tân đã chấp nhận hơn 5 ngàn người tỵ nạn Âu Lạc và cấp dưỡng cho họnhư những người công dân Phi.)

Ðể tiếp tục diễn tả Thượng Ðế một lực lượng tối cao - đại từ, đại bi, đại lượng - Sư Phụ nói chúng ta phải đi vào trong để nhớ và trở về Thiên Quốc. Bằng một giọng tràn đầy tình thương, Sư Phụ nói: "Tất cả chúng ta từ Thiên Ðàng xuống đây. Ngay cả những kẻ người ta nghĩ là tội nhân khủng khiếp nhất, họ cũng từ Thiên Ðàng xuống đây. Lý do họ phạm tội là vì ở dưới này họ quá thất vọng. Trong tiềm thức xa vời, họ nhớ Thiên Ðàng như thế nào. Họ nhớ sự tự do, đầy đủ, sự giàu sang và lực lượng tối cao mà họ đã có khi còn với Ðức Chúa Trời."

Sư Phụ nói rằng trẻ sơ sinh cũng nhớ nơi chốn của chúng trên Thiên Ðàng, nhiều khi nhớ rất là rõ! "Tới khi xuống tinh cầu này, bị tù túng trong thể xác này, chúng ta cảm thấy bị hạn chế rất nhiều, cho nên trẻ con mới khóc khi chào đời. Nếu ở đây hạnh phúc thì lúc sinh ra chúng phải cười chứ. Ðó là bởi vì trẻ sơ sinh khi mới ra đời, chúng hãy còn tiếp xúc rất nhiều với lực lượng Thượng Ðế và Ðấng Cha trên Thiên Ðàng. Khi tiếp xúc với thế giới thô thiển đau khổ này, chúng lập tức cảm thấy đau đớn không thể chịu được, cho nên chúng khóc."

Càng nhiều tuổi, trí nhớ của chúng ta càng mờ dần. Cái đó cũng có lý do: để chúng ta có thể tiếp tục đời sống vật chất này mà không bị nhớ Nhà. Chúng ta phải làm những gì chúng ta phải làm ở đây, cho nên Thượng Ðế an bày cho chúng ta quên nguồn cội của mình, nhưng chỉ một thời gian thôi. "Chúng ta xuống đây để biết Thượng Ðế. Dù mục đích ở đời có khác nhau, lý do chúng ta đến đây có khác nhau, lối sống của chúng ta khác nhau, nhưng mục đích duy nhất, có một không hai mà chúng ta có khi tới đây, đó là ngộ ra Thượng Ðế. Nghe thì thấy có vẻ ngược ngạo, nhưng nó là như vậy."

Sư Phụ giải thích lý do chúng ta cần sự tương phản giữa thế giới vật chất và thế giới thiên đàng là vì chúng ta đã ở trên Thiên Ðàng với Cha từ muôn thuở rồi. Chúng ta đã đồng một thể với Tạo Hóa tất cả thời gian. Cho nên cần phải có một sự phản chiếu tất cả những huy hoàng, rực rỡ này; cần phải thể nghiệm những cái không thật để biết cái gì là thật. Giống như chúng ta cần cái gương để soi mặt. Cái gương chỉ cho thấy hình ảnh, một sự phản chiếu. Cái gì thấy không phải là thật, nhưng nhờ cái gương mà chúng ta biết được mặt mũi của mình như thế nào.

Tương tự như vậy, thế giới này chỉ là một ảo ảnh, một hình ảnh trong gương, một sự phản chiếu của thế giới thật của Thượng Ðế. Nhưng chúng ta cần nó để biết Thượng Ðế như thế nào. Bởi vậy Thánh Kinh mới nói rằng đừng có phán đoán bởi vì sẽ bị phán đoán. Chúng ta không nên phán đoán anh em mình vì họ cũng là con cái của Thượng Ðế. Họ thuộc cùng một bản chất như Thượng Ðế. Tất cả chúng ta đều là con cái Thượng Ðế, bất kể một người làm gì, bên trong họ cũng vẫn là Thượng Ðế.

Tất cả chúng ta chọn những con đường khác nhau để biết Thượng Ðế. Có người chọn con đường rất đạo đức để biết Thượng Ðế lẹ hơn. Có người chọn con đường dài hơn, khó hơn bằng cách thiếu đạo đức, thiếu tính cao thượng, không được tốt, để biết Thượng Ðế trong một đường lối dữ dội hơn. Dĩ nhiên, theo tiêu chuẩn phàm phu, chúng ta đánh giá xấu và tốt, đạo đức và bất lương. Cho nên mới có sự phán đoán, bình phẩm. Nhưng đối với Cha, tất cả chúng ta là bình đẳng, bởi vì dầu sao đi nữa mọi cái ở đây cũng đều là ảo ảnh. Xấu hay tốt cũng không phải là thật. Nó chỉ là một sự phản ảnh để chúng ta biết Thượng Ðế một cách trọn vẹn. Chúng ta đã ở trên Thiên Ðàng quá lâu rồi, mọi thứ ở đó quá tốt đẹp, quá thanh bạch trong lành, quá hoàn mỹ đến nỗi không thể biết nó là hoàn mỹ trừ khi chúng ta thấy sự không hoàn mỹ - giống như không thể nhận ra bản tính đàn ông nếu không có bản tính đàn bà để mà so sánh. Không thể biết sự tốt nếu không có cái gì xấu để làm tương phản. Bởi vậy chúng ta mới xuống thế giới này, để biết khổ đau.

Tuy nhiên, chúng ta không phải tiếp tục chịu đựng hoặc không phải mãi mãi nhớ nguồn cội thiên đàng của mình. Sư Phụ nói với khán giả: "Tôi sẽ chỉ cho quý vị vương quốc bên trong. Như vậy quý vị mới có thể tự mình thấy rằng chúng ta không phải là chúng sinh phàm phu, không phải là thân thể trần tục này. Thượng Ðế sống trong chúng ta. Khi Thượng Ðế sống trong chúng ta thì chúng ta là một phần của Thượng Ðế, là đồng thể với Thượng Ðế. Chúng ta không phải là những chúng sinh tầm thường, phàm tục. Nếu tự nhìn thấy được điều này, lúc đó chúng ta sẽ thật sự hiểu Kinh Thánh, khi Chúa Giê Su nói rằng Thiên Quốc ngự trong chúng ta. Cái đó chúng ta có thể tự mình thấy được."

Khi tả Thiên Quốc trong ta, Sư Phụ nói: "Chúng ta sẽ thấy một số thể nghiệm mà những vị thánh trong quá khứ đã thể nghiệm khi họ câu thông với Thượng Ðế. Thí dụ, Thánh John nghe tiếng kèn của thiên đàng, Moses thấy Thượng Ðế hiện ra trong hào quang rực rỡ. Ông cũng nghe thấy Thượng Ðế nói, âm thanh như sấm động và âm thanh như nước chảy. Những thể nghiệm được ghi chép trong Kinh Thánh là có thật, nhưng không phải những bí ẩn chỉ xảy đến với những thánh nhân trong quá khứ. Những chuyện này có thật, và có thể xẩy đến với bất kỳ ai trong chúng ta tại đây ngày hôm nay, vì tất cả chúng ta là con cái của Thượng Ðế. Thành ra bất cứ lúc nào muốn trở vào trong để thấy Thiên Quốc, chúng ta cũng đều làm được. Nhưng chúng ta không làm. Bình thường chúng ta chỉ thấy kẹo, bông hoa, người, công việc, tiền, đường xá, xe cộ, mặt trời, mặt trăng ở bên ngoài, mà không bao giờ thử đi vào trong, một thế giới hoàn toàn khác hẳn, một thế giới thật sự. Thiên Quốc bên trong tràn đầy huy hoàng, rực rỡ, đầy ánh Sáng, sáng hơn cả 10.000 mặt trời ở tinh cầu này. Nhưng nó không làm bỏng mắt, không làm cho mình khó chịu, mà nó làm mình cảm thấy nhẹ nhàng, hoan hỉ, sáng suốt, yêu thương, tử tế và gần hơn với thế giới nguyên thủy của chúng ta, đó là cái kêu bằng 'thiên đàng'."

Sư Phụ nói tiếp: "Lý do chúng ta không hạnh phúc là vì, cho dù có nhiều tiền bao nhiêu, địa vị xã hội cao bao nhiêu, chúng ta đã quên Thiên Quốc thật sự này. Chúa Giê Su nói đừng nên giữ kho tàng ở đời, kho tàng thiệt của chúng ta là ở thiên đàng. ý Ngài nói rằng chúng ta phải nhìn kho tàng này từ bên trong, lúc đó đời sống luôn luôn tốt đẹp hơn. Thậm chí kho tàng nội tại này cũng sẽ thể hiện trong cuộc sống hằng ngày, làm chúng ta trở thành một con người khác. Diện mạo sẽ khác, sự suy nghĩ sẽ khác, hiệu lực làm việc sẽ khác, và sự thông minh của chúng ta sẽ khác. Cả quan điểm của chúng ta cũng sẽ đổi khác từ bên trong."

"Ngày nay trông tôi khác hơn là 15 năm về trước. Tất cả những gì tôi có bây giờ là do những gì Thiên Quốc ban cho tôi. Là một người phàm phu, tôi không bao giờ làm được chuyện gì. Tôi không là gì cả, cho tới khi Thượng Ðế ban cho linh hồn tôi tình thương và sự hiểu biết của Ngài, cho tới khi Thượng Ðế làm cho tôi thức tỉnh và cho tôi thấy Ngài đang ở đó. Ngài cho tôi thấy rằng tôi luôn luôn có thể yêu thương Ngài, tin tưởng nơi Ngài, và gọi Ngài. Ngài bảo rằng Ngài là Vô Thượng Sư. 'Thanh Hải' nghĩa là Biển Tình Thương. Ðó không phải là một danh xưng vật chất, mà đó là danh xưng của Cha chúng ta. Chúng ta cũng có thể kêu Ngài bằng những cái tên khác nhau, không thành vấn đề. Giống như chúng ta gọi mẹ mình là 'mẹ', 'má', bất cứ tên gì, bả cũng biết và chúng ta cũng biết."

"Nếu không ngộ ra con người thật của mình, không bao giờ chúng ta thật tình hạnh phúc. Nhưng nếu biết Thượng Ðế, khi còn ở trong thân thể này chúng ta đã hạnh phúc rồi, để khi chết đi, chúng ta sẽ tiếp tục niềm sung sướng ấy, và chỉ có thiên thần, các bậc thánh nhân tới rước chúng ta. Vốn từ thiên đàng xuống đây, chúng ta chỉ 'mượn' thân xác này trong thời gian lưu lại đây. Nó cũng giống như là ở trong khách sạn hay lái xe hơi. Cả hai đều thuận tiện cho những mục đích khác nhau. Nhưng con người thật của chúng ta là người lái, chứ không phải cái xe. Là người tài xế, mình có thể leo ra leo vô bất cứ lúc nào và hưởng thụ những cái khác nhau. Cũng giống vậy, vì con người thật (Chân Ngã) của mình ở bên trong, chúng ta có thể đi vào Thiên Quốc rồi trở ra. Ðó mới là giải thoát thật sự, tự do thật sự, khi còn sống."

"Tìm được Thiên Quốc bên trong rồi, chúng ta có thể lo cho gia đình, những bổn phận khác và vừa hưởng thụ thiên đàng cùng lúc mỗi khi có thời giờ rảnh rỗi. Khi nào giỏi đi đi về về như vậy thì chúng ta có thể làm được cả hai trong cùng một lúc, có thể đánh răng vừa nói chuyện với Thượng Ðế, có thể rửa chén vừa nhìn thấy thiên đàng, nhưng chuyện này cần phải tu. Cần tu vì chúng ta không những đã quên thiên quốc ở bên trong mà còn quên rằng mình có thể thoát khỏi thân thể này bất cứ lúc nào."

Ðể chứng Minh Sức mạnh của sự quen suy nghĩ, Sư Phụ kể câu chuyện một viên phi công thường hay phải làm việc ban đêm. Trong giờ làm việc, người phi công này quen ngủ trên ghế bố hơn là ngủ trên giường thường. Ông hay dùng ghế bố ở sở, rất nhiều giờ trong cuộc sống. Sau một thời gian ông không ngủ nổi trên giường nhà ông nữa. ồng quen ngủ ghế tới nỗi cái giường bình thường, nằm thẳng người, dễ chịu trở thành khó chịu đối với ông. Rốt cuộc, người phi công phải mua một cái ghế giống y như ở sở để ngủ ở nhà.

Sư Phụ nói thêm: "Có thể tưởng tượng nổi không? Thói quen nó bám chặt mình như vậy đó, rất là mạnh, có thể làm cho chúng ta quên hết tất cả những cái khác. Cũng giống vậy, chúng ta đã ngồi ở trong thân thể này quá lâu rồi, chúng ta đã quên để nó ở lại, mãi tới lúc từ trần, ngay vậy chúng ta vẫn lưỡng lự không muốn ra đi. Chúng ta khóc lóc, chống chọi, không muốn bỏ cái thể xác đã gây cho chúng ta biết bao đau đớn, khổ sở và công sức. Chỉ vì cái thân thể này mà chúng ta phải làm việc mỗi ngày mười tiếng, phải làm đủ thứ để giữ cho nó sống còn, thế mà lúc chết cũng không muốn bỏ. Nhưng thiên đàng vô cùng lộng lẫy! Khi biết nó rồi, chúng ta sẽ muốn bỏ thân xác và thế giới này ngay lập tức, không muốn ở lại thêm một giây. Bởi vậy những vị thánh trong quá khứ và hiện tại không bao giờ thiết tha gì tới chuyện chết hay không chết, không bao giờ thèm những tiện nghi vật chất bởi vì họ biết một đời sống đẹp hơn bên trong."

Sư Phụ nói rằng học trở về Quê Hương thiên đàng thật dễ còn hơn là học nhiều cái ở thế giới ta bà. "Học lái xe khó. Thậm chí khi còn nhỏ, tập ăn cũng khó. Nhưng học trở về thiên đàng thì không, bởi vì đó là chỗ chúng ta xuất phát. Chúng ta đã biết mọi thứ về thiên đàng từ trước khi xuống đây. Nếu không thì quý vị nghĩ chúng ta từ đâu tới? Nếu không phải từ thiên đàng tới đây thì quý vị nghĩ chúng ta từ đâu tới? Cái 'chúng ta' đi vào thể xác này là ai? và cái 'chúng ta' rời khỏi thể xác này là ai? Ðó là Bản Lai, con người thật của chúng ta, cái đồng thể với Thượng Ðế, tinh túy của con người chúng ta."

"Tinh hoa của con người chúng ta lúc nào cũng có thể rời khỏi thân thể này rồi trở lại, bất cứ lúc nào. Ðây là một nghệ thuật, nghệ thuật sống thật sự, cái có thật mà chúng ta đã quên. Vì vậy mà chúng ta khổ, bị quá nhiều đau đớn, thất vọng, phiền não. Ðôi khi chúng ta làm ngược lại với sự phán xét của mình vì chúng ta quên mất Ðại Ngã của mình, chỉ nghĩ tới đồ ăn, công việc làm, vấn đề này nọ. Chúng ta quên mình vĩ đại tới mức tất cả những vấn đề này, tất cả những nghèo khó này và tất cả những tranh đấu, chống chọi này không là gì cả đối với chúng ta. Một khi lấy lại được sự huy hoàng, khả năng, lực lượng của mình rồi thì không một cái gì ăn nhằm đối với chúng ta trên tinh cầu vật chất này. Mặc dù chúng ta vẫn tiếp tục làm việc, nhưng cái đó chỉ là trò con nít đối với chúng ta, bởi vì chúng ta biết mình vĩ đại."

Câu kết luận của Sư Phụ khiến những ai đang tìm tự do giải thoát đều cảm thấy vô cùng hứng khởi và hy vọng: "Sau khi trở thành đồng thể với Thượng Ðế, quý vị sẽ nhớ lại Bản Ngã của mình, sẽ thương yêu mà không thương yêu, bố thì mà không biết; sẽ trở thành từ bi mà cũng không nghĩ rằng mình đang từ bi, vì chúng ta nhớ tới Thượng Ðế, và Thượng Ðế sẽ làm cho tất cả. Phàm ngã của chúng ta sẽ ra đi; đầu óc sẽ chết, và Thượng Ðế sẽ đảm trách mọi việc trong đời sống chúng ta. Mỗi một hoạt động, mỗi ý nghĩ và mỗi lời chúng ta nói ra sẽ là từ thiên đàng. Ðó là cách trở thành đồng thể với thiên đàng một lần nữa."

Trong phần vấn đáp sau đó, có người hỏi tại sao ngày nay Thượng Ðế không thể hiện lực lượng của Ngài bằng cách thi triển những chuyện thần kỳ như Ngài đã làm trong thời đại của các thánh nhân. Sư Phụ trả lời rằng Thượng Ðế vẫn làm những chuyện thần kỳ mỗi ngày. Tuy nhiên, vì chúng ta quen nhìn thế giới bằng mắt trần nên không nhìn thấy những chuyện thần kỳ bằng mắt thiên đàng. Chúng ta chỉ có thể thấy những gì Thượng Ðế làm nếu đi vào trong và tiếp xúc với Ngài.

Giải thích về vấn đề ăn chay, Sư Phụ nói rằng đó là một lối sống từ bi, chúng ta làm như vậy là vì chúng ta quý trọng và yêu thương đồng đều tất cả chúng sinh. Ăn thịt là làm hại thú vật, khiến cho chúng đau khổ, vì chúng sợ chết; còn ăn rau cải thì không bị như vậy vì chúng có thể mọc lại.

Ðể trả lời câu hỏi Sư Phụ có tin vào chuyện Chúa sẽ giáng trần lần thứ hai, Ngài đáp: "Có, tôi tin. Ngày nào Ngài cũng giáng trần!" Rồi Sư Phụ nói tiếp rằng Chúa không chết; bây giờ Ngài chỉ sống ở một cảnh giới khác. Nếu muốn gặp Chúa Giê Su hay bất cứ Ðại Minh Sư nào hồi xưa, chúng ta phải ra khỏi thân thể này, đi lên những nơi cao chỗ tất cả các Minh Sư đang ở, lúc đó chúng ta mới có thể học từ họ. Sư Phụ nói rằng Ngài ở đây để chỉ cho chúng ta cách để đến "ngôi trường vĩ đại" này và học với những vị Thầy vĩ đại này.

Sư Phụ khiêm nhượng nói rằng Thượng Ðế cho Ngài cái "nghề" này bởi vì những "nghề" khác bị lấy hết rồi. "Thượng Ðế nói 'có một việc còn trống. Tất cả những việc khác đều đã có người. Việc này còn chỗ'." Ngài bảo đảm chúng ta ai cũng có thể làm công việc này. "Tất cả chúng ta đều như nhau. Chỉ vì quý vị quên cách bước vào, bước ra thiên quốc bên trong." Sư Phụ hứa sẽ nói với mọi người tất cả những gì Ngài biết, không dấu diếm. "Những gì tôi biết, quý vị sẽ biết." Ngài mời mọi người tu Pháp này và cùng nhau làm công việc của những người Minh Sư Khai Ngộ.

Khi được hỏi: "Cái gì hạnh phúc nhất ở đời?" Sư Phụ đáp: "Biết Thượng Ðế." Trong khi trả lời nhiều câu hỏi, Sư Phụ cho biết chúng ta khổ là vì không biết Thượng Ðế. Khi một người hỏi: "Thiên Quốc xuất phát từ đâu?" Sư Phụ nói Ngài sẽ hướng dẫn mọi người gặp Thượng Ðế rồi sau đó họ có thể hỏi thẳng Thượng Ðế. Một khán giả hỏi Sư Phụ tại sao Ngài ăn mặc quần áo, nữ trang kiểu cách. Sư Phụ nói Ngài thích như vậy, rồi thêm: "Giống như quý vị để bông hoa ở chỗ này (sân khấu) cho tôi thì tôi cũng rán làm đẹp cho quý vị."

Sư Phụ cũng nói rằng qua số tiền kiếm được từ việc thiết kế quần áo và nữ trang, Ngài có thể mua vé máy bay cho những công việc như là đi hoằng pháp. Như vậy không những Ngài không cần nhận tiền cúng dường của người khác, mà còn có thể giúp đỡ những kẻ bần cùng trên khắp các quốc gia, kể cả Phi Luật Tân. Rồi Ngài hỏi ý kiến khán giả: "Tôi tiếp tục vẽ kiểu và mặc đồ đẹp được không?" Khán giả trả lời thật lớn: "Dạ!"

Sau phần vấn đáp, mọi người đứng dậy ca bài "Happy Birthday" để chúc mừng sinh nhật của Sư Phụ. Một vài quan khách, trong đó có một ông Cha và hai bà Sơ, lên khán đài ôm Sư Phụ chào tạm biệt. Sau giờ giảng pháp, hàng trăm người thọ Tâm Ấn hoặc học Pháp Phương Tiện. Nhiều ngày sau, Sư Phụ đã đi, nhưng văn phòng của buổi thuyết pháp tại Manila vẫn tiếp tục được rất nhiều người hỏi thăm tin tức và xin thọ pháp.

Hình:


  1. Dân Phi Luật Tân mở trái tim đón chờ Chân Lý.
  2. Tiểu sử ngắn về Sư Phụ và tin tức về chuyến hoằng pháp "Biển Tình Thương" được in nổi bật trong báo "Lãnh Ðạo" số mới nhất tại Phi Luật Tân.

Trạm Thứ Bảy: Formosa
Ngày 5 tháng 5, 2000

Qua những quảng cáo trên báo chí, truyền hình, những tấm bích chương dán tại các trạm xe lửa, xe buýt và dọc theo xa lộ, dân chúng Formosa biết tin Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư sau bao năm vắng bóng sắp sửa trở lại Formosa giảng pháp. Dân chúng truyền tin cho nhau: "Sư Phụ Thanh Hải sắp về!" Các cú điện thoại ào ạt gọi đến văn phòng tin tức của chúng tôi. Buổi giảng pháp được ấn định vào lúc 7 giờ tối, nhưng những người khách nhiệt tâm từ khắp nơi trong nước đã bắt đầu đổ đến ngay sáng sớm. Chẳng bao lâu bầu không khí nơi Vận Ðộng Trường Quận Ðào Viên trở nên sôi nổi.

Trước ngày giảng pháp, các cơ quan truyền thông lớn trong nước loan báo tin tức về buổi giảng pháp của Sư Phụ, và xác nhận rằng vấn đề luật pháp liên quan đến Trung Tâm Miaoli ở Hsihu đã được chính thức giải quyết ổn thỏa. Ðài truyền hình Eastern Television, thông thường được gọi là đài ETTV, đã chiếu trọn buổi giảng pháp, trực tiếp truyền hình tại Formosa và miền Bắc Châu Mỹ.

Thái độ hăng hái của các đồng tu trên khắp Formosa trong công việc tình nguyện sửa soạn cho buổi giảng pháp đã làm động lòng những ai trông thấy. Một đồng tu người Hoa Kỳ nói: "Không ngôn từ nào có thể diễn tả hết tấm lòng của những người đệ tử Formosa, họ để ý tới không biết bao nhiêu chi tiết trong công việc sửa soạn buổi giảng pháp này. Chữ 'Thiêng Liêng' có lẽ là danh từ hay nhất." Vận động trường Quận Ðào Viên là một sân vận động khổng lồ với 20.000 chỗ ngồi. Ðồng tu cẩn thận chăm lo từng chi tiết trong công việc trang hoàng. Sau khi được trang hoàng xong xuôi, khán đài biến thành tiên cảnh như trong những câu truyện thần tiên của Trung Hoa, với cảnh thác nước đằng sau, những đám mây thượng giới lơ lửng nền trời, xung quanh là các khóm hoa lan, cỏ cây xanh mát. Thêm vào đó, hai màn ảnh truyền hình khổng lồ được dựng lên trong giảng đường để khán giả được nhìn Sư Phụ rõ hơn.

