Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư
|
|
Sự cống hiến quan trọng nhất và cũng là khó làm nhất, đó là cống hiến cho người khác một bầu không khí nhẹ nhàng thanh tịnh. Thanh Hải Vô Thượng Sư Bản Tin 111 Tây Ban Nha, Thái và sẵn sàng cung ứng theo yêu cầu.
|
Tin Gia Nã ÐạiPhát Hình Băng Thuyết Pháp Của Sư Phụ
|
Hãy Cùng Nhau
|
Phương Pháp Trị Liệu Bằng Ánh Sáng Và Âm Thanh Trong Y KhoaDo Sư Huynh Shih-Hurng Loh, Ðài Bắc, Formosa Như chúng ta đã biết, Pháp Môn Quán Âm gồm có hai phần: Quán ánh Sáng và quán Âm Thanh. Theo giáo lý của Sư Phụ thân yêu và theo vô số những thể nghiệm từ các đồng tu, chúng ta đều biết rằng ánh Sáng và Âm Thanh nội tại không những giúp chúng ta phát triển về mặt tâm linh, mà còn duy trì sức khỏe cho cơ thể. Nhiều phương pháp trị liệu bằng ánh Sáng và Âm Thanh gần đây trong y học cũng đã cung cấp một bằng chứng tương đương, làm cho chúng ta vững tin hơn, rằng ngay cả ánh sáng và âm thanh vật chất bên ngoài còn có hiệu lực trong việc chữa lành thân thể, huống chi là ánh Sáng và Âm Thanh bên trong mà chúng ta đang thiền quán hàng ngày. Những thành quả tốt hữu hình cũng như vô hình của ánh Sáng và Âm Thanh nội tại được thể hiện trong đời sống nhiều người. Trong khi khoa học hiện đại đang tiến bộ, sự thật về "Pháp Môn Quán Âm trị được tất cả bệnh tật" sẽ càng ngày càng rõ rệt, và sự thật về việc hành thiền là một hình thức cao nhất trong khoa học sẽ càng ngày càng hiển nhiên hơn nữa. Phương Pháp Trị Liệu Bằng Ánh Sáng Cực Mạnh
|
Ý Nghĩa Thật của Thánh Ðường, Ðền Thờ,
|
Lợi Ích của Việc Cộng TuDo sư tỷ Rashida Harris, Seattle, Washington, Hoa Kỳ Một trong những khó khăn lớn nhất của tôi Cuối cùng, sau khi hành thiền thật nhiều và chịu khổ sở vì sự thiếu cương quyết và thiếu niềm tin, tôi đã quyết định đi gặp Sư Phụ. Ngài đã đáp lại lời cầu nguyện của tôi bằng cách cho phép tôi tham dự thiền bế quan quốc tế ở Anh. (Qua nhiều phép lạ, tôi đã được đi vào phút cuối). Lúc đó tôi không hiểu tại sao tôi cảm thấy một sự thúc giục mạnh mẽ bảo tôi đi dự thiền như thế, nhưng bây giờ tôi hiểu. Trong lúc ở đó, Sư Phụ ban rải cho tôi một tình thương bao la không sao kể xiết, đến nỗi tôi đã khóc như một đứa bé vừa mới được cứu thoát ra khỏi nanh vuốt quỷ thần. Tôi cảm thấy vô cùng an toàn, trong sạch, hạnh phúc, và hứa với Sư Phụ tôi sẽ đi cộng tu, bất chấp điều gì. Thông điệp của Sư Phụ ban cho tôi vô cùng rõ ràng, minh bạch, tràn ngập yêu thương, đến nỗi tôi không thể viện lý do nào được nữa. Sự không chịu đi cộng tu của tôi là một trong những bài học bên trong mà tôi cần phải học. Nhờ Tình Thương Thánh Thiện mà Sư Phụ ban cho mỗi chúng ta mà tôi đã học được bài học này một cách vô cùng tuyệt diệu. Ði cộng tu không còn là một sự cố gắng cực khổ nữa. Lái xe một trăm dặm cũng không còn là một gánh nặng. Bây giờ tôi đã nhận thức được rằng sự gia trì và phước báu có được qua những lần đi cộng tu thật đáng công lao. Sự chống cự như một hòn sỏi đè nghẻn tim tôi trước kia, nay