Ðám đông già lẫn trẻ đổ xô vào hội trường lúc 4 giờ chiều. Quan khách dạo quanh thưởng thức những gian hàng triển lãm Thiên Y, Thiên Trang, băng sách và họa phẩm của Sư Phụ, hoặc ngồi trong hội trường nghe nhạc. Bảy giờ, không những tất cả ghế ngồi cùng với hàng ngàn ghế được sắp thêm đều có người chiếm cứ, mà ngay cả lối đi trong Vận Ðộng Trường cũng đầy nghẹt khách. Ngoài hành lang, rất nhiều người ngồi xem trực tiếp truyền hình trên các màn ảnh lớn. Bàn phục vụ những người xin truyền Tâm Ấn hoặc học Pháp Phương Tiện cũng rất đông. Tấm lòng khao khát của người đi tìm Chân Lý hiện ra rõ rệt.

Chương trình bắt đầu lúc 7 giờ, một số đồng tu lên kể thể nghiệm, rồi đến những màn trình diễn ca nhạc Trung Hoa. Mọi người nôn nóng chờ khi Sư Phụ xuất hiện trong y phục màu trắng có hoa. Trông Ngài tươi đẹp như đóa hoa đầu hè giữa đám người hăng hái. Vì đã lâu không trở lại Formosa, Sư Phụ cảm thấy ngay nỗi nhớ nhung vô vàn của họ, do đó vừa bước vào hội trường, Ngài lập tức đi từ góc này sang góc khác, chào hết mọi người. Tất cả đứng dậy vẫy mừng, và dĩ nhiên cũng cố để được bắt tay Sư Phụ.

Trước khi thuyết pháp, Sư Phụ nhắm mắt hướng dẫn mọi người cùng thành tâm cầu nguyện cho hoà bình ở Formosa, Trung Hoa Lục Ðịa và những nơi khác trên thế giới. Sư Phụ cám ơn đám đông các chư Phật đã đến gặp Ngài. Dù không phải ai cũng biết mình là Phật, nhưng Sư Phụ thấy Phật trong tất cả mọi người. Ngài nói: "Tất cả chúng ta là một. Chúng ta đều như nhau. Mỗi người trong chúng ta như một giọt nước trong biển cả. Dù mỗi giọt nước là một cá nhân riêng biệt, có những cái đặc biệt riêng của nó, nhưng nó vẫn là biển. Nếu muốn biết hơn là muốn nghe người khác nói: chúng ta là một, thì chuyện đó không có gì là khó. Chúng ta chỉ cần làm từ phía bên kia. Nếu lắng nghe Bản Lai Diện Mục của mình ở bên trong, chúng ta sẽ lập tức thấy Thượng Ðế Tính. Ai cũng nghe nói trong kinh điển nhà Phật rằng 'hãy lắng nghe Bản Lai của chúng ta ở bên trong', nhưng không biết làm bằng cách nào. Tại sao phải 'nghe bên trong', mà không phải 'nhìn bên trong', 'sờ bên trong' hay 'cảm nhận bên trong'? Bởi vì thật sự chúng ta có thể nghe được Chân Tánh của mình. Chúng ta không nghe bằng hệ thống nhĩ quan của mình, mà bằng con tim bên trong. Chúng ta thật sự nghe được. Tại sao nói là 'nghe'? Bởi vì có âm nhạc thiên đàng, Phật âm, giáo huấn từ thiên đàng và dòng âm thanh nội tại, nó hay như tiếng nhạc, nhưng không phải phát ra từ nhạc cụ."

"Không cần nhạc cụ để phát ra âm thanh này, một âm thanh rất hay và huyền bí, khiến linh hồn chúng ta bay lên trong vui sướng trở về với Quê Hương nguyên thủy, như Ðất Phật hoặc thiên đàng. Vì vậy mà Ðức Phật nói chúng ta nên 'hướng nội nghe Bản Lai của chính mình'. Bản lai của chúng ta không phải là 'con tim' hay 'phẩm tính'. Nó tự do, thoải mái, rất, rất có trí huệ, cao thượng, vĩ đại và chứa trọn cả vũ trụ. Ðó là Bản Lai của chúng ta."

Với tính khôi hài như thường lệ, Sư Phụ giải thích thêm bằng ngôn từ đơn giản về bản chất của cảnh giới thiêng liêng. Bài giảng của Ngài được hoan nghênh nhiều lần bằng những tràng pháo tay vang dội. "Thánh Kinh có câu: 'Hãy tìm Thiên Quốc, rồi mọi thứ con sẽ được.' Phật Thích Ca cũng nói rằng, khi tìm được Thượng Ðế Tánh (Phật Tánh), ngay cả đời sống phàm phu chúng ta cũng sẽ hạnh phúc hơn, thành công hơn, vật chất cũng đầy đủ hơn. Mục đích tìm Phật Tánh không phải là để được một cuộc sống tiện nghi, thoải mái, nhưng sau khi tìm thấy Thượng Ðế Tính, chúng ta sẽ trở nên thoải mái, sung sướng hơn, bởi vì khi tìm được Phật Tính rồi thì mọi thứ sẽ sáng lạn hơn. Tất cả những tài năng trước đây quên lãng, trí huệ tiềm tàng, và những khả năng không được biết đến, tất cả sẽ phát triển cùng với Phật Tánh của chúng ta. Chúng ta trở thành một con người khác, bởi vì kể từ đó trở về sau, chúng ta không còn là người phàm nữa; thật ra ngay từ đầu chúng ta đã không phải là người phàm. Chỉ sau khi vào cái thân xác này, chúng ta mới gọi mình là người phàm. Như vậy chúng ta là ai trước khi chui vào thân xác này? Và chúng ta sẽ là ai sau khi đi khỏi thân xác này?"

"Phật Thích Ca nói rằng Ngài và chúng ta là bình đẳng, rằng Ngài là Phật đã thành và chúng ta là Phật sẽ thành. Ngài cũng nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật Tính giống như Ngài; tại sao chúng ta không biết?

Ngài cũng tự hỏi như vậy. Ðó là bởi vì thế giới ảo mộng này quá thu hút, khiến chúng ta tuyệt đối không thể nhớ mình là ai, chúng ta quên Quê Hương của mình trên thiên đàng và quên cả Ðất Phật. Tuy nhiên, nếu muốn nhớ lại thì cũng rất là đơn giản. Dễ như trở lòng bàn tay. Ðơn giản nhưng cũng không đơn giản. Không đơn giản là bởi vì chúng ta quen hướng ngoại, cho nên khó cho chúng ta tin rằng mình là Thượng Ðế. Chúng ta có thể nghe nói tới Thiên Ðàng, Ðất Phật, rằng Phật tại tâm hay Thượng Ðế ngự trong ta. Tuy nhiên, nghe nói là một chuyện; nhưng ngày hôm sau chúng ta vẫn tiếp tục bận rộn sống cuộc đời của một người phàm. Khi chúng ta chết sẽ không có ai hướng dẫn, không biết đi về đâu, và linh hồn chúng ta sẽ đau khổ."

"Nếu tất cả chúng ta đã tìm được Thiên Quốc bên trong, thì thế giới này đã biến thành Niết Bàn lâu rồi. Ðạo Zen có câu: thiên đàng và quả đất chỉ cách nhau một sợi tóc. Ðúng là như vậy. Chúng ta vốn từ thượng giới xuống đây, nên chỉ cần quay ngược sự chú tâm của mình, hướng nội để lắng nghe Bản Lai của mình thì mới tìm được thiên đàng."

Giữa buổi giảng pháp, Sư Phụ bảo người nào muốn học pháp Quán Âm hãy ra ngoài ghi danh. Thế là hội trường rung chuyển, nhiều người đi đến bàn ghi danh. Trên ngàn người thọ Tâm Ấn hoặc học Pháp Phương Tiện. Nhiều ngày sau đó, điện thoại "Biển Tình Thương" tiếp tục nhận các cú điện thoại từ khắp mọi nơi trên vùng đất Formosa. Những người gọi tới tỏ ý muốn biết thêm về giáo lý Sư Phụ và Pháp Môn Quán Âm. Một số thành khẩn xin thọ pháp hoặc học Pháp Phương Tiện, vì họ đã bỏ lỡ cơ hội trong ngày giảng pháp vì công việc.

Ngày 6 tháng 5, 2000 Từ 10 giờ sáng tới 12 giờ trưa, Sư Phụ dự buổi hội thảo mang tên "Thanh Hải Vô Thượng Sư, Quán Âm Pháp và Người Hoa Tại Ðông Nam Á", được tổ chức tại Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, Ðài Bắc. Mặc dầu thời gian hoằng pháp của Sư Phụ tại á Châu và Ðại Dương Châu vô cùng hạn hẹp, Ngài vẫn tham dự buổi hội thảo, một trong các buổi thảo luận về sự liên hệ giữa các tôn giáo và người Trung Hoa trên toàn thế giới. Academia Sinica là một tổ chức tiếng tăm trên thế giới chuyên nghiên cứu về học vấn. Những người tổ chức buổi hội thảo kể trên là những hội viên của: Dự án Khảo Cứu Ðông Nam Á của Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, Viện Tôn Giáo Formosa, Cơ Quan Phát Thanh Miền Trung Formosa, Nhóm Nghiên Cứu Người Hoa Hải Ngoại thuộc Ban Khảo Cứu Lịch Sử Hiện Ðại của Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, và Hội Tương Quan Học Thuật Trung Hoa. Những tham dự viên trong buổi hội thảo gồm có giáo sư của các trường đại học tại Formosa, Viện Sĩ và Hội Viên của Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica, giới truyền thông, và các nhân vật ưu tú trong nhiều ngành khác.

Trong buổi hội thảo là phần giới thiệu Sư Phụ với các công cuộc từ thiện và giảng pháp tại các quốc gia ở á Châu như Formosa, Mã Lai Ał, Nam Dương, Thái Lan, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, Âu Lạc, Cam Bốt, Bangladesh, Hồi Quốc, Tích Lan, và Hồng Kông. Những bản tin liên quan đến sự việc kể trên được phân phát để làm tài liệu tham khảo. Nhiều câu hỏi do quan khách, những nhà thông thái, nhà báo nêu lên đã được Sư Phụ trả lời một cách khôi hài và đầy trí huệ; bầu không khí của cuộc thảo luận trở nên vui tươi, sống động. (Xin đọc nội dung của trọn buổi hội thảo trong bài viết đặc biệt: "Sự Trao Ðổi Tư Tưởng và Tu Hành" trong số báo này.)

Sau cuộc hội thảo, những người trong ban tổ chức, theo lệ thường, đứng lên thành kính trả tiền thù lao giảng pháp cho Sư Phụ. Ngài vô cùng cảm động trước lòng thành của họ. Ðây là lần đầu tiên hơn mười năm nay Ngài được trả tiền cho một buổi giảng kinh. Sư Phụ trả lại họ món tiền ngay lúc đó, như là một món quà giúp trả những phí tổn cho buổi hội thảo này. Buổi họp kéo dài hai tiếng đồng hồ, đặc sắc và nồng ấm, đặc biệt ý nghĩa đối với việc nghiên cứu về học vấn á Châu.

Hình:


  1. Ðài truyền hình ET đang trực tiếp truyền hình về toàn buổi thuyết pháp.
  2. Tất cả các tờ báo chính tường trình tin tức về buổi thuyết pháp.
  3. Hằng ngàn quan khách đổ dồn về buổi thuyết pháp của Thanh Hải Vô Thượng Sư tại Vận Ðộng Trường Quận Ðào Viên.

  4. Thanh Hải Vô Thượng Sư đang bình luận trong một buổi hội thảo tại Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica.

  5. Tất cả các tờ báo chính tại Formosa tường trình tin tức về buổi thuyết pháp của Sư Phụ tại Vận Ðộng Trường Quận Ðào Viên, cũng như về buổi hội thảo của Ngài tại Viện Hàn Lâm Trung Quốc Academia Sinica.

Trạm Thứ Tám: Ðông Kinh, Nhật Bản
Ngày 7 tháng 5, 2000

Thật là một hồng phúc lớn lao cho dân chúng Nhật Bản khi quốc gia này được Sư Phụ bao gồm trong chuyến hoằng pháp vừa qua. Ðã bảy năm rồi kể từ khi Ngài thuyết pháp ở Nhật Bản vào năm 1993.

Khi thời khóa biểu hoằng pháp của Sư Phụ được minh xác, đồng tu bắt đầu hăng hái xúc tiến công việc chuẩn bị. Thấy có quá ít ấn bản tiếng Nhật cho việc cung cấp đầy đủ các chi tiết về Sư Phụ, ban thông dịch bắt đầu nhiệt tâm làm việc để chuẩn bị các cuốn Bản Tin, sách và băng thâu hình phụ đề tiếng Nhật. Họ hoàn tất công tác nhanh hơn thường lệ. Mọi người ai cũng biết rằng công việc được thực hiện nhanh chóng như vậy là nhờ lực gia trì của Sư Phụ.

Dân chúng Nhật Bản nói chung mấy chục năm gần đây hay thiên về vật chất, nên chỉ có một số rất ít người ham chuộng tu hành hoặc tưởng nhiều về Phật Trời, Thượng Ðế. Tuy nhiên trong những năm vừa qua, đặc biệt là năm nay, người Nhật đã có một sự tiến bộ rõ rệt về đường hướng tu hành. Vì vậy, chúng tôi tin rằng buổi thuyết pháp này đã tiêu biểu cho một khúc quanh mới trên con đường phát triển tâm linh tại Nhật.

Các đồng tu dùng trí huệ bên trong, đóng góp nhiều ý kiến tìm cách cho mọi người biết thêm về Sư Phụ, làm sao cho buổi thuyết pháp được thành công. Nhận thấy đa số người miễn cưỡng nhận truyền đơn, chúng tôi gói từng tờ bằng những chiếc khăn giấy mỏng, bên ngoài là tờ giấy bóng trông giống như gói quà, hy vọng người nhận sẽ cảm thấy thích hơn. Kết quả thật là tuyệt diệu! Khi chúng tôi phát những "gói quà" này đến những người khách bộ hành tại Ðông Kinh và các thành phố khác, nhiều người lập tức chăm chú đọc và xem hình ảnh xinh đẹp của Sư Phụ. Một số người vô cùng cảm kích trước những hành động nhiệt tâm của các đồng tu nên đã thành thật cám ơn. Chẳng mấy chốc, những thùng đựng truyền đơn đã trống trơn, và công việc phân phát chấm dứt một cách vô cùng viên mãn. Cùng lúc, chúng tôi cũng rao truyền tin tức về buổi thuyết pháp của Sư Phụ đến nhiều đoàn thể, cá nhân trên các địa điểm Mạng Lưới.

Ngày thuyết pháp gần kề, chúng tôi bắt đầu công việc quảng cáo và để giấy thông báo vào trong các bản nhật trình. Sau khi báo chí được phân phối đi thì điện thoại, điện thư bắt đầu dồn dập. Sự đáp ứng nồng nhiệt này đã vượt trên cả kỳ vọng của chúng tôi.

Tuần lễ trước buổi thuyết pháp là "Tuần Lễ Vàng" ở Nhật, nên nhiều người đã ra ngoại quốc nghỉ hè. Khi chúng tôi đang phân phát truyền đơn, một số người nói rằng họ vừa mới dự buổi thuyết pháp của Sư Phụ tại Tân Tây Lan; một số người khác kể rằng họ có thấy nhiều quảng cáo về buổi thuyết pháp của Sư Phụ tại các trạm xe điện ngầm ở Hồng Kông. Bỗng nhiên chúng tôi cảm thấy toàn á Châu và Ðại Dương Châu như đang được tắm mát trong hào quang của Sư Phụ.

Tuy vậy, không phải mọi việc chuẩn bị thuyết pháp tại đây đều dễ dàng như ý. Trong khi sinh hoạt của Sư Phụ tại những quốc gia khác hầu như lúc nào cũng trôi chảy, thì ở Nhật Bản chúng tôi gặp nhiều kềm hãm, giới hạn, và các trở ngại về tư tưởng, quan niệm. Chúng tôi liên lạc với một vài tờ báo và đài phát thanh nhiều ngày trước đó, hy vọng họ sẽ đăng tải về buổi thuyết pháp "Biển Tình Thương". Nhưng sau khi đọc tài liệu của chúng tôi, họ cho biết họ không thể quảng cáo cho một đoàn thể tu hành.

Ngay lúc đang bối rối, thất vọng trước trở ngại này thì chúng tôi nhận được một cú điện thoại quan trọng. Vị sư tỷ bốc điện thoại là người đã liên lạc với nhà báo và thất bại, trong khi người gọi vào là một ký giả 74 tuổi, trước đó ông đã từng làm phóng viên cho một tờ báo lớn ở Nhật nên ông biết những nhân vật then chốt trong nhiều tổ chức dân sự. Ông, cũng là một điều hành viên cho một hội phụ nữ tại Nhật Bản, đã ngỏ ý muốn biết thêm tin tức về buổi thuyết pháp của Sư Phụ. Nghe vậy, chị đồng tu liền đi gặp ông. Sau khi nghe nói về Sư Phụ và buổi thuyết giảng, ông vô cùng cảm động, hứa sẽ truyền tin này đến những đại diện viên của các đoàn thể lớn cũng như hội phụ nữ mà ông đang làm việc. Do sự thành tâm muốn biết về Sư Phụ, ông đã dẫn thêm nhiều người nữa tới nghe thuyết pháp.

Thông thường, qua các thất bại liên tục, chúng ta mới có thể tự mình trút bỏ hoàn toàn. Nếu khi đối diện với những trở ngại này mà chúng ta vẫn có thể duy trì được lòng tin để làm việc cho Thượng Ðế, thì Thượng Ðế tự nhiên sẽ mở thêm những nẻo đường mới cho chúng ta. Dù nhận thấy điều đó hay không, chúng ta sẽ vẫn thực hiện được một cách trôi chảy tất cả những công tác của mình.

Vào ngày 7 tháng 5, buổi thuyết pháp được tổ chức tại Ðại Sảnh Kan-I-Hoken Cảng-U, Ðông Kinh. Sư Phụ xinh tươi, duyên dáng trong chiếc áo màu xám bạc, chiếc váy dài màu xanh và áo choàng màu tím, tóc cột ra phía sau.

Sân khấu trang trí theo kiểu kimono to lớn, có mặt trời vàng, trăng bạc và nhiều ngôi sao tiêu biểu cho hòa bình vũ trụ và sự đồng thể của vạn vật. Sân khấu được trang trí bằng hoa quả và những chậu cây xanh tươi đẹp mắt. Trước khi thuyết pháp, Sư Phụ yêu cầu khán giả im lặng cầu nguyện cho Nhật Bản và thế giới hòa bình, thịnh vượng. Chúng tôi cũng cầu nguyện cho mọi người khai ngộ và mãi mãi sống cuộc đời vui tươi hạnh phúc.

Trong phần thuyết pháp, Sư Phụ dạy rằng trong thân thể con người, hay trong con người chúng ta, có một cái gì đó làm cho chúng ta biết rằng chúng ta là vĩ đại. Khi tìm thấy nó, chúng ta sẽ biết mình là từ Thượng Ðế mà ra, rằng mình là Phật. Có người tìm được một phần, có người tìm được trọn vẹn. Ðức Phật và Chúa Giê Su đã tìm thấy trọn vẹn, các Minh Sư khác cũng vậy, như Mohammed, Krishna. Khi tìm thấy được trọn vẹn thì họ thành Phật, trở thành khai ngộ hoàn toàn, đồng nhất thể với Thượng Ðế, và họ biết họ từ đâu đến và sẽ đi về đâu sau khi rời khỏi thân thể này. Lúc đó họ nói rằng chúng ta cũng có Phật Tính bên trong, có Thượng Ðế ngự bên trong ngôi đền thể xác này. Chỉ cần tìm thấy một phần của tính chất tuyệt trần này, bản chất nguyên thủy tuyệt vời này ở bên trong, chúng ta sẽ thành thông minh sáng suốt hơn, hạnh phúc hơn, thanh tịnh và yêu thương hơn.

Một số người trên thế giới đã tìm thấy được một phần của sự vĩ đại này, thành ra họ trở nên vĩ đại hơn những người bình thường chưa tìm thấy. Nhưng tất cả chúng ta đều có sự vĩ đại này ở bên trong, và bất cứ khi nào quyết định muốn biết sự vĩ đại này hoặc muốn dùng sự vĩ đại này, chúng ta đều có thể làm được. Ðể tìm ra sự vĩ đại này, Bản Lai Diện Mục này hoặc Phật Tính của tất cả chúng sinh, chúng ta chỉ cần tập trung đúng nơi, đúng cách.

Ngay cả thế giới vật chất này, nếu muốn thành công về bất cứ cái gì, chúng ta cũng cần phải có sự chú tâm. Sư Phụ nghĩ dân Nhật biết điều đó hơn cả. Ða số các công ty ở Nhật đều gửi công nhân đến những ngôi chùa Phật Giáo để học phương pháp tập trung trong đạo Zen (thiền Tông) ngõ hầu có những người làm việc xuất sắc, hữu hiệu hơn. Nhật Bản là một trong rất ít các quốc gia (nếu không phải là quốc gia đầu tiên hoặc độc nhất) biết về sức mạnh của sự chú tâm bên trong, có lẽ vì vậy mà Nhật Bản đã thành công trong rất nhiều khía cạnh.

Nhưng để có hạnh phúc, an ổn tâm hồn, và để được hạnh phúc lâu dài, chúng ta cũng cần phải dùng trí tập trung của mình để đi lên những cảnh giới cao hơn, để học những mục đích cao cả hơn của đời sống, trí huệ cao cả hơn của vũ trụ. Rồi chúng ta có thể trở thành những chúng sinh hoàn toàn, không phải chỉ là một "ông lớn" thành công trong đời, mà còn là một thánh nhân, một vị Phật để mà gia trì cho thế giới và vũ trụ.

Chỉ cần một chút chú tâm là con người có thể trở nên rất thành công trong đời. Cho nên nếu chú tâm thêm nữa, sâu hơn nữa, và làm đúng cách, chúng ta sẽ thành công ngay cả trên thiên đàng, và có thể ra khỏi đời sống vật chất này bất cứ khi nào muốn, đi viếng thiên đàng, thăm cảnh giới của Phật, rồi trở lại thi hành phận sự của mình trên tinh cầu này, hoặc ngược lại.

Chúng ta thường hay ganh tị với những người thông minh hơn, thành công hơn, có lẽ vì những người này biết dùng trí huệ bên trong nhiều hơn là chúng ta, thành ra họ thông minh hơn, bén nhạy hơn, biết cách giải quyết vấn đề mau chóng hơn là nhiều người trong chúng ta, những người không biết dùng trí huệ bên trong. Vì vậy Ðức Phật mới khuyến khích tất cả chúng ta hãy tìm Phật Tính của mình, trí huệ của mình bên trong. Do đó Kinh Thánh mới dạy rằng: "Hãy tìm Thiên Quốc trong con trước, rồi tất cả những thứ khác các con sẽ được." Bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể tìm thấy Thiên Quốc này, Phật Tính này, cái đã là cho tất cả các Minh Sư vĩ đại, làm mỗi một người trong chúng ta vĩ đại, bởi vì chúng ta vốn đã vĩ đại rồi.

Trong phần vấn đáp, khán giả nêu ra nhiều vấn đề về tâm linh. Một người cho biết anh cảm thấy một năng lực rất mạnh tỏa ra từ Sư Phụ trong lúc thuyết pháp. Sư Phụ nói rằng mọi người không phải là những kẻ tầm thường, ai cũng có thể khai triển lực lượng này làm cho họ cảm thấy được nâng cao, rồi những người chung quanh họ cũng cảm thấy được nâng cao như vậy. Không phải chỉ một mình Sư Phụ, mà chúng ta cũng có thể có cùng năng lực ấy tỏa ra khắp nơi chung quanh chúng ta và chung quanh cả tinh cầu. Những ai ở cạnh chúng ta, nếu họ nhạy cảm và tâm linh được nâng cao hơn một tí, là có thể cảm thấy được. Năng lực này là Thượng Ðế Tính, Thượng Ðế bên trong chúng ta; một khi đánh thức lực lượng này dậy rồi thì chúng ta cũng mạnh như vậy, lúc đó chúng ta có thể gia trì được rất nhiều người, gia trì cho toàn thế giới bằng năng lực của mình.

Phần thuyết pháp chấm dứt, một số trẻ em nhỏ và những thanh thiếu niên lên dâng hoa Sư Phụ. Ngài đón nhận một cách dịu dàng, lịch sự, rồi sau đó chia tất cả hoa quả trên sân khấu cho khán giả.

Sau buổi thuyết pháp, để tận dụng thời giờ trong lúc chuẩn bị cho lễ truyền Tâm Ấn, chúng tôi tổ chức một cuộc họp báo để trả lời những câu hỏi của các phóng viên báo chí và những người đại diện trong giới truyền thông. Trong số đó, một chủ bút của tờ Religious News đã phát biểu như sau: "Trong báo của chúng tôi, chúng tôi có đăng tải một số các câu chuyện về Ðức Phật. Cá nhân tôi cũng cố gắng tìm hiểu thêm về Ðức Phật qua tin tức, sách báo. Kết luận của tôi là một khi đã nhận biết được Phật Tánh của mình thì chúng ta là Phật. Trong bài thuyết pháp của Sư Phụ ngày hôm nay, tôi nhận thấy rằng Sư Phụ cũng nói y như vậy. Là một chuyên viên tường thuật về tôn giáo, tôi đã thăm viếng nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo Nhật Bản. Sau khi nghe bài thuyết pháp của Sư Phụ hôm nay, tôi nhận thấy rằng Ngài quả thật là một vị Minh Sư Khai Ngộ. Sư Phụ thật sự đã đến từ Niết Bàn, và trí huệ của Ngài thật phi thường." Ông cũng ngỏ ý hy vọng được giữ mối giây liên lạc với chúng tôi.

Từ những mẫu tin này, chúng ta có thể thấy thông điệp thiêng liêng của Sư Phụ đang rải rắc mọi phương như những cánh hoa trong gió; sau khi đáp xuống yên nghỉ trong tim người, nó sẽ lớn lên nở thành những bông hoa xinh đẹp. Chúng tôi cảm thấy buổi thuyết pháp này là một phước báu lớn lao cho Nhật Bản, lại thêm nhiều người Nhật thức tỉnh trở về với Thượng Ðế Tính bên trong họ và sống trong ánh sáng Thiên Ðàng.

Hình:


  1. Sư Phụ nhấn mạnh sức mạnh của sự tập trung nội tại.
  2. Thế hệ trẻ ở Nhật Bản được tắm trong Vô Lượng Quang của Thượng Ðế.

Trạm Thứ Chín: Hán Thành, Ðại Hàn
Ngày 8 tháng 5, 2000

Chuyến hoằng pháp "Biển Tình Thương" của Thanh Hải Vô Thượng Sư như dòng nước toàn cầu chảy từ Tân Tây Lan, miền Nam Bán Cầu, từ từ trôi lên tới Bắc Bán Cầu. Trong tiến trình du hành ấy, dòng nước được chào đón hoan nghênh bởi hàng vạn người, và cuối cùng chảy đến Hán Thành, thủ đô của Nam Hàn, một quốc gia có tầm tâm linh cao độ. Buổi giảng cuối cùng trên chuyến du hành hoằng pháp này được tổ chức tại Trung Tâm COEX (Hội Họp và Triển Lãm), một tòa nhà mới khai trương giữa thủ đô Hán Thành. Hình như Thượng Ðế đã đặc biệt an bày khiến cho chuyến hoằng pháp "Biển Tình Thương" trở thành diễn biến đầu tiên đại khai mạc cho Trung Tâm COEX mới mẻ này.

Giảng đường mới thật to và rộng rãi, dễ dàng chứa 10.000 người. Những biểu ngữ dài sặc sỡ được trang hoàng với giải ngân hà, mặt trăng, những ngôi sao lấp lánh màu vàng và bạc kết thành nền thật đẹp phía sau khán đài giảng pháp, nơi Sư Phụ sẽ diễn thuyết. Một hoa sen trắng thanh tao mềm mại ôm chung quanh ghế ngồi Sư Phụ, và hai đóa sen nhỏ hơn ở hai bên ghế. Cả khán đài được bao quanh bởi hình ảnh những cụm mây trắng bồng bềnh.

Ngày giảng pháp, vào giờ trưa, người người kéo nhau đến Trung Tâm COEX và không bao lâu đã đầy ngập giảng đường. Ban tiếp tân đón chào trong quốc phục Ðại Hàn đứng dọc theo lối vào từ cửa lầu một đến cửa giảng đường nằm ở lầu ba. Hàng ngàn cuốn Bản Tin của Sư Phụ bằng tiếng Ðại Hàn đã được sửa soạn sẵn để phân phát đã được lấy hết trước giờ giảng pháp.

Tới tối, Sư Phụ xuất hiện với bộ quốc phục Ðại Hàn, quyện ba màu xanh, đỏ, vàng thật đẹp. Trước khi Sư Phụ giảng, một đoàn vũ gồm những cô gái xinh tươi trình diễn màn vũ cổ truyền của Ðại Hàn. Sau phần cúng dường hoa và trái cây, Sư Phụ bảo toàn thể hội trường hãy yên lặng, thành tâm cầu nguyện cho đất nước (Nam và Bắc) Ðại Hàn và cho hòa bình thế giới.

Trong bài giảng, Sư Phụ nói rằng: "Chúng ta ai cũng nghe nói Ðức Phật dạy rằng Ðất Phật là ở đây, ta có thể tìm thấy bên trong chính mình. Chúng ta ai cũng đọc Kinh Thánh nói rằng Thiên Quốc nằm trong tay ta: 'Hãy nhìn kia, Thiên Quốc nằm trong tay. Thiên Quốc ở trong các con.' Nhưng chúng ta chỉ đọc, thậm chí không có thời giờ suy nghĩ làm sao để mà tìm được nó. Nếu nó hiện hữu thì phải kiếm được. ừ, tìm được!"

Sư Phụ nói tiếp: "Chỉ có hai thế giới, một là thế giới bên ngoài và một là thế giới bên trong, một cái thật còn cái kia là phản chiếu của cái thật. Chúng ta đã biết hình ảnh phản chiếu của cái thật rồi, đó là thế giới vật chất mà chúng ta đang sống; cho nên chỉ còn có một thế giới nữa để tìm, đó là thế giới thật hoặc thế giới bên trong - phía kia thế giới này. Cả hai hiện hữu trong cùng một lúc. Nếu nhìn bên này, chúng ta sẽ thấy thế giới phản chiếu; nếu nhìn bên kia, chúng ta sẽ thấy thế giới thật. Rất là đơn giản; chỉ cần biết nhìn ở chỗ nào. Giống như tôi có tấm gương này đây. (Sư Phụ nhìn vào tấm gương cầm trong tay.) Khi nhìn vào tấm gương này, tôi thấy hình của tôi trong gương, rất đẹp. (Vỗ tay) Thượng Ðế tạo ra những cái đẹp, kể cả tôi." (Sư Phụ cười)

"Giả sử tôi đẹp và khi nhìn gương, tôi nghĩ là tôi đẹp, tuy vậy hình ảnh đẹp đẽ này cũng chỉ là hình ảnh của tôi dội lại. Nếu tôi cứ tiếp tục nhìn mãi trong gương, cảm thấy rằng: 'Trời ơi! Ai trong gương vậy? Bả đẹp quá.' thì tôi sẽ không bao giờ nhớ thế giới thật. Nó là như vậy đó."

"Tôi có thể thưởng thức hình ảnh trong gương, nhưng tôi cũng phải biết rằng mình, con người tôi bên ngoài này, là thật, còn đẹp hơn nữa, thật hơn nữa, và tất cả đều có ích lợi hơn là ở trong gương. Cũng như vậy, có hai thế giới, cái bên ngoài chúng ta thấy ở đây và cái bên trong. Khi nhắm mắt lại và biết nhìn ở chỗ nào, chúng ta sẽ thấy thế giới bên kia, cùng một lúc giống như vậy, một thế giới thật, đẹp hơn, lộng lẫy hơn, sung sướng, vĩnh cửu hơn, làm cho chúng ta vô cùng thỏa mãn, vô cùng tự tại không cần biết ảnh hưởng thế giới bên ngoài như thế nào. Sau cùng chúng ta vẫn không cảm thấy bị ảnh hưởng, mà luôn luôn hạnh phúc bởi vì đã biết Vật Thật."

"Giả sử tấm gương này bây giờ không sao, nhưng đôi khi chuyện gì đó xảy ra, rồi nó bể; khi nhìn vào tấm gương bể, tôi thấy mặt tôi cũng bể, rồi muốn khóc: 'Trời đất ơi, tôi xấu như vầy sao?' bởi vì tôi chú ý vào tấm gương; nhưng khi quên tấm gương và nhìn vào chính mình, tôi nói: 'ồ, tôi vẫn không sao. Mặt tôi không bị bể; tôi không bị thương chỗ nào. Tôi đẹp!' Ðó là điều chúng ta nên làm với thế giới này và với chính mình. Chúng ta nên nhìn vào thực tại và tìm thấy tất cả mọi thứ đều hoàn mỹ, luôn luôn hoàn mỹ. Từ nghìn xưa, chúng ta vẫn tiếp tục mãi mãi hoàn mỹ. Cho dù thế giới bên ngoài có bể nát thế nào chăng nữa, nó cũng chỉ như một tấm gương, và chúng ta không nên lo lắng."

"Những vị Thánh khai ngộ là như vậy - bao giờ cũng vui sướng, toại nguyện trong bất cứ trường hợp nào, bất cứ hoàn cảnh nào. Có nhiều của cải hay không có, họ cũng luôn luôn sung sướng bởi vì họ biết Chân Tánh của họ, họ biết thế giới thật, một thế giới hoàn toàn huy hoàng, rực rỡ, đầy gia trì phước báu và phúc lạc. Ðộ sáng của thế giới bên trong bằng mười ngàn lần hơn độ sáng mặt trời ở đây, ở một số cảnh giới, kim cương và những loại đá quý ở đây so sánh với kim cương và những loại đá của thế giới bên trong, nó giống như đất cát; không có ích, không có lực lượng, không có chấn động, và không có phản ứng thương yêu. Những cái ở thế giới thật, chúng có linh hồn - có thể trao đổi tư tưởng với mình. Ngay cả cái bàn cũng có thể nói chuyện; cây cối sẽ ca cho quý vị nghe; chim muông có thể hiểu ngôn ngữ của quý vị và quý vị hiểu chúng; tất cả mọi vật, ngọc ngà, tất cả, ngay cả mây cũng hiểu quý vị; mây chở quý vị đi khắp mọi nơi mà không cần mình phải bảo."

"Bởi thế cho nên, khi chúng ta tìm thấy thế giới thật bên trong, còn gọi là Thiên Quốc, Ðất Phật, hoặc Thượng Ðế Tính, chúng ta cảm thấy tự tại, an ủi, không cô đơn nữa, không còn cảm thấy bất an, không còn cảm thấy sợ chết hay sợ bất cứ tai họa gì, vì chúng ta biết mình không bao giờ chết. Chúng ta biết có một thế giới hàng tỷ lần lộng lẫy hơn là thế giới này, thành ra chúng ta không sợ mất cái gì cả, thậm chí không sợ mất cả thế giới, bất cứ của cải gì, hoặc bất cứ cái gì kêu bằng 'quý' đối với mình trước khi khai ngộ."

Nhưng chúng ta không cần phải bỏ cái gì ở đời này, không cần vất đi mọi thứ ở đời, không cần phải trở thành một người không để ý, hoặc một người sơ ý để người khác thấy rằng mình khai ngộ, hoặc nghĩ rằng một người khai ngộ muốn làm khác với người đời để chứng tỏ rằng họ không thèm. Họ vẫn tiếp tục sống bình thường, tiếp tục hòa hợp với tất cả anh chị em. Thậm chí còn hơn vậy nữa, bởi vì bây giờ họ đã biết họ là đồng một thể với tất cả chúng sinh."

Sư Phụ nói tiếp: "Tôi đã đi qua nhiều quốc gia. Có nước rất, rất phát triển về khoa học và kỹ thuật, nhưng không phát triển nhiều về trí huệ bên trong, về sự hiểu biết tu hành. Những nước đó có vẻ rất, rất khô khan; khô tới nỗi dù có người đem Phật đến để ngay trước mắt, họ cũng không muốn biết về vị đó. Thế giới chúng ta phát triển rất lẹ trong thế kỷ gần đây, về khoa học kỹ thuật và nhiều phương diện khác. Chúng ta cần phải phát triển về trí huệ tâm linh song song với những phát minh khoa học. Nếu không sẽ bị mất thăng bằng. Ðời sống sẽ quá nghiêng về một phía; chúng ta sẽ bị lôi cuốn, lệ thuộc vào kỹ thuật, máy móc, thay vì nhờ cậy vào Chân Tánh của mình, vào thế giới thật vĩnh cửu hơn. Chúng ta sẽ lâm vào cảnh tự hủy diệt chính mình nếu không có đủ trí huệ tâm linh để xử dụng những phát minh tân tiến."

Sư Phụ cũng nói rằng Ngài rất sung sướng khi thấy dân Ðại Hàn chú ý rất nhiều tới vấn đề tâm linh và đã tới nghe giảng pháp đông đảo - 10 ngàn người hôm đó. [Vỗ tay] Sư Phụ nói thêm: "Cám ơn quý vị nhiều lắm, vì quý vị cũng không có biết tôi. Nhưng tôi nghĩ linh hồn của quý vị biết. Sự đơn thuần của quý vị cho quý vị biết, cho nên quý vị tới, vì quý vị rất gần với Thượng Ðế, rất gần với Thượng Ðế Tính, và cảm thấy rằng quý vị là một cái gì khác nữa ngoài thân thể phàm tục này. Cho nên quý vị tới." Toàn thể hội trường bày tỏ sự đồng ý của họ bằng một tràng vỗ tay nhiệt liệt.

Trong phần vấn đáp, khán thính giả có vẻ thành tâm muốn biết về Chân Lý mà Sư Phụ đã nêu ra trong bài giảng của Ngài. Khi Sư Phụ bảo ai muốn xin thọ Tâm Ấn thì hãy ra bàn giấy ngoài kia, nhiều người liền nghe lời đứng dậy. Mọi người vỗ tay khi Ngài nói Phật và Chúa hiện uống trà với nhau trên thượng giới, họ rất thương yêu nhau và không gây lộn!

Buổi giảng kinh chấm dứt, nhiều người đã gia nhập vào gia đình Quán Âm sau khi thọ pháp. Nhiều linh hồn khao khát từ mọi nơi trên thế giới hôm ấy đã được dịp tụ họp tại Hán Thành để được thọ pháp và nhìn vị Thầy yêu quý.

Hình: Sư Phụ nâng mọi người lên cao để lên đến Thế Giới Thật Sự mãi mãi toàn hảo.

Hãy Tin Mình Rất Là Vĩ Ðại !
Thiền Lục Quốc Tế, Trung Tâm Vĩnh Ðồng, Ðại Hàn

Ngày 8 tháng 5, khi Chuyến Hoằng Pháp Biển Tình Thương Của Thanh Hải Vô Thượng Sư chấm dứt một cách thành công tại thành phố Seoul, Nam Hàn thì hàng ngàn đồng tu từ hơn 30 quốc gia kéo đến Trung Tâm Vĩnh Ðồng tỉnh Kwangju để dự sáu ngày bế quan và mừng sinh nhật Sư Phụ.

Trung Tâm Vĩnh Ðồng tọa lạc trong một thung lũng tươi mát giữa bầu không khí tâm linh thanh tịnh, xung quanh đồi núi xanh mướt, chim chóc véo von xây tổ ấm. Nơi bế quan này mang một cái tên tuyệt đẹp, "Thung Lũng Âm Thanh". Thời tiết khá tốt dù đôi khi cũng có một vài cơn mưa nho nhỏ. Không khí trong lành, tiết trời mát mẻ làm chúng tôi cảm thấy khỏe khoắn, dễ chịu. Trung Tâm lại càng thêm ngoạn mục với cỏ xanh và những luống hoa đủ màu trồng dọc lối đi và giữa các tùm cây. Tối đến, những chiếc đèn lồng hình hoa sen rải rác đó đây dọc theo thung lũng êm đềm xanh màu ngọc bích, như những viên bảo thạch sáng long lanh.

Ðây là lần thứ nhì một cuộc bế quan quốc tế được tổ chức tại Trung Tâm Vĩnh Ðồng, mà ngày nay đã mang khuôn mặt mới. Những đoạn đường trong Trung Tâm đã được tráng nhựa, những dốc núi nghiêng nghiêng nay đã được cắt thành tầng lớp bằng phẳng để đồng tu có thể cắm lều. Thêm vào đó, chánh điện ngồi thiền trước kia dốc nay đã được san bằng làm thành những bậc ngang để đồng tu tọa thiền thoải mái. Những tấm xốp được cung cấp cho đồng tu dùng làm đệm lót dưới lều để khỏi bị đất ẩm ướt xông lên. Ðể bảo vệ môi sinh không ô nhiễm, Trung Tâm cung cấp đầy đủ xà bông tắm và gội đầu làm bằng những vật liệu thiên nhiên.

Suốt thời kỳ bế quan, Sư Phụ đến chánh điện hầu như trong tất cả các xuất thiền; tình thương của Ngài như biển cả thấm sâu vào linh hồn của mọi đồng tu. Trong sung mãn và hỷ lạc, gương mặt đồng tu mỗi ngày mỗi sáng. Với sự gia trì tràn đầy tình thương của một vị Ðại Minh Sư tại thế và lực lượng có được từ sự cộng tu thành tâm, chăm chỉ, các đồng tu đặc biệt thiền rất tốt trong kỳ bế quan này. Sư Phụ rất hài lòng với sự tu hành của họ, nói rằng: "Lần này tôi không trả lời nhiều câu hỏi của quý vị bởi vì tôi muốn để quý vị tự tìm câu trả lời ở bên trong." Ngài nhấn mạnh nhiều lần rằng chúng ta nên có lòng tin vào sự vĩ đại của chính mình, và hãy tin cậy nhiều hơn vào lực lượng bên trong. Khi có vấn đề gì, chúng ta nên tọa thiền để tìm câu trả lời từ bên trong.

Ngày Ðầu Tiên

Ngày 9 tháng 5, tiếng chuông Quán Âm lúc 1 giờ trưa đánh dấu sự khởi đầu của Thiền Lục Vĩnh Ðồng. Tiếng chuông nhẹ nhàng thánh thót vang xa thung lũng, xuyên qua núi rừng như đón mời sự gia trì của vị Ðại Minh Sư tại thế và của những Thánh Nhân, Thiên Thần, Bồ Tát từ khắp cảnh giới xuống đây. Không bao lâu sau khi xuất thiền đầu khởi sự, Sư Phụ vào chánh điện trong y phục màu trắng; mái tóc đen dài trước đó đã biến thành bộ tóc tém vàng óng ánh. Mắt trí huệ Ngài chấm đỏ, như muốn nhắc nhở chúng ta phải luôn luôn tập trung ở mắt huệ. Sư Phụ tọa thiền với chúng tôi một chập. Vào cuối xuất thiền trưa hôm đó, Sư Phụ nói nhỏ với đồng tu để đánh thức họ dậy và cho biết Ngài sẽ gặp họ sau đó.

Tôi hôm ấy, Sư Phụ đến thiền với chúng tôi lần nữa, trong y phục thường nhật Ðại Hàn. Sau đó Ngài trả lời câu hỏi của các đồng tu Tây phương. Một đồng tu hỏi rằng nghiệp chướng của bà và chồng bà có còn nữa không sau khi bà thọ Tâm Ấn, Sư Phụ bảo các đồng tu khác trả lời. Sau khi nghe nhiều ý kiến của các đồng tu, Sư Phụ nói đây là điều căn bản mà ai cũng phải biết rồi. Có hai loại nghiệp chướng. Một loại là "nghiệp chướng tồn kho", chồng chất từ đời này sang đời khác và làm cho chúng ta phải luân hồi, nhưng Minh Sư đốt nó đi khi chúng ta thọ Tâm Ấn. Loại thứ nhì là nghiệp chướng đã định cho đời này; Minh Sư để lại cho chúng ta sau khi Tâm Ấn để chúng ta có thể tiếp tục sống ở cõi đời. Sư Phụ nhấn mạnh rằng mặc dù không thể đốt sạch hoàn toàn, nhưng định nghiệp có thể được hóa giải thành nhẹ hơn, trơn hơn, trôi chảy hơn, hoặc giảm bớt, bởi vì nghiệp chướng đời này là lý do cho chúng ta tiếp tục sống. Ðể khuyến khích, Ngài cho hay sau khi khai ngộ chúng ta không còn để ý nhiều tới nghiệp chướng, và không cảm thấy buồn lắm. Hơn nữa, Sư Phụ cũng có thể xóa bằng nhiều cách, thí dụ như xóa trong giấc mơ hoặc làm cho nó nhẹ hơn, đỡ khổ hơn. Thêm vào đó, khi khai ngộ, mọi thứ dường như nhỏ bé hơn, ít ý nghĩa hơn.

Khi trả lời một câu hỏi khác, Sư Phụ cho chúng tôi một bài nói chuyện xuất chúng. Ngài nhắc nhở chúng ta nên lắng nghe trí huệ của mình thay vì nghe lời của đầu óc. "Tất cả chúng ta là Thượng Ðế, chỉ vì đầu óc làm phiền phức mà thôi. Bộ óc là cái gây nên phiền não, khiến chúng ta phải làm cái này, cái kia, làm mọi thứ mà chúng ta không muốn làm, uống cà phê, hút thuốc khi chúng ta muốn bỏ, hoặc làm bất cứ cái gì. Ðó chỉ là cái đầu. Ðầu óc đôi khi không thể tiếp nhận đầy đủ những thông điệp đến từ linh hồn, bởi vì nó giống như là đồ lọc, một cái rây. Ðôi khi đồ lọc không được hữu hiệu cho lắm, cho nên những mệnh lệnh đến từ linh hồn trở thành "méo mó", thế là chúng ta làm việc sai lệch. Làm không đúng đường. Vì vậy mà chúng ta tức giận, bực bội với nhau, vì chúng ta không thể như một. Không có thân xác này, không có bộ óc này, chúng ta hiểu nhau một cách hoàn toàn; không cần phải nói gì cả."