đã được nhấc ra. Nhờ sự nhấc ra này mà nó không được phép to dần và trở thành cục đá. Cảm ơn Sư Phụ đã giúp cho con! Khi Sư Phụ bảo việc gì quan trọng chúng ta phải làm, tức là việc đó quan trọng. Ngài không nói chúng ta những gì mà không có ích cho chúng ta. Luôn luôn có sự gia trì trên bước đường tu học trưởng thành. Ngay cả bài học chúng ta phải học cũng là một sự gia trì, và sự gia trì này sẽ gia tăng gấp bội khi chúng ta tiến bộ hơn trong việc tu hành. Chúng ta vô cùng có phước được làm đệ tử của Vô Thượng Sư Thanh Hải. Ði cộng tu không những có ích cho chúng ta mà còn có ích cho các bạn đồng tu nữa. Ðối với những ai có cùng chướng ngại, tôi hy vọng bài viết này có thể giúp họ thêm hứng khởi, vượt qua. Hãy Tin!Sư huynh Wessel van Leeuwen, Cape Town, Nam Phi Châu Vợ chồng tôi mới từ Hemanus, Nam Phi, trở Sau đây là vài điều tôi được biết trong chuyến viếng thăm Camphill, tuy không có gì lạ đối với chúng ta, nhưng nó xác nhận một lần nữa những gì Sư Phụ thân yêu luôn luôn dạy dỗ. Rạng sáng, người phụ nữ coi sóc Camphill không có ở nhà khi chúng tôi đến thăm, nhưng cậu con trai trưởng, Marc (18 tuổi), của bà có mặt. Tôi hỏi cậu ấy đã có ai đến thăm Habonim không, thì cậu trả lời: "Có, nhưng không phải cùng loại người." Trí tò mò nổi dậy, tôi yêu cầu cậu giải thích câu nói trên. Ðây là những gì cậu ấy nói. Cậu nói rằng mặc dầu mẹ cậu biết có nhiều ngàn người đang tham dự Thiền Bế Quan ở đó, nhưng bà cảm thấy như không quá một trăm, bởi vì "các người" rất yên lặng, lịch sự, và tỏa ra một từ trường rất an lành. Ðêm cũng như ngày không nghe thấy tiếng la hét ồn ào. Cái thật sự đã làm cho Marc sững sốt khi trở về nhà đó là khung cảnh khu vực cắm trại sau khi Thiền Bế Quan chấm dứt! Nó rất gọn gàng, sạch sẽ và ngăn nắp. Chưa hết! Marc nói: "Bầu không khí nói chung... Làm sao tôi có thể giải thích được? Có thể nói là nó có một từ trường rất tốt, một cảm giác an lành, hòa bình và thanh tịnh... Tôi không biết diễn tả như thế nào. Rất là dễ chịu. Ðáng tiếc là bây giờ không còn được như thế nữa. Tôi chỉ muốn nói là trong khoảng sáu tuần lễ, chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc, yên tịnh và mãn túc. Mấy con chó của chúng tôi cũng hiền hơn và biết nghe lời hơn. Chúng tôi ngủ để cửa ra vào và cửa sổ mở toang, tôi cảm thấy rất an toàn, bảo đảm. Mấy tuần đó mẹ tôi đã không ăn một chút thịt nào và giảm hút thuốc ít nhất là một phần ba. Bà vẫn còn hút thuốc ít hơn, và chỉ lâu lâu mới ăn một chút thịt gà. Chúng tôi đều có đọc sách Sư Phụ; vâng, nó khác, rất là khác. Chúng tôi cảm thấy." Các bạn có tin câu chuyện này không? Tin! Không những nó có thật, mà nó còn cho thấy một cách rất rõ ràng những gì Sư Phụ kính yêu thường hay nói: "Chúng ta có thể thay đổi thế giới bằng hành thiền tập trung và chăm chỉ.
|
Cộng Tu Là Cho Toàn CầuThanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Laguna Beach, CA, Hoa Kỳ Mỗi đồng tu Quán Âm đều chia xẻ trách nhiệm làm sạch tinh cầu ở một mức độ nào đó.
|
Pháp Quán Âm Ðã Biến Ðổi TôiDo Sư Huynh Yang Guang, Trung Quốc Trước khi tu Pháp Môn Quán Âm, tôi đã bỏ hết tất cả năng lực để thỏa mãn cho bằng được những ham muốn của tôi về tiền tài danh vọng. Tôi nắm lấy mọi cơ hội có thể được để quảng cáo cho chính mình hoặc để được "nổi" hơn người khác. Dù chỉ là một lợi ích nhỏ trong công việc hay trong đời sống bên ngoài, tôi cũng cố gắng lấy lòng những người ở địa vị cao để được nổi bật và đem danh dự về cho tổ tiên dòng họ. Tuy nhiên, hành hạ đầu óc hàng ngày như thế để đeo đuổi sự thành công, đã trở thành một gánh nặng trong cuộc đời. Không những vậy, tôi lại còn ham phái nữ. Khi còn trẻ tôi đã thích nhìn gái đẹp và thường hay chìm đắm trong những chuyện tình tưởng tượng. Ðôi khi trí tưởng tượng của tôi trở thành ngông cuồng, điên dại và tôi không thể ngưng lại được. Tôi vẫn biết rằng điều đó là không tốt, và nó đã thành mối đe dọa đối với hạnh phúc gia đình. Nhưng tôi không thể bỏ được. Một lần tôi về thăm gia đình, cha mẹ tôi nói với tôi rằng có một vị Sư tên là Thanh Hải, dạy Pháp Môn Vô Thượng có thể giải thoát con người và mang họ lên quả vị Thánh Nhân. Ðiều này làm tôi phải ngạc nhiên. Qua ảnh hưởng của cha mẹ tôi từ thuở nhỏ, tôi có đọc một vài quyển kinh Phật Giáo và đã có tập các loại Khí Công. Nhưng tôi chưa hề nghe đến một pháp môn nào có cái tên "Vô Thượng", huống chi là một vị Thầy gọi là "Vô Thượng". Với kiến thức hẹp hòi, tôi đã đấu trí với cha mẹ tôi. Dù rằng không tin, không biết chắc chắn, nhưng tôi cũng tò mò và bắt đầu đọc quyển "Tức Khắc Khai Ngộ", vì tôi muốn biết Thanh Hải Vô Thượng Sư đã nói gì trong sách. Khi bắt đầu đọc, tôi không thể nào bỏ xuống, vì giáo lý của Ngài đã bắt đầu làm tôi ngộ ra trong rất nhiều khía cạnh. Sau cùng, tôi đã nhận thức được rằng dù cho địa vị có cao như thế nào, tiền bạc có nhiều bao nhiêu, sau khi chết chúng ta cũng chỉ còn một nắm xương tàn trong mộ. Sau một cuộc đời ngắn ngủi, chúng ta cũng không thật sự biết mình là ai, tại sao đến đây, và rồi sẽ về đâu. Chúng ta bỏ cả một cuộc đời và năng lực vào việc theo đuổi tiền tài, danh vọng hoặc để được "nổi" trên các đồng nghiệp, rồi cuối cùng, khám phá ra rằng chúng ta đã uổng phí cả một đời người cho những việc không tồn tại hoặc thậm chí không bao giờ hiện hữu. Thật sự, mục đích chính của cuộc đời là để tìm một con đường đưa đến sự vĩnh hằng, để thể nghiệm được thế giới của Chân Lý thánh thiện, và để được giải thoát. Giáo Lý của Thanh Hải Vô Thượng Sư đã làm cho tôi khai ngộ, trí huệ của Ngài đã làm cho tôi vững lòng tin, và tôi quyết định tu Pháp Quán Âm. Nhưng buổi đầu tôi đã do dự vì giới luật chỉ định rằng một người phải trường chay thì mới được thọ pháp. Tôi lo rằng việc ăn chay sẽ gây khó khăn cho tôi trong vấn đề giao thiệp với người khác, và làm cho tôi mất nhiều cơ hội có tiền và địa vị cao. Vì vậy quý bạn có thể tượng tượng là tôi phải phấn đấu như thế nào! Tuy nhiên, sự dằn vặc trong tôi ngày càng thuyên giảm. Sau cùng tôi đã quyết định ăn chay suốt đời và tu Pháp Quán Âm. Từ khi thọ Pháp Môn Quán Âm, tôi trở thành một con người hoàn toàn khác hẳn. Một nhân vật khao khát tiền tài danh lợi đã biến mất. Ước vọng quảng cáo chính mình và được vượt lên tất cả mọi người cũng không