"Tất cả những vấn đề khó khăn trong thế giới này là đến từ thể xác, tinh thần và đầu óc. Trực giác của quý vị biết là phải làm gì, nhưng bị đầu óc xen vào vì những thói quen, kinh nghiệm mà quý vị đã thâu lượm trong quá khứ - như là: "Nếu làm như vậy, tôi sẽ bị phiền hà". Nhưng lần này khác; trông nó giống như vậy, nhưng không phải như vậy. Nhưng đầu óc vẫn nghĩ: "Không, lúc trước tôi đã làm cái đó và bị phiền phức; kỳ này tốt hơn là không làm vậy nữa." - chẳng hạn vậy. Thành ra, đầu óc xen vào rất nhiều làm cho chúng ta bực mình, tức tối. Bây giờ, sau khi sáng suốt hơn, chúng ta nên lắng nghe trí huệ của mình nhiều hơn là đầu óc, và chúng ta sẽ bị ít vấn đề hơn."

Sư Phụ nói thêm rằng Ngài du hành thường xuyên và phải sống ở nhiều nơi khác nhau; mỗi nơi đặt chân đến, Ngài đều phải thích ứng với hệ thống mới. Ðiều tệ hơn nữa là đồng tu lại hay sắp xếp chuẩn bị cho Ngài những cái rất là đặc biệt, bất thường. Kết quả là Ngài phải mất thời giờ trong thời khóa biểu vô cùng bận rộn để thích ứng với những thử thách mới đó. Thí dụ khi tới Trung Tâm Vĩnh Ðồng tối hôm trước, Sư Phụ chỉ muốn tắm rửa rồi đi nghỉ. Nhưng phòng tắm có đủ thứ loại nút, trông giống như là tàu chiến không gian, có thể điều khiển cả vũ trụ. Tệ hơn nữa, tất cả những lời chỉ dẫn và nhãn hiệu đều bằng chữ Ðại Hàn; chắc họ tưởng Sư Phụ cái gì cũng biết cho nên không cần thông dịch. Nhưng vì đã khuya và Sư Phụ đã ở trong phòng tắm rồi, nên Ngài quyết định không gọi người tới giúp, cuối cùng phải mất nửa tiếng đồng hồ thử mọi thứ nút, đồ vặn; bọt xà bông, nước xịt tứ phía. Không quen với những đồ vật phức tạp như vậy, Sư Phụ đề nghị tốt hơn là làm cho Sư Phụ những cái gì càng giản tiện càng tốt.

Sung Sướng Ngập Tràn Trong Cuộc Bế Quan

Trời đổ mưa vào buổi sáng ngày thứ nhì; những khóm cây, ngọn cỏ trong Trung Tâm đang khô bỗng vươn lên, sung sướng uống vào những giọt nước mát từ trên trời, như đồng tu chúng ta đang uống vào lòng những giọt cam lồ từ Thiên Quốc. Không khí trở nên tươi mát khi những đám mây còn lững lờ trên đỉnh núi, tạo nên một phong cảnh nên thơ. Trưa hôm đó, Sư Phụ đến thiền đường trong chiếc áo ấm màu xanh và tóc nhuộm vàng. Với vẻ tươi tắn, Ngài trả lời những câu hỏi của các đồng tu á Châu như Mã Lai, Hồng Kông, Ðại Hàn, Nhật Bản và những quốc gia khác.

Tối đến, Sư Phụ tiếp tục trả lời câu hỏi của đồng tu. Một trong những câu hỏi quan tâm tới tính chất di truyền học (biến đổi tính di truyền trong rau cải), liên quan tới việc cấy chất DNA của động vật cho vào thực vật. Sau đó Sư Phụ mời những đồng tu có kiến thức về đề tài này lên chia xẻ quan điểm của họ, đứng trên quan điểm tâm linh, tầm ảnh hưởng của nó đối với môi sinh, đến những chúng sinh khác, đến đất đai và sự dinh dưỡng, sự trồng trọt theo phương pháp hữu cơ, vấn đề thực phẩm và nạn đói. Sau cuộc thảo luận, Sư Phụ khuyên chúng ta nên cẩn thận và tránh dùng những thực phẩm có cấy chất DNA của thú vật. Ngài kêu gọi những nhà cầm quyền trên thế giới hãy yêu cầu các nhà sản xuất ghi nhãn hiệu rõ ràng loại thực phẩm nào có chất DNA thú vật, để khách hàng có thể quyết định mua hay không mua. Sư Phụ lập lại một lần nữa rằng tài nguyên của tinh cầu này đủ để nuôi tất cả mọi người; vấn đề ở đây không phải là hiếm thực phẩm mà là không biết lợi dụng tài nguyên. Một sư tỷ người Nhật nói rằng cô rất thích kiểu tóc mới của Sư Phụ, và Sư Phụ rất là thơm trong kỳ thuyết pháp ở Ðông Kinh cũng như trong kỳ bế quan ở Ðại Hàn. Nghe vậy, một sư tỷ người Âu Lạc cho biết cô cũng ngửi thấy mùi trầm hương mỗi lần vào căn nhà ở Trung Tâm Austin nơi Sư Phụ đã ở ba bốn năm về trước. Cô nói rằng cô cũng ngửi thấy cùng mùi thơm như vậy trong kỳ bế quan ở Thái Lan, ngay cả lúc cô nằm trong chăn. Một sư huynh nói thêm, anh được một chiếc mền Sư Phụ đã dùng; cho đến nay, sau năm năm mà nó vẫn còn thơm.

Thầy Trò Cùng Chung
Lý Tưởng

Sáng ngày 11 tháng 5, Sư Phụ vào gặp chúng tôi trong bộ đồ thường nhật màu trắng, và thân mật tiếp đón các đồng tu Trung Quốc, những người đang vô cùng khao khát được gặp Ngài. Nhiều người mới được gặp Sư Phụ lần đầu, không lời nói nào có thể diễn tả được sự xúc động và lòng yêu kính của họ đối với Ngài.

Sư Phụ bày tỏ nỗi niềm thông cảm và an ủi họ bằng cách nói rằng Thượng Ðế đã gửi họ tới miền đất mà họ đang sống bây giờ, bởi vì Thượng Ðế biết họ là những người kiên cường nhất, có khả năng tu hành chăm chỉ nhất trong những hoàn cảnh khó khăn. Những nhà tu đó là những Thánh Nhân, Bồ Tát giỏi, và qua khỏi những bài khảo về lòng can đảm một cách thành công. Ðồng tu Trung Quốc là những người tiên phong, vì họ đã mở đường, đối phó với những hoàn cảnh đau thương, chịu đựng được những đắng cay gian khổ, và tìm được cách vượt qua. Ðó là việc của những người tiên phong. Nếu tu hành chăm chỉ, họ sẽ cảm thấy tự do, thanh thản, bất kể họ đang sống trong hoàn cảnh nào. Sư Phụ quả quyết họ vẫn có thể tu hành giỏi dù có tham gia bế quan hay không, bởi vì lực lượng của Ngài là vô sở bất tại.

Thấy chúng tôi ngồi đất, Sư Phụ lo lắng chúng tôi sẽ bị cảm trong xuất thiền sáng và tối. Ngài ra chỉ thị cho ban làm việc mua những tấm lót trang kim và trải lên khắp nơi trong chánh điện. Nhân viên làm việc thi hành nhanh chóng. Trưa hôm ấy, chúng tôi được ngồi thiền trên những tấm thảm trang kim vừa sạch vừa ấm áp. Mọi người vô cùng cảm động trước sự chu đáo của Sư Phụ.

Buổi trưa hôm đó, Sư Phụ vào chánh điện trong bộ y phục cổ truyền màu hồng của Ðại Hàn, và tiếp tục gặp đồng tu Trung Quốc. Ngài bắt đầu buổi nói chuyện: "Chúng ta bị lừa bịp từ đời này sang đời khác, nó đã làm cho chúng ta thiếu tự tin. Tuy vậy, tất cả chúng ta là Thượng Ðế, nếu không thì chúng ta là ai? Chúng ta thật sự là Thượng Ðế; chúng ta chỉ tưởng rằng cái đầu này là 'ta'. Ðừng nghe lời nó. Cứ tập trung vào việc trưởng dưỡng tâm linh và làm một con người nhân đức. Nếu mọi việc đến dễ dàng quá thì chúng ta không thấy được lòng tin vững chắc của mình."

Khi Sư Phụ đưa mọi người vào thiền định, các đồng tu Trung Quốc ngồi bên Ngài có những thể nghiệm rất tốt. Có người thấy ánh sáng rất lớn, rực rỡ và nóng. Nhiều người không thể không mở mắt ra xem, coi nó có phải là ánh sáng mặt trời bên ngoài hay không; và họ nhận ra rằng đó là ánh sáng bên trong. Sau khi thiền, Sư Phụ khen đồng tu Trung Quốc tọa thiền kiên định. Khi Ngài sắp sửa đi ra, hai sư huynh Trung Quốc dâng Ngài tấm lụa trắng "hada" (để đón mừng người mà họ kính trọng theo truyền thống Tây Tạng), bày tỏ sự sùng kính tột bực đối với Ngài.

Tới tối, Sư Phụ đến thiền với chúng tôi lần nữa trong chiếc váy đầm dài truyền thống Ðại Hàn màu vàng kim. Sau khi thiền, Ngài nhắc nhở đồng tu Trung Quốc và những người có mặt: "Ðừng sợ là mình không thể tu hành giỏi; sợ là không tốt. 'Sợ' là kẻ thù của chúng ta, cho nên đừng sợ. Quý vị là huy hoàng, vĩ đại. Ðừng coi thường chính mình mà phải nhận và ngộ ra sự vĩ đại của mình. Quý vị đã từ chối chính mình từ đời này sang đời khác cho đến khi nó trở thành một thói quen. Không ai khác cả; chúng ta là Thượng Ðế, không ai khác. Tất cả chúng ta là một thể. Nếu quý vị nói tôi là Phật thì quý vị cũng phải là Phật."

Sư Phụ giải thích thêm rằng mặc dù có vô số người trên thế giới, nhưng rất ít ai hiểu được lời Ngài, huống chi là ăn chay, giữ giới, tu hành, và đi thật xa để gặp Ngài. Sư Phụ nói: "Quý vị thật sự vĩ đại. Quý vị đã vượt qua đẳng cấp đó để có thể tu hành trong niềm hỷ lạc thanh tịnh lúc quý vị ở đây. Nếu không vui trong lòng và trí huệ không phát triển thì quý vị không thể hiểu được những gì tôi nói. Có lẽ tôi sẽ nói chuyện với sỏi đá." Sư Phụ thấy đồng tu tu hành rất tốt, rất chăm chỉ, và bầu không khí bên trong của họ rất là thoải mái; họ rất đẹp bên trong lẫn bên ngoài.

Sau đó, Ngài mời tất cả các liên lạc viên trên thế giới lên sân khấu ngồi. Vì Sư Phụ chia xẻ Chân Lý với một tốc độ cực kỳ mau chóng, các trung tâm trên thế giới phát triển và mọc lên như nấm, vì vậy số người liên lạc viên ngồi đầy sân khấu. Sư Phụ bảo họ nói tên của Trung Tâm mà họ đại diện, vắn tắt kể lại những hoạt động và sự phát triển tại trung tâm, hoặc trình lên sự việc hoặc những đề nghị mà họ muốn thảo luận với Ngài.

Khi bàn về sự phát triển những trung tâm mới, Sư Phụ nói rằng phương pháp nhanh chóng nhất để khai ngộ là giúp người khác khai ngộ, bởi vì cho gì thì được nấy; nó là như vậy.

Sau đó Sư Phụ cho biết: "Danh hiệu 'Vô Thượng Sư' gây rất nhiều phiền phức cho tôi. Nhưng chúng ta phải chịu vậy, bởi vì chúng ta phải theo Sự Thật. Tôi ở đây không phải là để làm vừa lòng người, hay để làm cho họ tin tôi hay không tin tôi; mà tôi ở đây là vì Chân Lý, và tôi sẽ phải theo Chân Lý. Rất đơn giản. Ðường tôi đi - chỉ có một thôi."

Một sư tỷ kể con trai của bà là tù nhân và cậu cảm thấy Sư Phụ ở bên cạnh cậu 24 giờ một ngày khi cậu ở trong tù. Cậu thành thật sám hối những hành động sai lầm của mình đồng thời khuyên các tù nhân khác đừng phạm tội. Bà quá cảm động trước tình yêu thương của Sư Phụ dành cho con trai bà, vừa kể mà nước mắt bà vừa đầm đìa trên má.

Kế đến, một câu chuyện từ Châu Mỹ Latin được thuật lại. Cách đây không lâu, nhà của vị liên lạc viên ở Costa Rica bị hỏa hoạn cháy rụi. Hàng xóm gọi điện thoại cho bà nói rằng: "Nhà chị không còn nữa!" Bà cấp tốc trở về; những đứa trẻ hàng xóm đến chung quanh an ủi; bà trông thấy hàng xóm đã dọn sạch đống tro đổ nát để bà không cảm thấy quá đau khổ trước khung cảnh điêu tàn. Tai họa này đã mang đến cho bà tình thương, lòng quan tâm và sự giúp đỡ từ những người láng giềng, đồng tu và Sư Phụ. Ngài đã cho bà ở trong nhà của Ngài tại một trung tâm địa phương. Sư Phụ đùa rằng vì bà không có chỗ ở, cho nên không còn cách nào khác là phải ở trong nhà của Sư Phụ! Vị sư tỷ nói với Sư Phụ rằng trước kia bà học bố thí, nhưng sau tai nạn đó, bà học nhận bố thí bằng tấm lòng khiêm nhượng. Mọi thứ trong nhà bà đã cháy thành tro, chỉ còn tấm ảnh Sư Phụ và thẻ thông hành để đàng sau tấm ảnh là không bị cháy, nhờ đó bà đã có thể tham dự thiền lục lần này. Sư Phụ nói rằng bà biết "ngôi nhà" thật sự của bà là ở trên kia (thiên đàng), không phải ở đây trên thế giới này, và khen lòng tin tuyệt đối của bà. (Sư Phụ hứa xây cho bà một ngôi nha mới nếu bà còn muốn nó.)

Sư Phụ cũng gọi những thông dịch viên lên sân khấu ngồi với Ngài, cảm ơn họ giỏi tập trung trong công việc: "Tôi rất là ngưỡng mộ tài năng của quý vị; quý vị phải là những nhà chuyên môn, giỏi tập trung và có lòng cống hiến. Quý vị làm việc giỏi lắm. Tôi rất hãnh diện về quý vị; quý vị rất có tài."

Ngày Thứ Tư Của Thiền Lục: Sinh Nhật Sư Phụ

Ngày thú tư của cuộc bế quan tại Vĩnh Ðồng, 12 tháng 5 là ngày sinh nhật của Sư Phụ, các đồng tu tiếp tục tọa thiền chăm chỉ.

Khi Sư Phụ đến vào buổi trưa, trong chiếc áo đầm cổ truyền Ðại Hàn màu trắng, các đồng tu hát bài "Happy Birthday" mừng sinh nhật. Khi cuộc đàm thoại chuyển sang địa điểm thích hợp cho các kỳ bế quan quốc tế, Sư Phụ phê bình rằng các quốc gia văn minh, thịnh vượng phải nên phát giấy chiếu khán dễ dàng thuận tiện cho du khách nước ngoài. Rồi Sư Phụ kể một câu chuyện liên quan đến một nhà tu hành nọ người Do Thái, ông vui sướng được tiếp xúc với Thượng Ðế thường xuyên, nhưng có một thời gian nào đó, Thượng Ðế không đến nhà ông nữa. Vị tu hành này van xin Thượng Ðế hãy trở lại và hỏi Ngài rằng ông phải làm sao để được Ngài trở lại. Thế là Thượng Ðế hiện ra cho ông một lần chót và nói: "Ngươi không cho ai vào nhà, cho nên Ta nghĩ rằng ngươi không muốn, kể cả Ta. Vì vậy Ta không đến nữa." Sư Phụ nói: "Cũng giống vậy, bất cứ quốc gia thịnh vượng nào cũng phải nên hiểu rằng tất cả nhân loại đều là hiện thân của Thượng Ðế và phải cho họ vào dễ dàng."

Rồi Sư Phụ nói tiếp rằng thời gian gần đây Ngài thường hay tự hỏi Ngài phải làm sao - có nên dạy chúng ta điều gì hay không. Ngài biết rằng chúng ta đã có tất cả những gì chúng ta cần và đang ở đúng y chỗ mà chúng ta hiện giờ đang ở. Chúng ta đã có mọi thứ ở bên trong, vì vậy rất khó cho Ngài có thể đóng vai trò của một vị Thầy. Mặc dù đôi khi chúng ta làm cho Ngài tin rằng chúng ta cần một vị Thầy, nhưng chúng ta vô cùng vĩ đại bên trong, chúng ta biết tất cả và không cần gì cả. Chúng ta đủ hoàn hảo, hạnh phúc và đủ mạnh để chịu đựng bất cứ chướng ngại nào, vậy tại sao chúng ta cứ nhìn ra ngoài để tìm câu giải đáp? Sư Phụ bảo rằng Ngài có những ý nghĩ mâu thuẫn bên trong, không biết có nên làm Phật hay không làm Phật với chúng ta. Chúng ta nên bám vào chính mình, đại trí thức, đại đầy đủ, đại hoàn mỹ, đại trí huệ và Bản Lai đại viên mãn của mình. Ngài không biết tại sao đôi khi chúng ta chọn quên rằng mình vĩ đại và tự mãn, nhưng Sư Phụ nói rằng chơi trò ngu và quên một thời gian cũng thấy vui, giống như Sư Phụ đang chơi trò "cô gái nhà quê tóc vàng" để thay đổi không khí. (Như đã đề cập ở trên, Sư Phụ nhuộm tóc vàng trong kỳ bế quan này).

Vào buổi chiều, trong quốc phục Ðại Hàn màu trắng, Sư Phụ đến thiền đường gặp chúng tôi. Ngài khuyến khích chúng ta hãy là cái "Ngã" tốt kia. Ngài nói: "Ðôi khi, nếu cái gì chúng ta cũng theo một cách thái quá thì không còn thú vị nữa. Quý vị phải biết tự do bày tỏ, tự do trưởng thành, tự do làm chính mình. Tôi muốn quí vị hãy là chính quý vị, là cái "Ngã" tốt hơn kia, vậy thôi, không phải là bắt chước tôi. Tôi làm những gì đẹp cho tôi, nhưng khi quý vị làm trông không đẹp, bởi vì quý vị khác. Tôi không thể bắt chước quý vị và trông tôi vẫn đẹp; quý vị không thể bắt chước tôi và trông quý vị vẫn đẹp."

"Quý vị phải là chính mình, hoàn toàn thoát ra khỏi mọi thành kiến, mọi thiên kiến, tất cả những tập tục, bất cứ cái gì không tốt cho quý vị. Tôi bảo quý vị làm một điều gì đó một lúc nào đó không có nghĩa là quý vị phải làm như vậy ở mọi nơi khác. Quý vị phải luôn luôn suy nghĩ: "Trong trường hợp này, ta phải làm sao hoặc Sư Phụ sẽ làm sao?" Nó khác nhau. Chúng ta đã học Pháp Môn và có cùng một trí huệ, nhưng chúng ta dùng nó theo những đường lối khác nhau. Cũng giống như điện - nó luôn luôn giống nhau, nhưng chúng ta dùng nó theo những đường lối khác nhau. Thượng Ðế tạo những tính nết khác nhau vì những lý do khác nhau. Quý vị như vậy là được, chỉ cần luyện mình trở thành tốt hơn, nhưng đừng thay đổi chính mình để được giống y hệt như bất kỳ người nào."

Khi trả lời câu hỏi về việc dạy Pháp Môn Quán Âm, Sư Phụ nhắc chúng ta tới những phẩm tính mà một Minh Sư phải có. Ngài nói rằng: "Quý vị phải là Minh Sư trước khi có thể dạy. Cái đó không phải là bên ngoài, mà là bên trong. Quý vị phải có khả năng dạy người từ bên trong, ở những đẳng cấp, cảnh giới khác nhau, chứ không phải chỉ truyền ra những lời giảng huấn. Các Sứ Giả Quán Âm chỉ có thể truyền bằng miệng những lời dạy, và họ cũng có thể trả lời một vài câu hỏi căn bản. Nhưng muốn dạy người khác những lời giáo huấn ở bên trong, quý vị phải là Minh Sư ở đẳng cấp thứ năm là ít nhất!"

"Mặc dù tôi không nói một lời nào, nhưng nếu có mặt bên tôi, quý vị sẽ nhận được một điều gì đó bên trong. Ðó là sự giáo huấn của một vị Minh Sư. Không phải lời nói, cũng không phải vẻ bên ngoài của tôi. Nói xa hơn nữa, không phải là sự hiện diện về thể xác mà thôi. Vị Minh Sư phải là vô sở bất tại, nhưng cũng phải hiện diện trên tinh cầu này về phương diện thể xác. Ðây là những phẩm chất, điều kiện để là một vị Minh Sư. Nếu chưa đạt được những phẩm tính này, thì tốt hơn là tu hành cho mình trước đã; như vậy cũng đã đủ rồi - năm hoặc sáu đời tổ tiên được siêu sanh, và thế giới sẽ được gia trì bởi sự hiện diện của quý vị, một mức độ nào đó."

"Có những người cũng đạt được tới đẳng cấp thứ năm, nhưng không thể làm thầy. Họ ở trình độ Minh Sư, nhưng không thể dạy. Người ta không nghe hoặc là không theo. Thí dụ, nếu quý vị tu đến đẳng cấp thứ năm và bên trong quý vị là Minh Sư, nhưng dầu sao cũng phải có điều kiện bên ngoài. Phải có một cái gì đó để người khác cảm thấy dễ chịu với mình, cảm thấy bị lôi cuốn về phía mình, và nghe lời mình nói. Quý vị có thể làm cho họ tin tưởng ngay tức khắc, họ biết quý vị đang nói cái gì. Như khi quý vị bước vào một gian phòng toàn những người lạ, truyền Tâm Ấn cho họ một giờ sau đó, rồi họ theo giáo lý của quý vị mãi mãi. Cái này không phải là một việc dễ dàng, tôi thiết tưởng. Quý vị phải có sự ủy thác từ Thượng Ðế, một mệnh lệnh từ Thiên Ðàng hay một cái gì đó. Nó phải như thế."

Kế đến, một sư huynh kể chuyện rằng tuần lễ trước khi bế quan, anh khám phá ra một cục sưng trong mũi, càng ngày càng lớn, và anh tự hỏi không biết có nên đi thiền lục hay không. Sau cùng, anh quyết định đi rồi làm những gì anh cần phải làm. Nhưng cục sưng trong mũi biến mất một cách huyền bí trên chuyến bay anh đến Ðại Hàn. Sư Phụ bình phẩm: "Ðôi khi chúng ta phải quả quyết làm việc gì tốt cho chúng ta, và đặt Thượng Ðế lên trên hết, những việc khác thứ nhì."