còn nữa. Tánh mê phái nữ của tôi cũng đã giảm thiểu rất nhiều, điều này đã làm cho hôn nhân của tôi bền vững và mang lại sự êm đềm, hạnh phúc trong gia đình. Mới đầu những đổi thay này đã làm cho tôi rất ngạc nhiên. Lực lượng nào đã biến đổi tôi như vậy? Những cải biến tính tình tuy đột ngột nhưng rất tự nhiên. Bây giờ tôi đã biết được rằng đó là nhờ lực lượng của Sư Phụ và Tình Thương của Thượng Ðế. Chỉ có qua việc tu Pháp Môn Quán Âm và câu thông với lực lượng vạn năng của Thượng Ðế, những tánh tình nhu nhược và những thói quen tật xấu của chúng ta mới có thể được cải biến một cách tốt đẹp. Quan trọng hơn nữa, Pháp Môn Quán Âm còn có thể giải thoát chúng ta ra khỏi vòng sanh tử, và cho chúng ta trí huệ tột cùng. Không cái gì - dù là danh vọng, giàu sang hay người khác phái - có thể thay thế được cảm giác mãn nguyện, hoan hỷ và niềm tĩnh lặng có được qua Pháp Thiền Quán Âm. Phần thưởng lớn nhất mà tôi có được trong đời là biết Thanh Hải Vô Thượng Sư và tu Pháp Quán Âm. Cuộc đời tôi bây giờ tràn đầy ý nghĩa, thay vì uổng phí. Có một thành ngữ nói rằng: "Ta có thể thay sông đổi núi, nhưng không thể thay đổi được lòng người." Nhưng tu Pháp Môn Quán Âm, chúng ta có thể cải biến được tính nết của mình. Hơn nữa, qua pháp môn này, chúng ta còn có thể đạt được khai ngộ, và giải thoát ra khỏi vòng sanh tử. Một kho tàng không bao giờ hết! Áo Giáp Thiêng LiêngNgười kể: Sư tỷ Xiao Chao, Ðài Trung, Formosa Sư Tỷ Xiao Chao năm nay 25 tuổi, nhưng đã lớn lên trong một gia đình thiếu tình thương. Năm lên 6 tuổi, cô tình cờ biết được cha cô đã ngoại tình. Gia đình đang đầm ấm bỗng trở nên rối loạn khổ đau khi những cuộc cãi vã giữa cha mẹ cô trở nên thường nhật. Anh chị cô cũng bắt đầu gây gỗ nhau. Ngay cả những bữa cơm gia đình cũng mang bầu không khí bất an vì không ai biết cha họ sẽ nổi nóng lúc nào. Suốt thời thơ ấu, Xiao Chao đã trải qua rất nhiều chuyện đau lòng đến nỗi nhiều lần cô đã có ý tưởng tự vận. Tuy nhiên, vào những giây phút khủng hoảng đó, cô cảm thấy có một năng lực vô hình giống như một tấm che từ trên trời bay xuống bao bọc cô, một linh hồn tuyệt vọng. Cô tò mò dùng mấy ngón tay nhỏ bé sờ thử và cảm thấy đó là một bức tường chắc nhưng trong suốt vây quanh. Tấm giáp âm thanh này bao chung quanh cô cho tới khi cô không buồn nữa. Tuy nhiên vì quá thiếu tình thương gia đình, những thái độ không tốt đối với mọi người và xã hội đã nẩy mần trong cô, và bắt đầu hiển lộ khi cô lớn lên. Khi lên trung học, cô bắt đầu tìm kiếm những khoái lạc trần gian qua thuốc lá, rượu, và hay gây lộn. Cô cũng trốn nhà đi. Khẩu hiệu của cô lúc bấy giờ là "Nếu tôi thích thì không có gì là tôi không dám làm." Quan niệm này làm cho cô càng can đảm thử qua đủ mọi điều cấm đoán, và không bao giờ nghĩ lại những gì mình đã làm. Bãi tha ma trở thành nơi lý tưởng vào đêm để cô hút thuốc và suy ngẫm. Ðể che đậy nỗi tuyệt vọng trong lòng, cô tuyên bố một cách giả tạo sự ương nghạnh không sợ hãi của mình: "Có gì đâu mà phải sợ? Ta chỉ có một cuộc đời. Lấy đi cũng chẳng sao!" Ngay cả lúc ở hồ tắm, cô cố leo lên chỗ cao nhất rồi lao đầu xuống nước để được nếm mùi tự vận. Cô không thể lấp đầy khoảng trống trong tim, và thường nghĩ đến vấn đề tự vận. Khi cô đi khám bệnh