Khi trả lời một câu hỏi về bệnh tật, Sư Phụ dạy chúng ta không nên than phiền về những vấn đề thể xác, và Ngài cho biết sự đau ốm hầu hết là đến từ đầu óc. Ngài báo động rằng chúng ta không nên tội nghiệp chính mình rồi để ý quá nhiều về bệnh hoạn, mà phải biết ơn những gì mình có. Rồi Ngài đưa ra một thí dụ: sáng hôm đó, Sư Phụ không đến gặp chúng tôi được vì mắc bệnh sau khi ăn rau sống không được rửa đúng cách. Ngài vẫn còn đau buổi trưa hôm đó và không thuốc nào uống vào thấy bớt. Tuy nhiên, Sư Phụ vẫn đến gặp chúng tôi và làm những gì phải làm. Trong lúc ở phòng thiền, Sư Phụ bỗng cảm thấy đỡ, nhưng ngay khi về nhà thì bị đau trở lại. Lúc đó Ngài nhớ tới một phương pháp chữa bệnh tiêu chảy gia truyền, đó là: Kho xì dầu với tiêu trắng hoặc tiêu đen cho sệt lại, rồi ăn với bánh mì nướng khét. Sư Phụ nói rằng sau khi tiêu thụ hợp chất này, bệnh của Ngài biến mất.

Trong trường hợp này, Sư Phụ đã không thương hại chính Ngài, mà làm những gì phải làm vừa kiếm cách chữa bệnh. Ngài cho chúng tôi thấy rằng chúng ta rất có phước báu được vé máy bay đến Ðại Hàn để dự bế quan, cho nên đừng thương hại chính mình. Chúng ta không nên bám vào bệnh hoạn của mình; thay vào đó, nên tập trung vào những cái tốt, không nên quên những phước báu chúng ta đang có. Nghĩ gì thì trở thành cái đó. Chúng ta phải nên làm chủ mọi chuyện. Với tinh thần đó, chúng ta sẽ khỏi bệnh dễ dàng.

Ngày Thứ Năm

Ngày thứ năm của thiền lục, trời mưa u ám. Buổi trưa, Sư Phụ đến gặp chúng tôi trong bộ đồ thường nhật màu xanh đậm do Ngài vẽ kiểu. Sư Phụ đi vòng quanh chánh điện gia trì những đồng tu đang tọa thiền. Ngài cũng dạy riêng mỗi đồng tu giúp họ cải tiến về vấn đề thiền định.

Chiều hôm đó, Sư Phụ đến trong chiếc áo xanh cổ trắng và quần trắng. Ðể trả lời một câu hỏi của đồng tu Ðại Hàn, Ngài nói: "Người Ðại Hàn rất là mạnh. Tôi không cần phải nói với họ nhiều. Họ hiểu ở đây và ở đây." (Sư Phụ chỉ mắt trí huệ và tim.)

Ngày Thứ Sáu

Ngày 14 tháng 5 là ngày cuối cùng của cuộc bế quan. Hôm ấy tới phiên đồng tu Formosa được lên ngồi phía trước và trên sân khấu, cả hai xuất sáng và chiều. Sau nhiều ngày ngồi ở đàng sau, họ vui mừng, sung sướng bám lấy cơ hội hiếm hoi này. Sư Phụ thiền với chúng tôi vào xuất sớm, và một lần nữa sau đó. Ngài bình phẩm vui vẻ: "Ðại Hàn đang khá ra. Bắc và Nam lần đầu tiên nói chuyện với nhau. Rất tốt cho quý vị. Tôi mừng cho quốc gia của quý vị. Ðó là một sự cải tiến." Rồi Sư Phụ nói tiếp: "Trong kỳ bế quan này tôi không trả lời nhiều câu hỏi, bởi vì tôi muốn quý vị lấy câu trả lời từ bên trong. Người Ðại Hàn bên trong họ rất mạnh, bên ngoài cũng vậy, nhờ sâm (dược thảo Ðại Hàn)." [Cười]

Sau đó Sư Phụ khen các đồng tu rất khá trong những năm Ngài dạy; Ngài nói chúng ta cần phải học giỏi vì chúng ta còn phải dạy người khác. Sư Phụ thấy các đồng tu Formosa (đang ngồi gần Ngài) tiến bộ rất nhiều, và những người mà Ngài đã biết từ lâu lúc nào trông cũng trẻ trung, tràn đầy sinh lực. Tiếp theo Sư Phụ nói chuyện thân mật với mọi người như một gia đình đang vui vầy đoàn tụ! Thầy cũng như trò vô cùng quý chuộng buổi họp mặt tuy ngắn nhưng tràn đầy ý nghĩa ấy.

Thiên Ðàng, Trần Thế
Mừng Sinh Nhật Của Một Bậc Ðại Minh Sư

Vào buổi trưa ngày 14 tháng 5, mọi người hồi hộp chuẩn bị đón chờ lễ mừng Ngày Của Mẹ và sinh nhật Sư Phụ (đến muộn). Trong sung sướng dạt dào, đồng tu khoát lên những bộ đồ đẹp nhất. Các tiểu đồng tu cùng cha mẹ, các thượng khách, và những vị khách từ các vùng lân cận, tất cả đều mặc quốc phục trang nhã, vui sướng gia nhập buổi lễ. Ðủ mọi y phục cổ truyền màu sắc làm lóa mắt chúng tôi. Cây cối trong Trung Tâm dường như xanh hơn trước. Những chú chim non dễ thương vui hót trên các cành cây, và những chàng bướm đẹp vũ điệu nhịp nhàng trước mặt khách tới xem.

Nắng vàng, tiết trời ấm áp, rất hạp với lòng người vui rộn rã. Ða số mọi người vừa mới hưởng xong những ngày bế quan thăng hóa vui tươi, vùng núi rừng xanh thơ mộng của Trung Tâm Vĩnh Ðồng. Trước khi văn nghệ, khán giả được lãnh một gói quà đầy kẹo bánh dễ thương để có thể nhắm nhí trong khi thưởng thức văn nghệ. Trong khi một nhạc khúc cổ truyền của Ðại Hàn với nghi lễ đón mời mở đầu cho buổi lễ, Sư Phụ được tháp tùng vào đại sảnh trong quốc phục cổ truyền Ðại Hàn màu hồng tuyệt mỹ với chiếc áo thụng bằng tơ đỏ, thêu vàng. Nhạc khúc Ðại Hàn vẳng tiếng, không bao lâu được thay thế bởi điệu trống sống động của đoàn vũ Ðại Hàn do những tay chơi trống chuyên nghiệp được mướn để mở đầu chương trình. Nơi lối vào sân khấu, Sư Phụ được chào đón bởi một nhóm đông các đồng tu trong các bộ quốc phục đủ màu. Ngài chấp tay lại, chầm chậm, âu yếm nhìn quan khách ở các hàng đầu, gia trì mỗi người bằng một cái nhìn yêu dấu.

Khi Sư Phụ đến chỗ ngồi, ban múa trống vẫn tiếp tục hăng say đánh trống thêm nhiều phút nữa; họ vui múa trên sân khấu trong những bộ đồ trắng, đen và đỏ. Những chiếc mũ nhọn với giải dây dài màu trắng xoay vòng tròn trên đầu khi họ múa.

Hai màn đặc biệt đầu tiên được trình diễn bởi nhóm vũ công chuyên nghiệp Ðại Hàn đã được những tràng pháo tay nồng nhiệt cho màn vũ cổ truyền đặc sắc. Những tiết mục này được tiếp theo bởi một loạt các tiết mục hấp dẩn khác của các đồng tu từ khắp nơi trên thế giới. Ðồng tu Ðại Hàn trình bày màn "Arirang" (một thứ nhạc dân ca truyền thống của Ðại Hàn) gồm nhiều điệu vũ, ca và đàn guitar. Có bài diễn tả sự kiên cường và đầy khí phách, những bài khác sống động và vui. Nói chung, những màn này miêu tả tinh thần tranh đấu cho lý tưởng con người. Thêm vào đó, các đồng tu Trung Quốc trình diễn nhiều chương trình khác nhau, gồm những nhạc phẩm do họ sáng tác, những bài ca được sửa lời về tu hành và sinh nhật Sư Phụ, cùng với điệu múa do nhóm vũ công Mông Cổ trình bày với tất cả tấm lòng.

Khi các võ sĩ Trung Hoa trình diễn các kiểu võ hùng hồn và kỷ xảo tài tình trong các động tác, khán giả bày tỏ sự yêu thích của họ bằng sự ngạc nhiên và những tràng pháo tay rầm rộ.

Tiếp đến, các đồng tu Formosa múa và hát những nhạc phẩm về tâm linh. Các đồng tu Quán Âm của thế hệ mới từ Hoa Kỳ diễn tả sự thích thú khi tu hành theo Sư Phụ qua một bài hát, và đã làm mọi người yêu thích với màn kích động vui nhộn. Những vị thánh trẻ tuổi này sẽ lớn mạnh hơn bao giờ hết, là ánh sáng và niềm hy vọng của thế giới. Một sư tỷ Thụy Sĩ làm rung động lòng người qua giọng hát say mê trong một ca khúc tâm linh rất hay do bà sáng tác.

Sau màn trình diễn này, nhiều vở nhạc kịch độc đáo đã cho khán giả những trận cười dòn rã. Khi chương trình chấm dứt, Sư Phụ khen các diễn viên đã tiến bộ rất nhiều, sau đó Ngài được mời lên sân khấu. Sư Phụ nói một chút rồi cắt bánh sinh nhật, trong khi mọi người hát bài "Happy Birthday" (Mừng Sinh Nhật). Sư Phụ đặc biệt cảm ơn các quan khách danh dự đã gia trì cho Trung Tâm ngày hôm ấy, và mời khán giả thưởng thức bánh.

Khi Sư Phụ sắp rời đại sảnh, một sư huynh Ðại Hàn trong quốc phục Triều Tiên chầm chậm đi trước, nghiêm nghị dẫn đường, trong khi bốn đồng tu Ðại Hàn khiêng kiệu Sư Phụ đi dọc xuống chánh điện. Sư Phụ thật lộng lẫy huy hoàng, đầy trang nghiêm thánh thiện. Trong khi Ngài từ bi nhìn các đồng tu đứng hai bên lối, nỗi sung sướng dạt dào trong tâm khảm của mỗi người không khỏi hiện lộ qua nụ cười trên những khuôn mặt tươi sáng rỡ.

Một Kết Thúc Thỏa Mãn

Chiều hôm đó, Sư Phụ gặp một số đồng tu từ Trung Quốc những người chỉ được dự thiền quốc tế trong hai ngày cuối. Ngài cho họ biết: "Khi quý vị gặp khó khăn trong việc tu hành, nên nhớ rằng đó là đầu óc phỉnh lừa, và đó chỉ là tạm thời thôi. Cuộc sống này chỉ là tạm bợ, huống chi là những vấn đề trong đó. Cho dù phiền não không phải là tạm thời, thì nó cũng hết khi chúng ta chết."

Một vài đồng tu Trung Quốc thuật lại rằng những người khác cũng rất muốn tới gặp Sư Phụ trong kỳ bế quan, nhưng không đi được. Sư Phụ nói: "Có lẽ thời điểm của họ chưa chín mùi. Dù quý vị tu hành thế nào đi nữa, tôi cũng sẽ không bỏ quý vị." Một số khác chia xẻ thể nghiệm họ đã can đảm vượt qua những khó khăn thử thách ra sao. Có người nói họ "sẽ không chết" dù ở trong hoàn cảnh "hiểm nguy tới tính mạng"; một đồng tu kể lại một thể nghiệm thần kỳ về hóa thân của Sư Phụ đã chăm sóc cho đứa con trai quá cố của bà.

Ðã nửa đêm, nhưng bất kể mệt nhọc, Sư Phụ vẫn gặp ban làm việc trong kỳ bế quan, những đồng tu không được gặp Ngài vì làm việc, cho họ một sự gia trì và tình thương đặc biệt. Ngài cám ơn nhân viên làm việc đã hy sinh và cố gắng phục vụ mọi người với tất cả tình thương.

Một lần nữa trong quốc phục cổ điển Ðại Hàn, Sư Phụ nói Ngài rất thích kiểu áo rộng rãi dễ chịu này. Ngài nghĩ rằng dân Ðại Hàn khi xưa chắc là khôn ngoan, họ đã sáng chế ra kiểu y phục như thế; không khỏi tự hỏi tại sao phụ nữ Ðại Hàn ngày nay trông rất tự do và khỏe mạnh. Ngài cũng rất là hài lòng về cuộc hội đàm giữa Bắc và Nam Hàn và sự giảm bớt tình trạng căng thẳng giữa đôi bên.

Các đồng tu Ðại Hàn mời Sư Phụ ở lại Ðại Hàn thêm nữa, và họ có tin vui cho Ngài - chính phủ Ðại Hàn đã chánh thức công nhận sự đăng bộ của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư như là một đoàn thể tôn giáo. Một khi đăng bộ này được hoàn tất, Trung Tâm sẽ có thể chánh thức phát triển và tiến hành các đồ án thiết kế. Chính phủ Ðại Hàn cũng sẽ cho các hội viên ngoại quốc, trong nhóm chúng ta, địa vị tương đương với công dân địa phương. Sư Phụ vô cùng ngạc nhiên trước thái độ cởi mở và hợp tác của Chính Phủ Ðại Hàn. Ngài thấy dân chúng Hán Thành biết bảo trì môi sinh sạch sẽ dù thành phố đông người. Ðiều này cho thấy họ rất văn minh, tiến bộ và có giáo dục. Ngài cũng nhắc nhở các đồng tu hãy cố gắng hết sức giữ gìn cây cối khi xây cất Trung Tâm.

Trước khi ra đi, Sư Phụ không những tặng mỗi một nhân viên làm việc một miếng đồ ăn gia trì, mà Ngài còn gia trì số kẹo bánh một đồng tu lão thành mang đến từ Trung Quốc. Ngài dặn dò những cái này phải để dành đặc biệt cho đồng tu Formosa, là một dấu hiệu chỉ sự trao đổi hòa bình giữa Formosa và Trung Hoa Lục Ðịa.

Trong tình thương cao cả và lực gia trì vô hình của Sư Phụ cũng như của các vị Thánh Nhân, Bồ Tát từ tất cả các cảnh giới, thiền lục Ðại Hàn đã chấm dứt một cách thành công. Vì Sư Phụ sẽ ở lại thêm nhiều ngày, một số đồng tu đã dời lại chuyến bay để được gặp Ngài nữa, trong khi đó mọi người khác ra về, lòng tràn đầy tình thương và lực gia trì.


Báo Chí Ðó Ðây [Top]

Trích từ nguyệt san "MINDVISION"
(ấn bản tường thuật về thế giới tâm linh tại Ðại Hàn.)
Số báo tháng 6, 2000 (Nguyên văn tiếng Ðại Hàn)

Tường Thuật Tại Chỗ

Thanh Hải Vô Thượng Sư, một vị Thầy dạy Pháp Môn Quán Âm, tới Ðại Hàn giảng pháp với chủ đề "Thể Nghiệm Ðấng Thiêng Liêng"

Phóng Viên: Park, Kwen-Kyu

Vào ngày 8 tháng 5 năm 2000, một buổi thuyết pháp trước công chúng của Thanh Hải Vô Thượng Sư, một thiền sư người Âu Lạc, đã được tổ chức tại Trung Tâm COEX ở Samsung-dong. Ðây là buổi thuyết pháp cuối cùng của Thanh Hải Vô Thượng Sư trong chuyến hoằng pháp "Biển Tình Thương" qua 9 quốc gia Ðại Dương Châu và á Châu. Buổi thuyết pháp tại Ðại Hàn được tổ chức trước sự mong đợi thiết tha của khoảng 9 ngàn khán giả.

Khi bước vào hội trường trong bộ quốc phục xinh đẹp của Ðại Hàn với áo màu vàng và váy màu xanh, Sư Phụ Thanh Hải đã được chào đón bởi những tràng pháo tay vang động. Ngài ân cần chú ý để được gần gũi hơn với khán thính giả Ðại Hàn. Trong lúc Sư Phụ đi vào giảng đường, nhiều người hai bên chen lấn để được sờ hoặc bắt tay Ngài.

Trước khi bắt đầu buổi thuyết pháp với chủ đề "Thể Nghiệm Ðấng Thiêng Liêng", Sư Phụ Thanh Hải đề nghị khán giả cầu nguyện cho tất cả dân chúng hai miền Nam Bắc Ðại Hàn, để cho người dân của một quốc gia bị phân chia được sống trong hòa bình, bác ái. Sau phút cầu nguyện, Ngài nói bằng một giọng thương yêu, tao nhã rằng tất cả chúng ta đều đồng một thể. Tất cả chúng ta đều có Bản Chất Thượng Ðế hay Phật Tánh bên trong, đó là Chân Tánh của mình, nhưng không phải ai cũng thật tình biết điều này. Ngài cho hay loài người đã thể nghiệm qua nhiều ảo mộng, và bây giờ chỉ còn một việc để làm, đó là tìm ra Chân Ngã.

Tôn giáo nào cũng nói rằng Thượng Ðế ở bên trong chúng ta, và nếu Thượng Ðế ở trong chúng ta thì thấy Thượng Ðế là một chuyện rất là đơn giản. Tất cả chúng ta ai cũng quên thông điệp mà các đại Minh Sư muốn dạy qua nhiều thời đại. Các Ngài nói rằng Thượng Ðế ở trong chúng ta, chúng ta là Thượng Ðế, và chúng ta có thể nhìn thấy được Chân Ngã của mình.

Sư Phụ Thanh Hải cũng nói rằng biết được Bản Chất Thượng Ðế bên trong chúng ta là điều rất dễ dàng và đơn giản. Ngài nói sẽ hướng dẫn chúng ta tìm thấy Chân Tánh của chính mình, và biểu lộ lòng tự tin trong việc cứu rỗi linh hồn bằng cách nói rằng bất kỳ ai thọ Tâm Ấn đều có thể tìm thấy được Chân Tánh của mình.

Sau khi giảng pháp khoảng một giờ đồng hồ, Sư Phụ đi vào phần vấn đáp. Bầu không khí thương yêu chan hòa khắp hội trường trong suốt giờ thuyết pháp. Sau đó, hằng trăm người đã ở lại để thọ Tâm Ấn hay học pháp thiền Phương Tiện.

Về Pháp Môn Quán Âm

Pháp Môn Quán Âm, dạy bởi Thanh Hải Vô Thượng Sư và được thực hành bởi hằng triệu người khắp nơi trên thế giới, được xem như là pháp thiền cổ nhất, liên hệ tới việc "quán tưởng" đến Âm Thanh và ánh Sáng tâm linh hiện hữu trong chúng ta. Pháp Môn Quán Âm cũng được cho là con đường dễ nhất và nhanh nhất để nhận biết Bản Lai của con người, được truyền mà không dùng ngôn ngữ, khiến chúng ta có thể tìm lại lực lượng vạn năng bên trong chính mình. Lực lượng này được thể hiện qua Âm Thanh và ánh Sáng nội tại.

Muốn học Pháp Quán Âm không cần điều kiện gì ngoại trừ phải ăn chay trường, mỗi ngày thiền hai tiếng rưỡi, và giữ ngũ giới; đó là "không sát sanh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm, và không dùng rượu hay ma túy."

Những ai chưa sẵn sàng tu Pháp Môn Quán Âm đều có thể học Pháp Phương Tiện. Người tu Pháp Phương Tiện không cần phải ăn chay trường, nhưng phải ăn chay ít nhất là mười ngày một tháng, và ngồi thiền mỗi ngày 30 phút, không được nhiều hơn.


Chuyện Thế Giới [Top]

Thánh Hội Chuẩn Bị Công Việc Bằng Tài Khéo Thiên Ðàng

Tường Trình từ Trung Tâm Ðào Viên, Formosa

Trong những năm vừa qua, Sư Phụ bận rộn giảng pháp cho chúng sinh trên cuộc hành trình của Ngài qua nhiều quốc gia trên thế giới. Ngài đã bao gồm Formosa trong chuyến hoằng pháp á Châu và Ðại Dương Châu, điều này là cả một vinh dự lớn lao. Trong khi đồng tu nao nức đón chờ một cơ hội quý và hiếm có sẽ xảy ra vào ngày 5 tháng 5, thì Trung Tâm Ðào Viên sung sướng ngập tràn khi tỉnh Ðào Viên được chọn làm nơi thuyết pháp. Tất cả đồng tu trong ban làm việc bắt đầu xúc tiến với tất cả sự nhiệt thành và tận tụy; công việc trang trí và những dự án xây cất cũng được tiến hành; các đồng tu tại đây có dịp chứng kiến tận mắt một tiến trình làm việc phi thường. Ngày thuyết pháp gần kề, nhiều đồng tu hăng hái đến Trung Tâm từ khắp nơi trên Formosa để đóng góp nhân lực cho một diễn biến trọng đại mà có lẽ hàng trăm năm hay hàng nghìn năm mới được một lần!

Ðồng tu địa phương dọn dẹp, làm đẹp Trung Tâm như thể chuẩn bị cho một ngày lễ lạc, kiến tạo một khung cảnh làm việc thoải mái cho những người lo chuyện xây cất và trang trí. Toán thợ mộc xây bảy cái sườn gỗ kích thước bằng nhau, được dùng để dựng một bức tranh lớn được để ở phía sau làm phông sân khấu. Họ căng vải bố trên mỗi cái sườn cao 9 thước, vì hội trường thuyết pháp rất rộng lớn (một vận động trường lớn nhất của Formosa). Mỗi cái sườn gỗ này cần phải năm người khiêng từ lầu dưới của Trung Tâm Ðào Viên lên bãi đất trống phía trước nhà bếp, sau đó những cái sườn này được dựng lên, ráp lại với nhau để vẽ. Một cái sàn làm việc bằng gỗ gồm có ba bậc được đóng lên cho hai họa sĩ chính leo lên làm việc, đó là hai sư tỷ đồng tu trong ban mỹ thuật Ðài Bắc. Với sự trợ giúp của một vài đồng tu nữa, họ xịt nước cho ẩm mỗi miếng vải bố, sơn lên màu nền, phát họa điểm chính lên khắp bảy khung vải, rồi sơn thành một tác phẩm nghệ thuật khổng lồ.

Hai vị sư tỷ chỉ có 5 ngày để hoàn tất 7 tấm hình, mỗi tấm dài 3 mét và cao 9 mét, trước khi cả hai phải bay ra nước ngoài để giúp chuẩn bị cho các buổi thuyết pháp khác của Sư Phụ. Họ làm việc vô cùng tận tụy và tuyệt đối tập trung, thường khi phải làm tới nửa đêm. Tinh thần cống hiến của họ ai thấy cũng phải động lòng! Trong lúc đó, các đoàn viên thuộc toán thợ mộc phải xây cái sườn chính hình vòng cung làm lối vào hội trường, không những thế họ còn xây sàn cho sân khấu và cấu trúc khổng lồ làm phông sân khấu. Ðể xây sân khấu, họ cẩn thận đo các miếng gỗ, mỗi miếng cắt theo một cỡ nhất định nào đó, rồi đem xuống tầng dưới Trung Tâm Ðào Viên ráp lại. Sau đó, khi gần tới buổi thuyết pháp, họ tháo tất cả các miếng gỗ đó ra, đóng thành từng kiện rồi chở đến hội trường. Ðến nơi, các miếng gỗ được ráp lại, sơn rồi đóng vào vị trí. Ðây thật không phải là một việc dễ dàng!

Vào ngày 23 tháng 4, các liên lạc viên địa phương tập họp tại địa điểm thuyết pháp để xem xét, cùng đi theo là các trưởng ban và nhân viên làm việc. Vận Ðộng Trường Ðào Viên là một vận động trường xây trong nhà lớn nhất Formosa, lớn đến nỗi phải mất năm phút mới đi bộ xong từ cửa Ðông sang đến cửa Tây. Chỗ ngồi gồm có tầng trệt lên tới lầu một và lầu hai, trong khi đó các phòng họp, phòng dượt, nhà vệ sinh và phòng trang điểm thì nằm ở tầng hầm. Khi đến hội trường, người phối hợp viên giải thích cặn kẽ về nhiệm vụ của mỗi toán, về sự trưng dụng nhân viên, trách nhiệm của họ, và thiết đồ tổng quát của vận động trường để mọi người quen thuộc khung cảnh và công tác của mình. Sau buổi ăn trưa tại Trung Tâm Ðào Viên, họ trở lại vận động trường để thảo thêm chi tiết. Tối hôm đó các liên lạc viên gặp nhau lần nữa để bàn về nhân viên, vật liệu và việc huy động xe cộ. Họ cũng chia cho nhau các tấm bích chương, biểu ngữ và truyền đơn để phát và dán lên tại nơi cư ngụ.