năm 21 tuổi, bác sĩ cho biết cô có rất nhiều bệnh, gồm bệnh sưng gan, chứng đau khớp xương và bệnh bạch cầu. Thế là Xiao Chao lại càng thêm tuyệt vọng. Một thời gian sau, khi một người đồng nghiệp giới thiệu cho cô Pháp Môn Quán Âm, cô lập tức tỏ thái độ khinh bỉ: "Mấy người này bộ điên rồi sao, còn trẻ như vậy mà đã ăn chay?" Cũng như những người bình thường khác, cô đã không nhìn thấu qua được "hình dáng bên ngoài" của Sư Phụ, và cũng không muốn che dấu thái độ chỉ trích vô lễ của mình. Tuy nhiên, không bao lâu sau cô đã bị lôi cuốn bởi từ trường vô tư, thanh tịnh và tự tại của các đồng tu mà cô đã gặp. Cô bắt đầu tìm hiểu về Chân lý, nghiên cứu giáo lý Sư Phụ qua những cuốn Bản Tin hàng tháng, băng thuyết pháp, và bộ sách Tức Khắc Khai Ngộ. Từ từ, những người chung quanh nhận thấy cô thay đổi; cô trở nên sáng và thanh nhã. Khi được hỏi về sự biến đổi này, Xiao Chao nói: "Tôi chưa bao giờ thấy một vị Minh Sư nào thành thật, thẳng thắn và tự nhiên như vậy. Ngài thật khác hẳn những vị Minh Sư khác. Tôi thấy mấy tôn phái khác chỉ muốn thay đổi vận mạng của tín đồ hoặc dạy người ta bái lạy, niệm bùa chú, đốt hương khói ngộp phòng, và làm nhiều nghi lễ mâu thuẫn và phi lý." Không lâu sau, cô thọ Tâm ấn. Lúc đó Xiao Chao mới tìm ra câu trả lời cho sự bí ẩn xưa kia, cái đã bảo hộ cô trong những giây phút đen tối của thời thơ ấu. Ðó là "dòng âm lưu" đã che chở cô. Ðó chính là Sư Phụ luôn luôn bảo hộ cô từ trước tới nay, ngay cả những khi cô lạc bước thật xa! Bây giờ, Xiao Chao mỗi ngày vui sướng hưởng thụ dòng âm lưu sưởi ấm linh hồn, xóa sạch dần dần những vết tích của một quá khứ không vui, và trong lòng tràn đầy thanh tịnh. Trước đó, đầu óc cô thường hay bị khó chịu bởi những tư tưởng xấu, nặng nề, đến nỗi cô muốn đi mổ óc cho xong. Bây giờ với thái độ bình tĩnh và vững chãi, cô nói: "Qua sự thiền định và giúp việc cho Trung Tâm, tôi trở nên nhạy cảm hơn. Tôi đã vô tình để cho những tư tưởng xấu của tôi trong quá khứ làm ô nhiễm bầu không khí chung quanh. Bây giờ, mỗi khi những tư tưởng này đến, tôi phải bỏ nó qua một bên thật lẹ, để không còn bị Ma Vương lường gạt". Cô cũng nhận thức rằng chăm chú vào chuyện tốt là một điều rất là cần thiết. "Chúng ta cần phải thận trọng hơn về thân, khẩu, ý của mình trong lúc làm việc. Luôn luôn tập trung. Khi đầu óc lường gạt chúng ta bằng cách đưa ra những ý tưởng như là 'Tôi mệt quá - nghỉ một chút cũng được', hoặc là 'Mấy hôm nay tôi ngủ không đủ', nó sẽ ảnh hưởng đến khuynh hướng và sự tham gia công việc của chúng ta. Chúng ta phải nhanh chóng phục hồi năng lực tâm linh, tập trung hết sức sống của mình để khởi đầu một nhiệm vụ khác, mà không bị quấy phá bởi Ma. Mỗi lần hoàn tất xong một công việc là chúng ta đã đạt được một thắng lợi to lớn đối với bản thân. Khi khả năng 'đề kháng' mạnh hơn, chúng ta sẽ vững vàng, cương quyết trước những thử thách mới. Chúng ta cũng có thể cười Ma mỗi khi nó cố lường gạt chúng ta với những ý tưởng như 'Tôi mệt quá', 'Sẽ có người khác làm thế ', hoặc 'Càng làm nhiều thì càng bị lỗi'. Thắng chính mình tức là đánh bại được Ma, bởi vì nó chỉ lẻn vào khi chúng ta yếu đuối. Tham gia vào công việc của Trung Tâm là nền tảng tiến bộ tâm linh trong chúng ta. Nếu muốn tiến bộ chúng ta không nên sợ cọ sát, mài dũa; càng được mài dũa, chúng ta sẽ càng chói sáng." Chưa đầy một năm sau khi thọ pháp, Xiao Chao đi khám sức khỏe lần nữa. Cơ thể cô không còn một dấu hiệu gì của triệu chứng đau nhức khớp xương như hồi trước; cô cũng không còn bị chứng đau buốt mà lúc đó các bác sĩ không tìm được nguyên do. Tình trạng dị ứng lúc trước thỉnh thoảng làm mắt cô sưng húp cũng biến mất sau khi cô trường chay. Và những cơn xuyễn thường suyển vì hút thuốc càng thêm trầm trọng khiến cô đã nhiều lần bị đưa vào bệnh viện cấp cứu, nay đã bớt hẳn. Thêm vào đó, từ lúc tu Pháp Phương Tiện, cô dần dần qua được bệnh nghiện thuốc lá và rượu. "Nhiều lần thèm thuốc lá quá làm tôi muốn nổi khùng. Cảm giác ngây ngất đó cứ len lỏi vào đầu tôi, làm tôi phải lén hút một điếu. Nhưng khi vừa mới hút vào một hơi, tôi thấy hối hận. Ma đã dùng những cảm giác ảo tưởng này để gạt tôi." Một thời gian sau khi thọ Tâm Ấm, Xiao Chao vẫn còn bị những cơn suyển hoành hành vào những buổi tối trước khi cô đi dự thiền bế quan. Cô phải ngồi suốt đêm dài trong tư thế bán kiết già vừa niệm Hồng Danh. Tuy vậy, cô tin tưởng mãnh liệt là cô sẽ vượt qua, vì cô tin chắc rằng Sư Phụ đang rửa nghiệp cho cô. Mặc dầu cô luôn đem theo thuốc đến nơi bế quan, nhưng khi bế quan vừa bắt đầu là cơn suyển của cô cũng hết. Sau một vài đợt rửa nghiệp, bệnh suyển của cô lành hẳn và không còn phải lệ thuộc vào thuốc men nữa. Cô đã nhận thức được một sự thật thần diệu, đó là Pháp Môn Quán Âm có thể trị mọi thứ bệnh. Bây giờ cô có một cái nhìn khác về thời thơ ấu kém may mắn của cô. "Nhìn lại thì tôi thấy rằng tất cả những kinh nghiệm bên ngoài này thật tình đã làm cho niềm tin của tôi trở nên vững vàng hơn trên con đường duy nhất đưa đến bờ giải thoát." Sống Lại Qua Bàn Tay Linh Diệu của Thượng Ðế Do đồng tu Phạm Thị Lan ở Warsaw, Ba Lan Khoảng hơn hai năm trước, tôi tưởng chừng Ðầu năm 1981, tôi vào bệnh viện cắt hai phần ba dạ dày vì dạ dày tôi bị loét quá nhiều. Không may tôi bị nhiễm trùng rất nặng và sinh mạng như "ngàn cân treo sợi tóc." Không hiểu vì sao tôi không chết, nhưng chỉ còn lại với tấm da bọc xương và dạ dày vẫn lở. Từ đó bệnh tình vẫn bám theo tôi dai dẳng. Tôi đã lang thang nhiều bệnh viện, tìm gặp nhiều bác sĩ Ðông, Tây Y và rất nhiều thầy lang nổi tiếng. Tôi đã uống hàng vạn viên thuốc đủ các loại và hàng ngàn thang thuốc bắc, song không một y sĩ hay thầy lang nào có thể chữa khỏi bệnh cho tôi. Vì thế, bản thân tôi và gia đình luôn sống trong sự nghèo khổ, lo âu và phiền não. Cuối năm 1992, tôi ra nước ngoài nhằm thay đổi môi trường sống với hy vọng may ra bệnh tình thuyên giảm. Song dù có thay đổi vị trí trên quả địa cầu, định mệnh vẫn là định mệnh. Nhiều đêm vợ chồng tôi không ngủ được vì những cơn đau đớn của tôi. Cơn bệnh dày vò làm tôi vật vả đến kiệt sức. Chồng tôi cũng cố gắng làm hết cách cho tôi đỡ đau, nhưng vô hiệu quả. Tôi nghĩ rằng tôi đã không làm tròn bổn phận của một người con, một người vợ và một người mẹ, còn nói chi có thể giúp ích cho đời. Nhiều đêm tôi cầu xin Trời Phật rủ lòng thương sớm cho tôi được trở về cùng cát bụi. Tôi đã đề nghị chồng tôi mua vé máy bay cho tôi trở về để được chết tại quê nhà. Nghĩa là lúc ấy tôi ở trong tâm