Trong tất cả các buổi giảng pháp của Sư Phụ tại Formosa, ngày 5 tháng 5 năm 2000 là ngày Sư Phụ giảng trước nhiều đám đông khán giả nhất. Các tiểu trung tâm cố gắng huy động càng nhiều đồng tu càng tốt để giúp nhau trong công việc chuẩn bị, ngõ hầu dân chúng Formosa có được cơ hội gặp một vị Minh Sư Khai Ngộ và để giúp những linh hồn đã sẵn sàng được giải thoát đời này. Trong hai tuần cuối của tháng 4, chúng tôi bắt đầu chú trọng vào việc quảng cáo và treo bích chương. Ðồng tu tận dụng tất cả các phương tiện mà họ có thể kiếm được để mang tin tới mọi người. Họ dùng báo chí, truyền hình, các chuyến xe công cộng, truyền đơn, bích chương trên các đường phố, biểu ngữ dang rộng trên cao nơi nhiều người qua lại, và các bảng quảng cáo tại một số địa điểm đặc biệt, kể cả ngoài xa lộ.

Ban làm việc đi khắp khu vực láng giềng dán bích chương. Ðể tránh đông người và không bị kẹt xe nhằm mục đích hoàn tất công việc mau chóng hơn, họ thường đi làm vào ban đêm. Thật là cảm động khi nhìn thấy tinh thần kiên nhẫn bất khuất của các đồng tu trong lúc làm việc đem tin vui đến cho công chúng. Một số người không phải đồng tu cũng hăng hái tới giúp. Cảm động trước tấm lòng thành của họ, đồng tu ao ước những người này cũng sẽ được khai ngộ vào một ngày không xa.

Từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 5, một số đông đồng tu đến Trung Tâm Ðào Viên mang theo vật liệu làm việc và đương nhiên cũng có tình thương và nhiệt huyết. Thế là họ tự động hăng say bắt đầu vào việc. Một số đảm trách phần trang trí khắp mọi nơi trong vận động trường: từ cửa chính cho đến khu vực triển lãm, rồi đến khu trưng bày sách báo, Thiên Y và Trang Sức Thiên Ðường, ngay cả bàn tiếp tân báo chí và bàn ghi danh thọ pháp. Một số làm việc sau lưng như quét dọn vận động trường, xếp thêm những hàng ghế ngồi ở tầng dưới, bắc máy truyền hình ngoài bao lơn, làm đường giây điện, trải thảm trên sân khấu, chuyên chở và xếp các chậu cây bên trên và xung quanh sân khấu, dựng sườn làm phông sân khấu, và dựng màn chiếu phim khổng lồ hai bên sân khấu.

Hằng trăm đồng tu chuẩn bị làm công việc tiếp tân cho ngày thuyết pháp; các hội viên ca đoàn tập dượt các bài hát. Nhiều người lo công việc vận chuyển, việc dựng và ráp tấm phông khổng lồ trên sân khấu. Mọi việc được hoàn thành với rất nhiều nhân lực, nhiều xe cộ vận chuyển cũng như nhiều nghị lực và lòng kiên trì của các đồng tu.

Năm bục sân khấu được trang trí bằng nhiều loại cây cảnh xanh tươi, bông hoa màu sắc. Nhiều cây lớn đến độ phải dùng máy cần trục và năm sáu đồng tu lực lưỡng mới có thể để lên sân khấu. Tổng cộng có trên một ngàn cây kiểng, chậu bông xếp thành hàng dọc theo năm bậc của sân khấu.

Dù công việc khó nhọc, sự cộng tác chặt chẽ của đồng tu đã biến một hội trường trước đây rác rưởi trở thành một công viên xinh tươi như thánh địa, trong vòng chỉ một ngày rưỡi. Tài tình hơn nữa là sau ngày thuyết pháp công việc tháo gỡ chỉ mất có ba tiếng đồng hồ, đem quang cảnh cũ trở lại hội trường (dĩ nhiên là không có rác). Ðiều này cho thấy rõ ràng khả năng gặt hái được qua việc tu hành là vạn năng, nhanh chóng, chính xác và hữu hiệu.

Trước đó, khi Trung Tâm Ðào Viên biết buổi thuyết pháp của Sư Phụ sẽ được tổ chức tại Formosa, đồng tu lập tức thành lập ban ẩm thực gồm nhiều tình nguyện viên. Sau nhiều lần hội họp và thảo luận, công tác được giao phó, và những đồng tu có tài nấu nướng được yêu cầu đệ trình công thức nấu ăn. Khi công việc nhà bếp bắt đầu, các toán viên cố gắng hết sức để nấu nhiều món ăn ngon miệng cho những đồng tu làm việc. Dù có rất ít giờ nghỉ ngơi hoặc ngủ, nhưng họ luôn luôn tràn đầy hỷ lạc, biết rằng những món ăn này nếu nấu trong vui vẻ hẳn sẽ ngon hơn. Họ liên tục niệm hồng danh và rán không nói chuyện. Băng tán Phật của Sư Phụ được mở cả ngày cả đêm gia trì từng món, lại càng thơm ngon hơn nữa. Từ công việc nhà bếp, đồng tu học tinh thần cống hiến vô ngã và cách tập trung tâm trí để công việc hoàn tất nhanh hơn và mỹ mãn hơn.

Buổi tối trước ngày thuyết pháp, nhân viên nhà bếp từ các tiểu trung tâm ở Formosa hội nhập, cùng nhau phục vụ đồ ăn cho số người làm việc càng lúc càng nhiều. Ngày thuyết pháp, họ làm nhiều ngàn chiếc bánh bao cho đồng tu mới và nhân viên làm việc. Không những các tân đồng tu cảm thấy tình thương mà ngay Sư Phụ cũng phải khâm phục. Khi xuống thăm nhà bếp, Ngài ăn thử một cái đầu tiên, hỏi: "Bánh gì vậy?" rồi bằng giọng địa phương Formosa, Ngài thốt lên: "Ngon quá! Ngon quá!" Chúng ta có thể tưởng tượng nỗi mừng vui khôn tả của các đồng tu nhà bếp.

Ngày 5 tháng 5 là ngày thuyết pháp, các quầy thức ăn chay được dựng lên dọc theo hành lang chung quanh vận động trường để phân phát cho những người đến dự. Nhiều quan khách thưởng thức đồ chay ngon miệng trước khi vào hội trường. Vừa mới bước vào trong, họ chú ý ngay tới các họa phẩm tuyệt vời của Sư Phụ. Nhiều người say sưa thưởng lãm, quanh quẩn trong khu vực triển lãm rất lâu.

Phía bên trái là bàn tiếp tân cho các phóng viên báo chí và truyền hình. Phía trước nữa là cầu thang được trang trí đẹp mắt với các chậu hoa tươi và rất nhiều loại Ðèn Vạn Tuế của Sư Phụ. Hoa cùng với đèn thật hạp!

Những Pháp tướng Sư Phụ thật lớn được treo trên tường khu kinh sách không khỏi trở thành trung điểm chú ý của mọi người. Khu triển lãm Thiên Y với các bộ y phục thời trang của Sư Phụ được sắp xếp một cách khéo léo, công phu, vô cùng thẩm mỹ. Khu Trang Sức Thiên Ðường thu hút nhiều quan khách, đặc biệt trong các món nữ trang có một kiểu mới ra, "Ðồ Gác Ðũa Thiên Long", là được nhiều người để ý nhất. Ðây là một món đồ đẹp cần phải có trong bộ sưu tập gia đình, được thực hiện vô cùng khéo léo, đường nét độc đáo và có nhiều công dụng khác nhau. Băng thâu hình của Sư Phụ được chiếu liên tục trên các máy truyền hình dựng trong khu triển lãm, lời nói Ngài như những giọt cam lồ rót vào tai của những linh hồn đang khao khát, khai mở trí huệ bị che đậy từ đời đời kiếp kiếp. Trong lạc phúc, an bình, mọi người tắm trong biển tình thương Sư Phụ!

Trước 6 giờ chiều, quan khách và đồng tu bắt đầu ào ạt tới vận động trường. Tối hôm đó, các sư tỷ đồng tu dịu dàng trang nhã trong những bộ dạ phục cổ truyền Trung Hoa hướng dẫn trên 20.000 quan khách đến chỗ ngồi. Chương trình được bắt đầu vào lúc 7 giờ tối với một đoạn phim ngắn nói về cuộc đời của Sư Phụ để khán giả có thể biết thêm về một vị Minh Sư của thế giới. Sau đó, ba đồng tu lên chia xẻ thể nghiệm cá nhân trên con đường tìm Chân Lý và tu học. Tiếp theo đó là những ca khúc tu hành như bài "Biển Trong" với sự trình diễn của ca đoàn Ðài Nam và Ðài Bắc. Tiếng hát vang xa khắp hội trường không khỏi gây ít nhiều cảm xúc trong lòng khán giả.

Cuối cùng, sau màn trình diễn nhạc cổ điển Trung Hoa, Sư Phụ từ mẫu, người mà đồng tu Formosa đã nhiều năm qua nhung nhớ, vào đến hội trường! Ngạc nhiên trước tất cả công trình trang trí, Sư Phụ chỉ có thể thốt lên: "Ðẹp quá!" Với chiếc váy đầm dài do chính mình thiết kế, Sư Phụ trông vui tươi và trẻ giữa những tràng pháo tay chào mừng náo nhiệt. Ngài đi vào vận động trường, hăng say, đôi chân rảo bước, vòng quanh giảng đường mắt nhìn quan khách và đồng tu Formosa, nhiều người đã từ lâu Ngài chưa gặp lại. Sư Phụ chào mọi người với những lời chúc tốt đẹp nhất, họ nồng nhiệt vẫy tay đáp lại; tất cả vận động trường như đang sống dậy!

Sau đó Sư Phụ lên sân khấu nhận hoa cúng dường trước khi bắt đầu thuyết pháp. Sư Phụ vô cùng cảm động cho biết Ngài cảm thấy giống như về quê cũ. Khi Sư Phụ cám ơn mọi người đã không quên Ngài, khán giả vỗ tay rầm rộ biểu lộ sự ủng hộ của họ đối với Ngài! Buổi thuyết pháp được tiếp nối bằng phấn vấn đáp. Ðể trả lời câu hỏi về mối liên hệ ngoại giao giữa Formosa và Trung Hoa lục địa, Sư Phụ xác nhận một lần nữa rằng chuyện đó sẽ không thành vấn đề nếu cả hai bên đều thành tâm, nhưng hoàn cảnh sẽ cải tiến nếu nhiều người nữa tu hành.

Sau buổi thuyết pháp, Sư Phụ đến Trung Tâm Ðào Viên để gia trì, trong khi lễ Tâm Ấn vừa được cử hành khuya hôm đó. Ngài vui sướng nói: "Tuyệt! Ðây là buổi thuyết pháp hay nhất, lớn nhất và thành công nhất từ trước đến giờ!" Sư Phụ vui thấy rõ với chỗ ở tạm thời được Trung Tâm sửa soạn và trang hoàng ấm cúng. Ngài vô cùng cảm động trước tấm lòng thành của dân chúng Formosa, và nói với những người thị giả rằng không ngôn ngữ nào có thể diễn tả nổi cảm nghĩ của Ngài. Sư Phụ đã lưu lại một bức thư ngắn dán trên gương trong phòng ngủ. Qua sự gia trì của Sư Phụ và nỗ lực chung của nhiều người, ngày họp mặt linh thiêng này đã được kết thúc một cách vô cùng mỹ mãn.

Chú thích: Sự thành tâm của họ đã làm Sư Phụ rơi lệ.

Hình:


  1. Sườn gỗ to lớn được dùng để chống tấm phông trên sân khấu.
  2. Cảnh giới thiên đàng giữa mây trời cao ngất.
  3. Xe buýt, xe hơi mang tin buổi thuyết pháp của Sư Phụ.
  4. Các đồng tu chăm lo từng chi tiết.

Hoàn Toàn Bỏ Phàm Ngã Ðể
Trở Thành Công Cụ Cho Thượng Ðế

Thuật lại bởi nam đồng tu Chen Qifang, Ðài Bắc, Formosa
Ghi chép bởi nữ đồng tu Zhang Xueyun, Ðài Bắc, Formosa

Một ngày nọ, khi sư huynh Chen vô tình tới Trung Tâm Ðào Viên thì gặp một sư huynh đồng tu, người phụ trách công việc tại đây, đang tìm người giúp xây cất một sân khấu khổng lồ và bức màn chiếu phim cho buổi thuyết pháp của Sư Phụ tại Vận Ðộng Trường Quận Ðào Viên, Formosa. Sư huynh Chen làm nghề thợ mộc; có lẽ đó cũng là Thiên ý hay một sự an bày lạ lùng của Sư Phụ mà hai anh cần phải gặp nhau tại Trung Tâm. Anh Chen vui vẻ nhận lãnh công tác.

Tuy nhiên, khi nhận được đồ án cho sân khấu và cho bức màn chiếu phim từ tay sư tỷ Li thuộc ban mỹ thuật Ðài Bắc thì anh bắt đầu bối rối. Chưa bao giờ anh thấy một đồ án nào như vậy, một sân khấu thật hùng vĩ được vẽ trên một tờ giấy mỏng manh. Biến họa đồ trên giấy thành một sản phẩm có thật ngoài đời đối với anh hình như chỉ có thể có trong những truyện thần thoại xa vời. Từ xưa tới nay, công việc của sư huynh Chen đa số chỉ là đóng bàn ghế và xây cửa sổ thương mại. Do đó, anh không biết làm thế nào để biến bản vẽ nhỏ bé này thành một vật thể to lớn hơn gấp mấy ngàn lần. Nhiều ngày nặn óc, anh bàn đi bàn lại với sư tỷ Li và sư huynh đảm trách dự án, nhưng vẫn không biết làm sao để bắt đầu.

Thế rồi một hôm, anh bỗng nhiên khai ngộ. Sân khấu là tâm điểm thiêng liêng của buổi thuyết pháp; nó vượt qua khỏi sự diễn đạt của đầu óc và không cho phép ý kiến cá nhân. Vừa mới hiểu ra thì một hình ảnh hiện lên trong trí anh giống như màn ảnh xi-nê. Anh thấy sân khấu được trang trí phong phú với bông hoa, cây cối, đặc biệt chính giữa là một thác nước đang chảy, tiêu biểu cho tình thương và trí huệ vô biên của Sư Phụ. Hai bên sân khấu là hai màn ảnh chiếu phim to lớn. Sư huynh Chen cảm thấy rõ ràng đây là thể nghiệm do hồng ân Thượng Ðế và sự gia trì của Sư Phụ mà ra. Anh trấn tỉnh lại rồi lặng lẽ ghi tất cả những hình ảnh ấy vào trí nhớ của mình, hy vọng thực hiện được một cách thành công.

Trong giai đoạn xây cất, anh làm việc mà trong lòng vô cùng nhẹ nhàng thanh thản, nhớ lại Sư Phụ có lần đã nói: "Không cần biết làm công việc gì, nếu đầu óc thanh thản an bình là biết rằng mình làm đúng; nếu không thì đừng có làm." Sư huynh Chen cũng học được sự thật của ý nghĩa câu muốn trở thành công cụ của Thượng Ðế ta phải hoàn toàn bỏ đi phàm ngã của mình và của câu: "Càng ít thì giờ chừng nào thì càng làm được nhiều chừng nấy."

Tình Thương Toàn Năng Của Ngài Cứu Rỗi Tất Cả

Do Shui Xin, Ðào Viên, Formosa

Vào ngày sinh nhật của tôi, 24 Tháng Giêng 2000, tôi đã bị một tai nạn xe cộ vô cùng thảm khốc. Tôi luôn luôn xúc động vô cùng mãnh liệt mỗi khi nhớ lại sự gia trì và cách an bài tài tình của Thượng Ðế đã cứu thoát tôi trong cơn khủng hoảng giữa sự sống và cái chết. Lâu lắm trước khi xảy ra tai nạn, Sư Phụ đã cho tôi diễn tập trước rất nhiều lần trong giấc mơ. Ngài ngay cả nói với tôi rằng: "Quý vị sẽ nhận được sự gia trì mãnh liệt một khi đã thoát khỏi tai biến này."

Tôi đã quá ngây thơ đến nỗi nghĩ rằng sự cơn ác mộng kinh hoàng và khó tin như vậy sẽ không thể nào xảy ra trong đời sống thật sự! Vâng, nó đã xảy ra giống hệt như đã hiện ra trong những giấc mơ. Tuy nhiên, thay vì bị thương trầm trọng và chiếc xe trở thành bất động trong vũng bùn, tôi đã duy trì được trạng thái êm đềm và thanh tịnh bên trong. Gần hai tiếng đồng hồ trôi qua trước khi tôi được đỡ vào xe cấp cứu. Lúc đó, các nhân viên y tế đã không thể nghe được nhịp đập của động mạch tôi. Sau khi tôi được cấp tốc đưa đến bệnh viện, các bác sĩ đã giải phẫu trên mặt tôi vì những vết thương bị mở ra trong tai nạn. Họ đã nói đùa rằng dường như họ đang ráp những mảnh cưa đồ chơi lại.

Trong khoảng thời gian 48 tiếng đồng hồ mà nhà thương đang theo dõi bệnh tình của tôi, tôi đã hoàn toàn duy trì được sự sáng suốt. Tôi ở trong trạng thái vô cùng tỉnh táo đến nỗi không thể ngủ được tí nào cả! Hai ngày sau đó, các đồng tu bắt đầu đến viếng thăm, từng người này đến người khác. Tiếng cười của họ tràn ngập căn phòng tôi mỗi ngày, tạo nên một bầu không khí ấm áp và mau lành bệnh cho tôi. Một tháng nằm trong bệnh viện giống như một kỳ nghỉ mát, và tôi đã lành bệnh rất nhanh.

Trong một buổi thiền, khi sức khỏe tôi đã bình phục vào Tháng Hai, tôi trông thấy Sư Phụ ở trong một mái hiên đang ban rải lực gia trì lên Trung Tâm Ðào Viên. Ngài mặc trang phục truyền thống Ðại Hàn với chiếc nón tròn to. Ngài trông tuyệt đẹp! Nhưng tôi nghĩ Trung Tâm Ðào Viên có một sảnh đường rất rộng rãi và thoải mái, vậy thì tại sao Sư Phụ lại nói chuyện với nhân viên làm việc trong mái hiên tạm thời như vậy? Khi tôi biết được rằng vào tháng tư Sư Phụ sẽ có một buổi thuyết pháp tại Ðào Viên như là một phần của chuyến đi vòng quanh Ðại Dương Châu và á Châu của Ngài, tôi cuối cùng đã nhận thức được sự an bài và gia trì của Thượng Ðế. Ðể chuẩn bị cho dịp trọng đại này, Trung Tâm Ðào Viên đã tập trung tất cả các đồng tu địa phương lại, và tôi được danh dự thảo kế hoạch cho ban ẩm thực. Mặc dù tôi vẫn chưa được hoàn toàn bình phục sau tai nạn, nhưng điều tốt đẹp là tôi chưa phải đi làm trở lại, cho nên tôi có thể hoàn toàn ném mình vào việc chuẩn bị cho buổi thuyết pháp.

Sau khi một nhà bếp tạm thời được xây tại Trung Tâm, tôi đã nhận ra rằng cái mái hiên tạm thời mà tôi đã thấy trong giấc mơ chính là căn nhà bếp. Và chiếc nón tròn, to mà Sư Phụ đã đội chính là kiểu đồng phục của ban ẩm thực. Sau buổi thuyết pháp ở Vận Ðộng Trường Thị Xã Ðào Viên được chấm dứt, Sư Phụ đã đích thân đến thăm Trung Tâm và đã nếm thử bánh bao trong nhà bếp tạm thời.

Qua sự làm việc, tôi đã thấu hiểu sâu xa rằng khi chúng ta phát sinh một ý tưởng có liên quan tới việc phụng sự đại chúng, Thiên Ðàng sẽ gia trì cho chúng ta qua tất cả mọi hình thức giúp đỡ, và Thượng Ðế sẽ hoàn toàn lo lắng cho chúng ta trong mọi khía cạnh. Thí dụ, có lần tôi ở Trung Tâm Tây Hồ và không tìm được phương tiện giao thông để về nhà. Vì khi đó chân tôi chưa hoàn toàn bình phục, tôi đã nghĩ rằng tôi nên tìm một chiếc xe riêng. Ngay tức khắc, một sư huynh từ Ðào Viên tiến đến và ngỏ ý cho tôi quá giang về nhà. Sư huynh đó nói rằng anh vừa mua chiếc xe mới. Cùng buổi tối hôm đó, anh và vợ anh đã quyết định cho tôi chiếc xe cũ của họ. Tôi không có đủ ngôn từ để diễn tả sự ngạc nhiên và xúc động của tôi lúc đó, và lòng biết ơn của tôi đối với Thượng Ðế.

Làm việc cho Sư Phụ đã khiến cho tôi gia tăng sự khai ngộ, và giúp tôi nhận thức được rằng lòng tự tin và tánh khiêm nhường được chia cách bằng một lằn ranh rất mỏng. Sư Phụ đã dạy tôi cách buông bỏ và học những bài học từ mỗi một thử thách mà tôi thể nghiệm được. Ý tưởng được hưởng thụ niềm hạnh phúc trong những thay đổi dưới sự khuyến khích đầy tình thương của Sư Phụ khiến cho tôi cảm thấy được gia trì một cách tuyệt đối. Tôi nhận thấy rằng mỗi một giây khắc đều là chân thật nhất, hoàn hảo nhất, và tuyệt mỹ nhất trong cuộc đời tôi. Niềm hỷ lạc tối thượng này giữ cho tinh thần của tôi được mãi mãi trong sạch. Mặc dù sự thật là đôi khi chúng ta bị đè xuống do sức ép của những việc làm vất vả, thời gian giới hạn, những áp lực lớn và trách nhiệm nặng nề, Sư Phụ luôn luôn ở bên cạnh để đáp lời cầu nguyện của chúng ta, và bổ sung cho chúng ta với lực lượng gia trì vô tận của Ngài.

Từ Mẫu Thanh Hải thân yêu, con thật vô cùng biết ơn Ngài đã khuyến khích và giúp đỡ con trên đường đời. Nếu không nhờ Ngài và lực lượng của sự "Ðồng Nhất" bên trong con, có lẽ con đã chết từ lâu rồi! Chính là Tình Thương Vô Thượng của Ngài đã cứu rỗi tất cả.


Sư Phụ Kể Chuyện Vui [Top]

Thanh Hải Vô Thượng Sư kể tại Ðại Hàn,
Ngày 23 tháng 5, 2000 (Nguyên văn tiếng Anh)

Mất Ngủ

Một người nọ đi bác sĩ và nói rằng: "Không đêm nào tôi ngủ được bởi vì người hàng xóm lầu trên làm ồn quá. ồng làm tôi không ngủ được một chút nào cả." Bác sĩ nói: "ồ, không sao! Dễ mà! Tôi sẽ cho anh cái này, anh sẽ ngủ ngon." Hôm sau, người này lại đến gặp bác sĩ, than phiền nữa: "Tôi uống viên đó rồi mà vẫn không ngủ được." Bác sĩ thốt lên: "Trời ơi! Cái đó là đồ nhét lỗ tai mà!"

Bác Sĩ Tài Ba!

Bệnh nhân kia đến gặp một bác sĩ để khám bệnh, bác sĩ cho anh thuốc để uống bảy ngày. Người bệnh đó uống thuốc rồi chết. Cha mẹ anh ta tức giận quá, đến trách bác sĩ, bác sĩ hỏi lại: "Con trai ông uống thuốc được mấy ngày?" Họ trả lời: "Ba ngày!" Vị bác sĩ liền nói: "Thấy chưa, thấy chưa, tôi cho anh ta thuốc để uống bảy ngày mà anh chỉ uống có ba ngày. Vì vậy mới chết."

(Sư Phụ đã học nhiều ngôn ngữ và mỗi lần đều có những chuyện vui làm Sư Phụ buồn cười.)

Ở Lại Thêm Vài Ngày

Tiếng Ýł - Một tù nhân mới hết án tù và ra khỏi nhà giam. Người gác cửa nhà giam thấy anh đi ra liền hỏi: "Sao anh không ở lại thêm vài ngày nữa?"

Mời Anh Ði Trước

Tiếng Pháp - Người Pháp nổi tiếng là lịch sự. Một hôm, có một căn nhà bị cháy ở Pháp, hai người trong nhà bị cháy đen cả mặt. Khi chạy ra đến cửa, người thứ nhất nói với người thứ nhì: "Mời anh đi trước!"

Bình Tĩnh!

Tiếng Anh - Người Anh nổi tiếng là "bình tĩnh". Một người Anh kia đang tản bộ và thấy một người đàn bả nhảy xuống sông. Anh liền mở nón và nói: "Xin chào!" Lúc đó, một người đàn ông khác chạy đến khóc: "Ðó là vợ tôi!" Người Anh nói: "Hết rồi!"


Chương Trình Truyền Hình Thanh Hải Vô Thượng Sư

Khu Vực: Costa Rica
Ðài: TV Channel 19
Giờ: Thứ Tư từ 6:00 - 7:00 giờ tối
Ðề Tài: Phát Hình Các Băng Thâu Hình Của Sư Phụ

Muốn biết thời khóa biểu mới nhất của các chương trình Thanh Hải Vô Thượng Sư khác, xin hãy viếng:

http://www.spiritual-discovery.org/events/tv.htm


Nâng Cao Tâm Thức [Top]

"Nhìn Về Quá Khứ...
Bước Vào Tương Lai Sáng Lạng"
Những Diễn Biến Lịch Sử Hứa Hẹn
Một Chân Trời Tươi Sáng!

Một con tim đạo hạnh và thánh thiện đang đập nhịp nhàng nơi cảnh giới ta bà. Tình thương lan tràn theo mỗi nhịp con tim đến với mọi người, mọi vật. Ðó là con tim của Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư, một con tim đầy nhân từ bác ái.

Chúng tôi vô cùng sung sướng được chia xẻ với bạn đọc cuốn băng thâu hình mới nhất: "Nhìn Về Quá Khứ...Bước Vào Tương Lai Sáng Lạng!", được ấn hành để ra mắt khán giả trong Cuộc Hoằng Pháp á Châu và Ðại Dương Châu năm 2000 gần đây. Bộ băng thâu hình hai cuốn này là một tài liệu sưu tập đặc sắc về những việc làm của Sư Phụ trong 15 năm qua.

"Nhìn Về Quá Khứ... Bước Vào Tương Lai Sáng Lạng" gồm những hình ảnh chọn lọc về các hoạt động của Sư Phụ, được phát hành bằng tiếng Anh với một cuốn có phụ đề tiếng Trung Hoa và Âu Lạc, sẽ là một bổ sung tuyệt vời cho tủ sách phim ảnh gia đình, vì thân nhân bạn bè quý bạn cũng có thể thưởng thức cùng nhau, đồng thời họ sẽ được giới thiệu tới những giáo lý cao thượng, công việc từ thiện và những tài năng sáng tác tuyệt vời của Sư Phụ.

Sơ lượt một vài đoạn trong bộ băng thâu hình mới phát hành:

* Lời Chúc Tân Niên: Lời chúc năm 2000 của Sư Phụ tại Thái Lan cho thiên kỷ mới.

* Chuyến Hoằng Pháp: Chuyến hoằng pháp năm 1999 tại Âu Châu, Trung Ðông, Nam Phi Châu, và chuyến hoằng pháp thế giới năm 1993 - hãy chứng kiến hàng triệu người được pháp hỷ Sư Phụ gia trì khi theo dõi Ngài du hành trên khắp năm châu.

* Dạ hội Hollywood: Sư Phụ tham dự buổi Dạ Hội Từ Thiện Hollywood.

* Tin tức Truyền Thông: Các tin tức tường trình về Sư Phụ trong những năm qua.

* Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới: Ðoạn phim đặc biệt về buổi cầu nguyện của Sư Phụ tại Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới, cùng với những buổi phỏng vấn tại Nam Phi Châu.

* Công Tác Từ Thiện: Những hình ảnh cảm động về việc làm nhân đạo của Sư Phụ, chia xẻ tình thương và lòng nhân ái vô bờ bến của Ngài đến với mọi người thuộc mọi chủng tộc. Chứng kiến những công tác từ thiện vô vị kỷ của các hội viên đối với những người thiếu thốn trên thế giới.

* Buổi Hòa Nhạc gây quỹ: Những buổi hòa nhạc gây quỹ từ thiện tại Long Beach, CA, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và Hollywood nhân danh Sư Phụ kính yêu, nơi những thi phẩm của Ngài đã được những nhà soạn nhạc lừng danh phổ nhạc và được trình bày bởi các ca sĩ và nhạc sĩ tài ba.


Băng Thâu Âm Mới Nhất Của Thanh Hải Vô Thượng Sư

Băng Thâu Âm Sửa Chữa Lại Bằng Tiếng Trung Hoa

(Ấn Bản Về Chuyện)
CS6 (5 cuốn)
Sư Phụ Kể Chuyện Cổ Tích Dưới Gốc Xoài
Tây Hồ, Formosa Ngày 4 & 25 tháng 8, 1991
Phát Triển Ðức Hạnh Tốt Bằng Cách Ðọc Sách Ðạo Ðức Từ Thuở Nhỏ
Tây Hồ, Formosa Ngày 29 tháng 9, 1991
Công Chúa Kim Cương
Tây Hồ, Formosa Ngày 17 tháng 5, 1992
Quốc Vương Tsi-Li Nuôi Yaksas Bằng Máu Của Mình
Vua Ðại Phạm Thiên Hỏi Pháp (1) (2)
Tây Hồ, Formosa Ngày 20, 22, 26 tháng 5, 1992
Băng Thâu Âm Mới Nhất Bằng Tiếng Anh
E74 (4 cuốn)
Phương Cách Chấm Dứt Chiến Tranh
Thuyết pháp tại Edinburgh, Tô Cách Lan
Ngày 5 tháng 6, 1999
Tâm Linh Chiếu Sáng Trong Nghịch Cảnh
Thuyết Pháp tại Dublin, ái Nhĩ Lan
Ngày 7 tháng 6, 1999
Can Ðảm Ðối Diện Cuộc Ðời (1) (2)
Thuyết Pháp tại Luân Ðôn, Anh quốc
Ngày 9 tháng 6, 1999
Muốn thỉnh các ấn bản của Sư Phụ, xin liên lạc:
Công Ty Xuất Bản Hữu hạn Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư tại Ðài Bắc, Formosa
Ð.T.: (886) 2-87873935 / Fax: (886) 2-87870873
Email: wisdom@m2.dj.net.tw
Chương Mục Trả Tiền Bưu Ðiện Số: 19259438, nước Cộng Hòa Trung Hoa
Chương Mục Bưu Ðiện: Công Ty Xuất Bản Hữu Hạn Thanh Hải Vô Thượng Sư
Băng Thâu Âm Mới Nhất Của Thanh Hải Vô Thượng Sư
<tiếng Anh với phụ đề bằng tiếng Nhật>
240 Hướng Dẫn Thế Giới Vào Một Kỷ Nguyên Mới
Cộng tu tại Tây Hồ, Formosa
Ngày 1 tháng 4 - Ngày 8 tháng 5, 1992
260 Bí Ẩn Siêu Thế Giới
Thuyết pháp tại Liên Hiệp Quốc, New York, USA
Ngày 26 tháng 6, 1992
623 Nhận Biết Thượng Ðế Tánh Của Chính Mình (Phần 1 & 2)
Thuyết pháp tại Viện Ðaị Học California Tại Irvine, California, USA
Ngày 2 tháng 6, 1998
624 Nhận Biết Thượng Ðế Trong Tĩnh Lặng
Thuyết pháp tại Madrid, Tây Ban Nha
Ngày 5 tháng 5, 1999
646 Ðể Nhận Biết Thượng Ðế Phải Trở Thành Thượng Ðế
Thuyết pháp tại Rome, Ý Quốc
Ngày 22 tháng 5, 1999
658 Một Thế Giới... Hòa Bình Qua Âm Nhạc
Buổi hòa nhạc gây quĩ từ thiện tại thính đường Shrine,
Los Angeles, California, USA
Ngày 18 tháng 12, 1998
<tiếng Anh với phụ dề tiếng Pháp>
589 Sự Sạch Sẽ và Vẻ Ðẹp Phản Ảnh Thượng Ðế Tánh của Chúng ta
Cộng tu tại Los Angeles, California, USA
Ngày 20 tháng 7 và 31 tháng 8, 1997
594 Ðào Luyện Thói Quen Tốt
Thiền tứ Âu Châu tại Norwich, Anh Quốc, UK
Ngày 24 - 27 tháng 8, 1997
599 Tìm Ðược Chân Hạnh Phúc
Thiền Tứ Quốc Tế tại Bangkok, Thái Lan
Ngày 22 - 25 tháng 12, 1997
645 Nối Liền Chúng Ta Với Thượng Ðế
Thuyết pháp tại Lisbon, Bồ Ðào Nha
Ngày 7 tháng 5, 1999
650 Chúng Ta Hiện Diện Nơi Ðây Ðể Gia Trì Thế Giới
Thuyết pháp tại Moscow, Nga Sô
Ngày 13 tháng 5, 1999
<tiếng Anh với phụ đề tiếng Ðức>
260 Bí đn Siêu Thế Giới
Thuyết pháp tại Liên Hiệp quốc, New York, USA
Ngày 26 tháng 6, 1992
<tiếng Anh với phụ đề tiếng Tây Ban Nha>
260 Bí đn Siêu Thế Giới
Thuyết pháp tại Liên Hiệp quốc, New York, USA
Ngày 26 tháng 6, 1992
632 Sự Buông Bỏ Thật Sự
Thiền Tứ tại Trung Tâm Florida, USA
Ngày 13 - 16 tháng 2, 1999
<tiếng Anh với phụ đề tiếng Ðại Hàn>
449 Những Khía Cạnh Khác Nhau Của Thượng Ðế
Thuyết pháp tại Singapore
Ngày 27 tháng 9, 1994
542 Tâm Trí Chúng Ta Luôn Luôn Phải Vững Chãi
Cộng tu tại Bangkok, Thái Lan
Ngày 2 tháng 4, 1996
650 Chúng Ta Hiện Diện Nơi Ðây Ðể Gia Trì Thế Giới
Thuyết pháp tại Moscow, Nga Sô
Ngày 13 tháng 5, 1999
<tiếng Anh với phụ đề tiếng Trung Hoa>
642 Chỉ Tình Yêu Thánh Thiện Mới Là Tình Chân Thật
Thiền Tam tại Los Angeles, California, USA
Ngày 16 - 18 tháng 12, 1998
643 Tỏ Lộ Chân Lý Từ Bên Trong
Cộng tu tại Los Angeles, California, USA
Ngày 19 tháng 12, 1998
648 Phương Cách Chấm Dứt Chiến Tranh
Thuyết pháp tại Edinburgh, Tô Cách Lan
Ngày 5 tháng 6, 1999
649 Ðem Tình Thương Ðến Âu Châu
Thiền Tam Quốc Tế tại Norwich, Anh Quốc
Ngày 11 - 13 tháng 6, 1999
652 Bản Chất Chân Thật Của Chúng Ta
Thuyết pháp tại Budapest, Hung-gia-Lợi
Ngày 24 tháng 5, 1999
Ði Trên Ðường Tình Thương <với phụ đề
tiếng Mã Lai, Phi-Luật-Tân, Nhật Bản, và Ðại Hàn>


Hành Ðộng Tình Thương [Top]

Chi Phí Giúp Ðỡ Người Nghèo Tại Formosa tháng 3 và tháng 4, 2000 (Tiền NT)
Tháng 3, 2000 Tháng 4, 2000
Tỉnh Số Gia Ðình Số Tiền Số Gia Ðình Số Tiền Phụ Lục
Cơ Long 1 2,000 1 2,000 A
Ðài Bắc 10 25,000 9 23,000 B
Ðào Viên 2 4,000 1 2,000 C
Tân Trúc 1 3,000 1 3,000 D
Miaoli 3 9,000 2 6,000 E
Ðài Trung 6 12,000 8 17,000 F
Nam Ðầu 7 24,200 7 24,200 G
Gia Nghĩa 6 13,000 6 13,000 H
Ðài Nam 1 3,000 1 3,000 I
Cao Bình 3 7,000 3 7,000 J
Ðài Ðông 6 14,000 6 14,000 K
Bành Hồ 2 4,000 2 4,000 L
Tổng cộng trong tháng 48 $120,200 NT 47 $118,200 NT
Chi Phí Cho Sinh Hoạt Từ Thiện tại Formosa tháng 3 và tháng 4, 2000 (Tiền NT)
Tỉnh Ngày/Tháng Sinh Hoạt Số Tiền Phụ Lục
Chương Hóa 8/3/2000 Sách tu hành cho bệnh nhân bệnh viện Hsiu Chuan Memorial 3,880 1

Ðài Bắc 12/3/2000 Dịch vụ y-tế miễn phí tại hội chợ dành cho các nhà ngoại giao ngoại quốc được triệu tập bởi hội đồng quốc gia về Thể Thao và Sức Khỏe. 3,500 2

Ðài Nam 12/3/2000 Thăm nhà tù Ðài Nam, hội thảo tâm linh và dạy tù nhân thiền (sinh hoạt tình nguyện) 0

Ðài Nam 24/3/2000 Thăm Trung Tâm Giam Giữ Ðài Nam, hội thảo tâm linh và dạy tù nhân thiền. (sinh hoạt tình nguyện) 0

Gia Nghĩa 9/4/2000 Bán hàng thiện nguyện do Hội Phật Giáo Faa Shing Bao Lin tổ chức để quyên tiền cho Hội Giúp Gia Ðình làng Luku; tất cả số tiền kiếm được cho vào quỹ từ thiện. 4,044 3

Bình Ðông 9/4/2000 Triển lãm nghệ thuật và hội thảo chiếu phim Sư Phụ tại Trung Tâm Vân Hóa Quận Bình Ðông 66,403 4

Tổng Cộng: $77,827 NT
Tổng số tiền chi cho những sinh hoạt từ thiện và cứu trợ tại Formosa trong tháng 3 và tháng 4, 2000, tổng cộng 316.227$ (khoảng 10.200$ mỹ kim).

Ðính chánh: Trong Bản Tin số 109, số tiền chi tổng cộng trong tháng 10 cho sinh hoạt cứu trợ tại Fomosa từ tháng 10 tới tháng 12 năm 1999 phải là $106,400 NT thay vì $164,000. Chúng tôi xin cáo lỗi.

Biên Nhận Cho Sinh Hoạt Từ Thiện và Giúp Ðỡ Người Nghèo tại Formosa từ Tháng 3 - Tháng 4, 2000


Nâng Cao Tâm Thức [Top]

Sách Ðiện Tử Mới: Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:

Vấn Ðáp 2 (Xuất bản bằng tiếng Anh)

Xin thông báo Sách Mới Nhất của Thanh Hải Vô Thượng Sư: Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: Vấn Ðáp 2. Sách mới nhất của Sư Phụ được thực hiện trong một hình thức sáng tạo mới, gọi là "điện thư" (e-book), và hiện đang có sẵn để được tải xuống miễn phí.

Sách được chia làm 3 phần: Tập 1, Tập 2, và Tập 3 để giúp cho việc tải xuống được Nhanh Chóng và Dễ Dàng. Cuốn sách mới này là một bộ sưu tập các câu vấn đáp được phát hành trong những ấn bản trước của Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư hiện đã được sắp xếp theo đề tài và liệt kê theo mẫu tự. Hãy tìm câu trả lời cho các câu hỏi của quí vị một cách nhanh chóng và dễ dàng bằng cách bấm nút trên đề tài. Cuốn điện thư sẽ tức khắc đưa quý vị đến phần liệt kê câu trả lời của Sư Phụ cho câu hỏi của quý vị.

Cuốn điện thư đã được hoàn tất, chỉ cần tải xuống và chạy trên máy. Hãy ngồi dựa thoải mái và thưởng thức những câu trả lời của Sư Phụ cho hằng ngàn câu hỏi.

Món Quà phụ trội: Hãy lắng nghe phần phỏng vấn Sư Phụ của người điều khiển chương trình đối thoại truyền thanh tại Johannesburg và hãy là người đầu tiên được xem hai bức ảnh mới của Sư Phụ. Không cần phải có thêm dụng cụ gì để đọc phần bổ sung mới nhất này trong hình thức truyền thông báo chí đa dạng của Sư Phụ, cuốn "điện thư".

Cuốn Vấn Ðáp 2 hiện có sẵn để tải xuống tại:

http://www.godsdirectcontact.org/ebook/download/ (Hoa Kỳ)
http://www.godsdirectcontact.com/eBook/ (Hoa Kỳ)
http://www.godsimmediatecontact.net/ (Hoa Kỳ)
http://www.godsimmediatecontact.com/pdf/question-and-answer.html (Hoa Kỳ)
http://www.godsdirectcontact.org.tw/eng/ad/ebook/index.htm (Formosa)

Ngoài ra còn sẵn có tất cả trong một quyển sách được xếp hạng Bốn Sao Tại ZDNet:

http://hotfiles.zdnet.com/cgi-bin/texis/swlib/hotfiles/info.html?fcode=00182A


Nghệ Thuật Vô Thượng [Top]

Album Thiên Trang

Thanh Hải Vô Thượng Sư chưa từng học về khoa vẽ thời trang, nhưng Ngài đã dùng những nguyên tắc thiết kế vô cùng nguyên thủy, thám hiểm thế giới nghệ thuật một cách tự do. Qua những kiểu thời trang Thiên-Y S.M., Thanh Hải Vô Thượng Sư không những làm đẹp cho thế giới cuộc đời mà những sáng tác tuyệt trần này còn giúp mang xuống trần những thông điệp từ thiên đàng, chia xẻ với thế giới trần gian niềm cực lạc.

Ðây là một tập ảnh đẹp, đáng để đời, gồm có những hình ảnh quý giá của vị Thầy xinh đẹp chúng ta trong các kiểu Thiên Y do Ngài vẽ, cho thấy cách kết hợp quần áo trang phục theo đường lối mỹ thuật nhất. Phần chú thích bằng tiếng Anh và tiếng Trung Hoa giải thích và trình bày mỗi kiểu, được bổ túc bằng hình màu của từng mẫu vải cho người xem lấy làm quý hơn nữa những ý kiến siêu phàm và nghệ thuật thời trang của Sư Phụ.

Ðây không những là một sưu tập về mỹ thuật mà còn là cuốn sách tham khảo cho những người chuyên nghiệp thời trang " một quyển sách đáng quý và bất hủ. Công ty Thiên Trang S.M. kính mời quý bạn hãy xem cuốn sách "Trình Diễn Thiên-Y Trên Giấy".

Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc số điện thoại 886-2-87910860, Công Ty Thiên Trang S.M.