trạng chới với của một người mỗi ngày một lún sâu xuống vực thẳm mà không ai có thể cứu nổi mình. Nhưng cũng vào thời điểm này, do sự tình cờ hay sự sắp đặt của Tạo hóa, tôi đã có được một Bản Tin và một cuốn khai thị của Sư Phụ mang tên "Tức Khắc Khai Ngộ, Hiện Ðời Giải Thoát." Cuốn sách như có một lực lượng vô hình cuốn hút tôi rất mạnh. Ngay sau khi đọc sách của Sư Phụ, trong cơn đau đớn tôi liền niệm danh hiệu của Ngài. Kỳ lạ thay, ngay lập tức tôi thấy có sự linh ứng tuyệt vời. Cơn đau đang vò xé tưởng chừng như có ai đâm hoặc xát muối vào những vết thương, hoặc có lúc như có người cầm ruột của tôi mà rút, nhưng chỉ cần tôi thầm niệm danh hiệu của Ngài và cầu nguyện thì cơn đau từ từ dịu xuống và nhẹ bỗng. Tôi nghe và cảm nhận được trong tôi có một sự chuyển động thần kỳ. Cứ như thế những ngày kế tiếp, hằng ngày hằng đêm, mỗi khi cơn đau trổi dậy là tôi niệm tên Ngài, và cơn đau từ từ biến mất. Cơ thể tôi là nơi thể nghiệm quá nhiều loại thuốc, nhưng tôi chưa từng thấy có thứ thuốc nào linh nghiệm dường này. Ðó là sự thật 100%. Chỉ cần tôi thật sự thành tâm niệm danh hiệu của Ngài thì ngay lập tức tôi nhận ra rằng tất cả những gì mà cả cuộc đời tôi hằng khao khát ước mơ mà tôi không tìm thấy được lại chính là ở nơi Ngài. Ngay từ khi còn rất trẻ, tức là ở tuổi thiếu thời, và khi bước chân vào đại học, tôi đã ước mơ có một người Thầy với tất cả sự toàn thiện toàn mỹ có thể dạy dỗ và giải đáp toàn bộ những câu hỏi của tôi trong cuộc sống. Nhưng tôi đã không thể nào tìm ra một người Thầy như tôi hằng mong ước. Giờ đây tôi đã tìm được vị Thầy nói lên tất cả những nguyện ước của lòng tôi. Hơn thế nữa, tôi còn cảm nhận được rằng linh hồn nhỏ bé đáng thương của tôi đã tìm được nơi dừng chân vĩnh cửu. Ðó là tấm lòng từ bi vô lượng của Ngài, là sự giải thoát mãi mãi cho linh hồn tôi khỏi nơi cõi trần chật hẹp. Như sóng gặp biển, như đứa con lạc Mẹ quá lâu ngày nay tìm lại được Mẹ hiền, lòng tôi sung sướng không sao tả xiết. Tôi đã làm những vần thơ nhỏ bé nói lên nỗi niềm hân hoan và những biến động trong tôi: Hồn con cả một vùng đất vắng Tôi đã thực sự tái sinh và sống lại hàng ngày qua những cuốn băng sách của Sư Phụ. Tôi nhớ lại những ngày trước đó nước mắt tôi dường như đã cạn vì khóc thương cho số phận mình. Giờ đây tôi mới hiểu rằng thì ra chỉ vì bức màn vô minh che phủ mà tôi phải sống trong khổ đau phiền não. Sư Phụ đã chỉ cho tôi ngọn nguồn của những khổ đau và làm cách nào để thoát ra khỏi chúng. Những lời chỉ dạy của Ngài hoàn toàn phù hợp với tâm linh của tôi mà trước đó tôi chưa từng được nghe ai nói qua về những vấn đề này. Sư Phụ nói rằng hầu hết những tai nạn, bệnh tật, chiến tranh, thiên tai đều do bầu không khí thù hận của việc sát sanh gây ra. Sư Phụ đánh thức tôi qua băng thu hình: "Vài ba miếng thịt trong tô phở thay bằng vài ba miếng tàu hủ có gì mà khó. Ăn chi xương máu của chúng sinh để rồi mai mốt vay nợ máu phải trả bằng máu. Mình không muốn ai lóc da xẻ thịt mình, thì tại sao mình lại đi lóc da xẻ thịt người ta mà mình biết rằng nó rất đau khổ chứ không phải không biết." Nghe tới đây , tôi ớn lạnh cả người và vô cùng ân hận vì mình đã gây quá nhiều tội ác với những con vật đáng thương. Tôi nghĩ tôi phải hành động