Nhà Hàng Chay Trên Thế Giới [Top]

* Costa Rica

Restaurante Chocolate Caliente
Ðịa chỉ: En San Pedro del Banco Nacional 100m Sur y 10m Oeste, Costa Rica

Giờ mở cửa: Thứ hai tới thứ sáu (9 giờ sáng - 5 giờ chiều), thứ bảy (10 giờ sáng - 8 giờ tối)

* Thái Lan

Merit Vegetarian Center
1503/1-2 Ðường Sukhumvit S0767-69. Phrakhanong Watt Ana Bangkok 10110 Thái Lan
Ðiện Thoại: (66) 3912161
Fax: (66) 3821870

Muốn biết thêm chi tiết về các nhà hàng chay trên thế giới, xin viếng mạng lưới:

http://www.godsdirectcontact.com/vegetarian/veg.html


Liên Lạc Viên Của Chúng Ta Trên Toàn Thế Giới [Top]

P.O. Box 9, Hsihu, Miaoli, Formosa, R.O.C.
P.O. Box 730247, San Jose, CA 95173-0247, Hoa Kỳ

***AFRICA***

Mauritius:
Port Louis Mr. Liang Dong Sheng 230-208-1758
smmaurice@email.com
Ms. Josiane Chan She Ping 230-242-0462
R.S.Africa:
Cape Town Mr. Christopher Luccarda 27-21-789-2033
1love@earthling.net
Durban Mr. & Mrs. Suresh Patel 27-31-262-5111
sureshp@intekom.co.za
East London Mr. Anthony Sabbagh 27-437-352575
sabbagh@iafrica.com
Johannesburg Mr.& Mrs. Chen Tai Lin 27-11-6404806
smch@global.co.za
Ms. Sonya Gusson 27-11-6229455
sonya_usa@hotmail.com
Pretoria Mr. Jozua Myers 27-12-5430420
fantastiko_7@yahoo.com
Togo: Togo Center 228-222864
smtogo@yahoo.com
Mr. David Chine 228-215551

***AMERICA***

Argentina:
Buenos Aires Ms. Hui-Ling Ling 54-11-4-951-8130
Ms. Mabel Alicia Kaplan 54-11-4-545-4640
mak@sminter.com.ar
Ms. Mabel Alicia Kaplan 54-11-4-545-4640
mak@sminter.com.ar
Mr. Norberto Bellino 54-11-4209-1493
Bolivia:
Trinidad Mr. Wu Chao Shien 591-4625964
Brazil:
Belem Mr. Wei Cheng Wu 55-91-223-9414
Recife Ms. Salma Casierra Alvarez 55-81-3262912
San Paulo Brazil Center 55-11-228-7029/884-3155
Liaison Office 55-11-227-4690/570-1180
brcenter@hotmail.com
Chile:
La Serena Mr. Esteban Zapata Guzman 56-51-295992
ezapata@entelchile.net
Santiago Santiago Center 56-2-6385901
chinghai@chilesat.net
Liaison Office 56-2-6389229
Colombia:
Bogota Mr. & Mrs. Jose Guzman Alons 57-1-2261245
Costa Rica:
San Jose Costa Rica Center 506-268-8666
juanbta@sol.racsa.co.cr
Ms. Laura Chen 506-220-0753
Honduras:
Tegucigalpa Ms. Edith Sagrario Ochoa 504-2250120
Mexico:
Guanajuato Mr. & Mrs. Jose Luis Sanchez Vargas 52-4-7436120
Mexicali Ms. Sylvia Lagrange 52-65-684575
quanyin@telnor.net
Mexico State Liaison Office 52-5-852-1256
tecenter@ragnatela.net.mx
Monterrey Mr. Roque Antonio Ledl Suffo 52-8-3778387
mtycenter@starmedia.com
Panama: Ms. Maritza E.R. de Leone 507-260-5021
mrleone@hotmail.com
Paraguay:
C.D. East Mr. Zhi-Lu Tsao 595-61-502034
jscmike@fnn.net
Peru:
Cusco Mr. Varovski Velarde 51-84-246256
varovski@mixmail.com
cuscocentro@yahoo.com
Lima Lima Center 51-1-4716472
lvalencia@terra.com.pe
Mr. Edgar Nadal &
Ms. Teresa de Nadal 51-1-4667737
Mr. Victor Carrera 51-1-2657429
Puno Ms. Mercedes Rodriguez 51-54-353039
Trujillo Mr. Luis Rebaza 51-44-260871
Salvador: Mr. & Mrs. Ming-Sen Lu 503-2746282
Trinidad Island: Mr. Ray Aliboucus 1-868-637-1054
alobocus@tstt.net.tt
Canada:
Edmonton Mr. Brian Hokanson 1-780-444-6568
Mr.Mrs. Dang Van Sang 1-780-963 5240
xdang@powersurfr.com
Kingston Mr. Quang Thanh Le 1-613-384-3295
London Ms. Wei Zhong 1-519-438-3702
wzhong2@julian.uwo.ca
Montreal Montreal Center 1-514- 277-4655
Ms. Euchariste Pierre 1-514-277-2717
Mr. Hung The Nguyen 1-514-494-7511
thehungnguyen@iprimus.ca
Mr. & Mrs. Nai-Chi Hsu 1-450-647-4871
Ottawa Mr. Le Lam 1-613-260-1698
lamle@sprint.ca
Mr. Armand Laplante 1-613-745-6050
Toronto Toronto Center 1-416-503-0515
Ms. Diep Hoa 1-905-897-0650
Mr. & Mrs. Lenh Van Pham 1-416-282-5297
hiepham@home.com
Vancouver Ms. Li-Hwa Liao 1-604-541-1530
jsung@aicompro.com
Ms. Sheila Coodin 1-604-739-6758 sheila@prismnet.bc.ca
Ms. Nguyen Thi Yen 1-604-581-7230
USA:
Arizona: Arizona Center 1-623-581-0725
ArizonaCtr@aol.com
Mr. & Mrs. Kenny Ngo 1-602-404-5341
Vegetarian House 1-602-264-3480
Arkansas: Mr. Robert Jeffreys 1-501-253-8287
arcenter@juno.com
California:
*Los Angeles Los Angeles Center 1-909-674-7814
Mr. & Mrs. Tsung-Liang Lin 1-626-914-4127
tllin54@hotmail.com
Mr. & Mrs. Dong Phung 1-626-284-9994
SanGabriel99@hotmail.com
Ms. Tena Polny Normandin 1-714-968-3359
qin-na.polny@mindspring.com
*Sacramento Mr. & Mrs. Hieu De Tu 1-916-682-9540
saccenter.ca@usa.com
*San Diego San Diego Center 1-619-280-7982
quanyinsd@juno.com
Mr. & Mrs. Tran Van Luu 1-619-475-9891
Mr. & Mrs. Tang Thi 1-619-268-8651
*San Francisco San Francisco Center KHOALUONG@aol.com
Mr. &Mrs. Khoa Dang Luong 1-415-753-2922
Mr.&Mrs. Dan Hoang 1-415-333-9119
sfcenter@hotmail.com
*San Jose Ms. Sophie Lapaire 1-650-988-6500
sophieandpam@earthlink.net
Mr. & Mrs. Edgar Shyuan 1-408-463-0297
Edgar-Teresa@worldnet.att.net
Mr. Loc Petrus 1-510-276-4631
petrusl@attglobal.net
Mr. Jim Su 1-408-253-8516
sumajim@aol.com
Colorado: Ms. Victoria Singson 1-303-986-1248
torahi@juno.com
Florida:
*Cape Coreal Mr. & Mrs. Thai Dinh Nguyen 1-941-458-2639
Ms. Trina L. Stokes 1-941-482-7542
tls77@ao1.com
*Orlando Mr. & Mrs. Tze-Chen Chen 1-407-321-8297
1-407-771-8895
tze-chen.chen@convergys.com
Georgia: Center/Bhiksuni Chan Mo 1-770-936-9926
GeorgiaCnt@aol.com
Mr. James Collins 1-770-934-2098
Kim Dung Thi Nguyen 1-404-292-7952
Hawaii: Hawaii Center 1-808-735-9180
hawaiictr@hotmail.com
Ms. Andrea Seu Chow Lee 1-808-599-4339
andreasmch@hotmail.com
Illinois: Mr. & Mrs. Julian L. Chen 1-630-416-3821
SMIllinois@aol.com
Indiana: Mr. & Mrs. Duc Vu 1-317-293-5303
duchanh@aol.com
Kentucky: Mr. & Mrs. Nguyen Minh Hung 1-502-695-7257
FNGUYEN@MAIL.STATE.KY.US
Massachusetts:
*Boston Boston Center 1-978-436-9982
shinemound@earthlink.net
Ms. Gan Mai-Ky 1-508-791-7316
Mr. & Mrs. Huan-Chung Li 1-978-957-7021
Ms. Cynthia A. Lombardo 1-508-388-4306
Maryland: Mr. Nguyen Van Hieu 1-301-933-5490
HughMDCenter@yahoo.com
Mr. Robert Ectman 1-301-972-5654
bce94@hotmail.com
Michigan: Susan Manturuk 1-616-588-6341
manturuk@torchlake.com
Minnesota: Ms. Quach Ngoc 1-612-722-7328
quach001@juno.com
Missouri:
*Jefferson Ms. Mary E. Steck 1-573-761-9969
MSteck5208@aol.com
*Rolla Mr. Genda Chen 1-573-368-2679
gchen@umr.edu
Nebraska: Ms. Celine Robertson 1-402-483-4067
ctrobert@yoda.unl.edu
Nevada:
*Las Vegas Ms. Helen Wong 1-702-242-5688
New Jersey: New Jersey Center 1-973-209-1651
c_newjersey@yahoo.com
Mr. & Mrs. Nghiem The Trung 1-609-667-3829
albert_nghiem@hotmail.com Mr. Chang-Sheng Chou 1-973-335-5336
JohnChou@ymlusa.com
New York: Mr. & Mrs. Zhihua Tung 1-718-837-4884
dong@phys.columbia.edu
*Rochester Ms. Debra Couch 1-716-256-3961
success@coachdebra.com
North Carolina: Mr. & Mrs. Huynh Thien Tan 1-704-599-6473
Ohio: Mr. & Mrs. Vu Van Phuong 1-513-887-8597
von@swoca.net
Mr.Gilbert Rivera 1-513-381-4554
wisdmeye@aol.com
Oklahoma: Mr. & Mrs. Tran Kim Lam 1-405-632-1598
LTRAN2292@aol.com
Oregon:
*Portland Ms.Vera Looijenga 1-503-234-1416
Mr. & Mrs. Minh Tran 1-503-614-0147
orcenter@hotmail.com
Mr. & Mrs. Alister Phuoc Minh Pham
1-503-642-1252
AlisterPhuocPham1@juno.com
Pennsylvania: Mr. & Mrs. Diep Tam Nguyen 1-610-626-5546
Diep.Ngu.PA@juno.com
Mr. Shi-Tao Yeh 1-610-640-0463
smchpa@juno.com
Texas:
*Austin Austin Center 1-512-396-3471
jwu1@austin.rr.com
Mr. Dean Duong Tran 1-512-989-6113
tranduongdean@yahoo.com
*Dallas Dallas Center 1-214-339-9004
DallasCenter@yahoo.com
DallasCenter@hotmail.com
Mr. Tim Mecha 1-972-395-0225 mechat@email.msn.com
Mr. Weidong Duan 1-214-528-9178
water96@yahoo.com
Mr. Jimmy Nguyen 1-972-946-3398
*Houston Houston Center 1-281-893-8300
Ms. Carolyn Adamson 1-713-6652659
caroltex@interserv.com
Mr. & Mrs. Charles Le Nguyen 1-281-370-3898
DNguyen376@aol.com
Mr. & Mrs.Wayne Cheng 1-281-8708081
joycheng@earthlink.net
*San Antonio Mr. Khoi Kim Le 1-210-558-6088
Virginia: Mr. David R. Craig 1-703-573-2760
justmeditate@hotmail.com
*Viginia Beach Mr. David Young 1-757-5872458
davidkyoung@hotmail.com
Washington:
*Seattle Mr. Ben Tran 1-425-643-3649
benptran007@hotmail.com
Mr. Edward Tan 1-206-228-8988
edtan@usa.com
Puerto Rico
Camuy Mrs.Disnalda Hernanadez Morales 1-787-262-1874
San Juan Ms. Shanti Ragyi 1-787-723-7138
shantiragyi@hotmail.com

***ASIA***

Burma: Mr. Sai San Aik 951-667427
Formosa:
Taipei Taipei Center 886-2-23757527
Mr.Chuan-Ping Yang 886-2-23756784
Mr.Chiu Min Fen 886-2-23890885
Miaoli Mr. & Mrs. Chen Tsan Gin 886-37-221618
Mr.Chu Chen Pei 886-37-724726
Kaohsiung Mr. & Mrs. Yao-Jong Chang 886-7-745-4062
Mr.Fei Lung Wu 886-8-7211692
Mr.Yuan Hua Wu 886-8-7562020
Hong Kong: Hong Kong Center 852-27495534
Liaison office 852-26378257
lovequanyin@yahoo.com
lovequanyin@hotmail.com
India:
Bombay Mr. Suneel Ramaney 91-22-282-0190
Calcutta Mr. Ashok Sinha 91-33-655-6741
Indonesia:
Jakarta Jakarta Center 62-21-6319066
smch-jkt@dnet.net.id
Mr. Tai Eng Chew 62-21-6319061
Ms. Lie Ik Chin 62-21-6510218
finance1@ueii.com
Ms. Murniati Kamarga 62-21-3840845
hai@cbn.net.id
Mr.I Ketut P.Swastika 62-21-7364470
Surabaya Mr. Rong-Tser Teng 62-31-5678962
smch-sby@idola.net.id
Japan:
Gunma Ms. Hiroko Ichiba 81-27-9961022
truelove@mth.biglobe.ne.jp
Kanagawaken Mr. Minh Phuong 81-462-680386
Kumamoto Ms. Mochinaga Eiko 81-96-346-2928
genesis@mb.infobears.ne.jp
Osaka Mr. Ryu Norithito 81-6-6782-9643
Tokyo Tokyo Center smjapan@livedoor.com
Ms. Yukiko Sugihara 81-3-3307-1644 cal13840@pop07.odn.ne.jp
Mr. Yoshie Takeda 81-90-3963-0755
Korea:
Seoul Seoul Center 82-2-5772158
quanyim@unitel.co.kr
Mr. Jong-Cheol Oh 82-2-575-5080
Mr. Kim Young-cheol 82-2-2298-1822
Mr. Yoo Tae In 82-2-795-3927
Mr. Jung Chang Yul 82-2-2203-8186
Pusan Pusan Center 82-51-581-9200
Mr. Lee Sang Sik 82-51-783-5399
Mr. Song Ho Joon 82-51-957-4552
Mr. Hwang Sang Won 82-51-805-7283
Mr. Lee Won Suk 82-51-894-6645
Chon Ju Chon Ju Center 82-652-274-7553
Mr. Ji-Hwan Lin 82-652-272-9087
Inchon Inchon Center 82-32-5795351
Mr. Yong-Je Baeg 82-32-888-0110
Taegu Taegu Center 82-53-743-4450
Mr. Kim Ik Hyeon 82-53-9572858
Mr. Ryoo Jin Ho 82-53-8568509
Mr. Chang Ik Hyun 82-53-7535264
Taejon Taijon Center 82-42-625-4801
Mr. Kim Soo Dong 82-42-2547309
Kwangju Kwangju Center 82-62-2329613
Ms. So-Yeon Kim 82-62-2325630
Cheju Island Cheju Center 82-64-99-6113
Andong Andong Center 82-751-821-3043
Mr. Kim Sam Tae 82-575-8734961
Youngdong Youngdong Center 82-582-5325821
houmri@unitel.co.kr
Chungok Chungok Center 82-573-6731399
chinghai@unitel.co.kr
Macau: Macau Center 853-532231
macau_center@email.com
Liaison Office 853-532995
Malaysia:
Alor Setar Mr. Chiao-Shui Yu 60-4-7877453
Johor Bahru Mr. & Mrs. Chi-Liang Chen 607-3516075
supreme2@tm.net.my
Kuala Lumpur Kuala Lumpur Center 60-3-9873904
klsmch@tm.net.my
Mr. Lau Woh Kwong 60-3-2213610
Ms. Mei-Huon Pan 60-12-2786098
Penang Penang Center 60-4-8279903
smchpg@tm.net.my
Mr. & Mrs. Lin Wah Soon 60-4-6420370
Mongolia:
Ulannbaatar Mrs. Luvsan Tsengel 976-1-344604
Baganuur Mr. & Mrs. Gursad Bayarsaikhan 976-31-21174
Nepal:
Kathmandu Kathmandu Center 977-1-282575
chinghai_kathmandu@hotmail.com
Mr. Ajay Shrestha 977-1-4735582
ajaystha@hotmail.com
Pokhara Pokhara Center 977-61-28144
world@comm.mos.com.np
Mr. Bishnu Neupane 977-61-21201
neupanabishnu@hotmail.com
Philippines: Manila Center 632-842-8828
manilach@hotmail.com
Singapore: Singapore Center 65-741-7001
chinghai@singnet.com.sg
Liaison office 65-846-9237
Sri Lanka:
Colombo Mrs. Suranganie Dayaratne 94-1-889884
ann@pan.lk
Thailand:
Bangkok Bangkok Center 662-682-0138~9
Ms. Laddawan Na Ranong 662-5914571
edasnlad@samsorn.stou.ac.th
Mr. Wu Peir Yuan 66-1-8248294
Chiang Mai Chiang Mai Center 66-53-217080
Ms. Siriwan Supatrchamnian 66-53-387126
Had Yai Had Yai Center 66-74-368329-30
(c/o155)
Khon Kaen Khon Kaen Center 66-43-261-878
Mr. Paisal Chuangcham 66-43-241718

***EUROPE***

Armenia: Mr. Armen Hovhannisyan 374-2-227303
armenrey@freenet.am
armenhovhannisyan@htotmail.com
Austria: Vienna Center 43-664-3909200
ChinghaiVienna@hotmail.com
Mr. & Mrs. Nguyen Van Dinh 43-2955-70535
Mr. Shih-Tsung Lu 43-2266-80399
sound@gmx.at
Belgium:
Brussels Mr. Hugo Berton 3216-405030
kim.luu@cfwb.be
Bulgaria
Mr. Ruslan Staykov 3592-575358
oldruslan @yahoo.com
Czech:
Prague Prague Center 42-02-90058578
prague_center@hotmail.com
Croatia: Mr.Zeljko Starcevic 385- 51- 251081
zeljko@mindless.com
Denmark: Liaison office 45-66-190459
Finland:
Helsinki Miss. Luong Hoang Hanh 358-9-8537455
fin_con_hhanh@artic.net
Ms. Anne Nystrom 358-9-793902
anne.nystrom@iobox.fi
France:
Paris Paris Center 33-1-4300-6282
ChingHai@illumination.claranet.fr
Ms. Lancelot Isabelle 33-1-4030-1174
newsfrance@claranet.fr
Vaires/Marne Ms. Ngo Thi Huong 33-1-424-31924
tngo@free.fr
Montpellier Mr. Nguyen Tich Hung 33-4-67413257
Ardeche Ms. Reynet Jeanine 33-4-75376232
Germany:
Berlin Berlin Center 49-30-3470-9262
Mr. Christian Bastwoeste 49-30-3470-9262
berlincenter@hotmail.com
pureocean@gmx.de
Duesseldorf Liaison office 49- 5232-68564
49-211-5144785
ngoc-thao.nguyen@gmx.de
dusseldorfcenter@hotmail.com
Hamburg Liaison office 49-581- 15491
Munchen Ms. Kang Cheng 49-89-3616347
Ms. Johanna Hoening 49-8170-997050
ChingHai@aol.com
Greece:
Athens Mr. Constantine Manos 30-61-278106
constantinem@hotmail.com
Holland:
Amsterdam Mr. Nguyen Ngoc Trung 31-294-41-9783
Vothuong5@cs.com
Mr. Marcel Mannaart 31-72-5070236
m.mannaart@planet.nl
Hungary:
Budapest Budapest Center 361-363-3896
heaven.bud@mail.matav.hu
Mr. Lux Tamas 36-309-611994
Ms. Dora Seres 36-1386-2741
Ireland:
Dublin Mr. & Mrs. Bernard Leech 353-1-6249050
Norway:
Oslo Mr. Nguyen Ngoc Tai 47-22-612939
tnguyen@c2i.net
Poland:
Szczecin Mrs. Grazyna Plocinizak 48-091-4874953
Warsaw Mrs. To Soszynska 48-22-6593897
mintra@polbox.com
minhtrang4@yahoo.com
Ms. Lukaszewska Mariola 48-42-6860037
Slovenia: Mr. Rastislav Alfonz Kovacic 386-63-814981
dbk@siol.net
Spain:
Madrid Madrid Center 34-91-5470366
Ms. Lidia Kong 34-91-6410275
Malaga Mr. Wang Ya-King 34-95-2351521
Valencia Mr. Xi-Chun Wang & Mrs. Xin-Lan Yang
34-96-3336208
Vegetarian House 34-96-3744361
Mr. Yu Xi-Qi 34-96-3715269
Sweden:
Angelholm Mrs. Luu Thi Dung 46-431-26151
Vivianne@Lyoosmail.com
Are Ms. Viveka Widlund 46-647-32097
widlund@hem.utfors.se
Malmo Mr. & Mrs. John Wu 46-40-973452
Stockholm Mr. Mats Gigard 46-8-882207
mats@sirfield.nu
Uppsala Ms. Premila Perera Ivarsson 46-18-302029
Premila-perera@pharmacog.uu.se
Switzerland:
Geneva Ms. Feng-Li Liu 41-22-7973789
Ms. Klein Ursula 41-22-3691550
United Kingdom:
England:
Chester Mrs. Janet Weuer 44-1782-414989
Glasgow MR. Robert Jackson 44-141-637-7255
Robert.Jackson@classicfm.net
London London Center 44-208-3742743
Liaison office 44-207-4731421
pnl@matters19.freeserve.co.uk
Surrey Mr. Hu Tchang Rong 44-1293-416698
Scotland:
Edinburgh Mrs. Annette Lillig 44-131-6660319
lillig@btinternet.com
Russia:
Moscow Mr. Rupasiri Perera 7-095-2424953
perera-rupasiri@mtu-net.ru

***OCEANIA***

Australia:
Adelaide Mr. Leon Liensavanh 618-83326192
Brisbane Brisbane Center 617-3374-3339
briscentre@hotmail.com
Mr. Gerry Bisshop 61-7-3847-1646
Mrs. Tieng Thi Minh Chau 617-37157230
ctieng@dme.qld.gov.au
Mr. & Mrs. Yun-Lung Chen 617-33442519
Canberra Mr. & Mrs. Khanh Huu Hoang 61-2-62591993
smcanbra@cyberone.com.au
Melbourne Liaison Office 61-3-93961877
Melbourne Center 61-3-98900320
Melbsmch@aol.com
Mrs. Rosemary Nagtegaal 61-3-9585-7871
Mr. Pham Van Bon 61-3-9470-4573
Mr. Alan Khor 61-3-9857-4239
Perth Perth Center 61-8-9242-1189
Mr. David Robert Brooks 61-8-9418-6125
daveb@iinet.net.au
Mr. Ly Van Tri 61-8-9244-7661
Sydney Sydney Center 61-2-9724-4997
Mr. Eino Laidsaar 61-2-9477-5459
einoforquanyinsydney@yahoo.com
Mr.& Mrs. Lam Anh Tuan 61-2-96044589
smsydney@bigpond.com
Mr. Hong Bo 61-2-97887588
hongbo_huang@hotmail.com
Tasmania Mr. Peter John Boatfield 61-3-62293878
New Zealand:
Auckland Ms. Sharllen Lee 649- 4839454
shale@ihug.co.nz
Ms. Amy Ma 649-4802839
Christchurch Mr. Michael Lin 64-3-3436918
chaomim@hotmail.com
Hamilton Ms. Pi-Yu Ha 64-7-8562368
jadeha22@hotmail.com
Tauranga Ms. Joy Daniels 64-7-5445268

Nếu không có liên lạc viên trong vùng, xin vui lòng liên lạc với liên lạc viên trong thành phố hoặc nơi quốc gia gần quý vị nhất.


Trên Mạng Lưới Quán Âm [Top]

http://www.Godsdirectcontact.org.tw (Formosa; tiếng Trung Hoa, tiếng Anh)
http://www.smchbooks.com/ (Formosa; tiếng Trung Hoa, tiệm sách SMCH)
http://www.Godsimmediatecontact.com (Tân Gia Ba; tiếng Anh)
http://www.GodsImmediateContact.co.kr (Ðại Hàn; tiếng Ðại Hàn)
http://www.Godsdirectcontact.co.kr (Ðại Hàn; tiếng Ðại Hàn)
http://www.GodsImmediateContact.org (Nhật Bản; tiếng Nhật)
http://www.Godsdirectkontak.org (Nam Dương; tiếng Nam Dương)
http://www.Spiritual-Discovery.org (Mỹ Quốc; tiếng Anh, tiếng Trung Hoa,
tiếng Ðại Hàn, tiếng Âu Lạc)
http://mason.gmu.edu/~lduan/Godsdirectcontact (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://members.tripod.com/~Godsdirectcontact/ (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.Godsdirectcontact.com (Mỹ Quốc; tiếng Tây Ban Nha,
tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Hoa)
http://www.spiritweb.org/Spirit/media.html?who=Suma%20Ching%20Hai (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.Godsimmediatecontact.net/ (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.godsimmediatecontact.net/aulac (Mỹ Quốc; tiếng Âu Lạc)
http://www.Godsimmediatecontact.org/video/ (Mỹ Quốc; có phát hình và phát thanh)
http://www.members.xoom.com/meditations/GodsDirectContact.html (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.GodsImmediateContact.tripod.com (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.contactDirectAvecDieu.org (Pháp Quốc; tiếng Pháp)
http://godsdirectcontact.rma.cz (Cộng Hòa Tiệp Khắc; tiếng Tiệp Khắc)
http://www.Godsdirectcontact.org (Gia Nã Ðại với âm thanh; tiếng Anh, tiếng Âu Lạc)
http://www.Direkter-Kontakt-mit-Gott.org (Ało Quốc; tiếng Ðức)
http://members.xoom.com/ifaybish/Godsdirectcontact.html (Bỉ Quốc; tiếng Anh)
http://ourworld.compuserve.com/homepages/quanyin (Anh Quốc; tiếng Anh)
http://www.extra.hu/kozvetlen_kapcsolat_Istennel (Hung Gia Lợi; tiếng Hung Gia Lợi)
http://Godsdirectcontact.bizland.com/ (Thụy Ðiển; tiếng Thụy Ðiển)
http://www.Godsdirectcontact.com/IhavecometotakeyouHome (tiếng Anh)
(Ðặt sách - I Have Come To Take You Home)
Ban báo chí: lovesrc@Godsdirectcontact.org