gấp để chuộc lại lỗi lầm. Tôi quyết định ăn chay bằng bất cứ giá nào, và nguyện với lòng mình không bao giờ còn ăn thịt nữa. Từ khi ăn chay, thân tâm tôi dần dần thanh thản, mọi phiền não cũng từ từ rời khỏi. Trước khi tu Pháp Quán Âm, dù chưa ăn chay, tôi đã được Sư Phụ âm thầm chăm sóc. Trong nhiều giấc mơ của tôi (và cả con gái tôi nữa), Ngài đã đến chỉ dạy, an ủi vỗ về tôi bằng nhiều phương cách khác nhau. Có lần Ngài đã đến bên giường tôi nằm, vẽ cho tôi xem bức tranh có hồ nước và hoa sen nở. Những giây phút xem tranh và được ở bên Ngài tôi không bao giờ quên được. Tôi mơ thấy Ngài trong nhiều dáng vẻ khác nhau vô cùng dịu hiền và đẹp đẽ, Ngài xoa đầu tôi, nắm tay tôi và ôm tôi, ban cho tôi tình thương vô cùng ngọt ngào và đầm ấm. Sau khi tu hành Pháp Môn Quán Âm, cuộc đời tôi hoàn toàn đổi khác. Mọi xiềng xích trói buộc tôi vào cõi đời này đều như đã tan ra nát vụn. Tôi như người đã trút đi được gánh nặng ngàn cân. Sư Phụ chăm sóc gia đình tôi cả trong vô hình cũng như hữu hình, cả về tâm linh lẫn vật chất. Ngài lo cho gia đình tôi từ việc nhỏ đến việc lớn. Có những việc mà nếu không tu Pháp Môn Quán Âm thì chắc chúng tôi đã khó vượt qua. Những mong muốn hàng ngày của tôi đều được Ngài đáp ứng và dường như có một sự sắp xếp vô cùng kỳ diệu. Những điều này tôi chỉ có thể cảm nhận được mà không thể dùng bút viết ra. Những thể nghiệm bên ngoài nếu để tâm chú ý thì không sao kể hết. Còn những thể nghiệm bên trong thì các bạn đồng tu đều đã rõ, không ai có thể dùng bút viết thành lời. Có lần trong trạng thái nửa ngủ nửa nhập định của ca thiền, tôi thấy ở nơi mắt trí huệ hiện ra muôn vàn giọt sao nhỏ li ti chuyển động. Lúc đầu nó như một mặt sàng hay một tấm đan, sau chuyển thành hình phểu sâu hút kéo dài về phía xa vô tận. Ðó là cả hàng ngàn triệu ức tỉ những giọt sao lấp lánh. Tôi đã bay trong vòm trời đầy sao ấy với cảm xúc lâng lâng vô cùng dễ chịu. Trong một vài giấc mơ thường sau ca thiền buổi sáng, Sư Phụ đã dẫn tôi bay tới những vùng trời có cả trăng sao. Bên dưới tôi là cả một thế giới xanh tươi, tôi bay trong cảm giác vô cùng dễ chịu và sung sướng. Có một lần tôi mơ thấy chúng sinh vô hình đến quấy nhiễu làm tôi khổ sở kêu thét và ngủ không yên. Tôi cảm thấy nặng nề và khó chịu vô cùng, tôi khóc, nước mắt đầm đìa và trở dậy ngồi thiền. Thiền xong tôi thiếp đi, và một lần nữa Sư Phụ đưa tôi bay tới một nơi có những cây cổ thụ to lớn. Tôi không biết đó là nơi đâu. Sư Phụ ôm chặt tôi vào lòng và Ngài khóc thương tôi nhiều lắm. Tôi cũng ôm Ngài và khóc ròng, trong lúc ôm Ngài tôi đã thốt lên được câu nói từ đáy lòng: "Con thương Sư Phụ lắm." Lúc đó tôi còn cảm nhận được cả mùi thơm tinh khiết tỏa ra từ kim thân của Ngài, một mùi thơm đặc biệt không sao diễn tả. Tôi đã mở to mắt để nhìn Ngài cho rõ thì Ngài đã đi mất làm cho tôi bàng hoàng ngơ ngẩn. Tỉnh dậy, tôi vẫn đang trong tư thế ôm Ngài, và mùi thơm của Ngài vẫn còn phảng phất. Lúc đó tôi vẫn chưa tin rằng đó chỉ là giấc mơ. Một cảm giác yêu thương vô tận tràn ngập cả linh hồn và thể xác tôi, khi tôi ở bên Ngài. Dù rằng mới đang tập ngồi thiền, nhưng hàng ngày tôi vẫn được Sư Phụ từ bi đem đến cho tôi những niềm chân phúc lớn lao của Âm Thanh và ánh Sáng Thiên Ðàng. Dù tôi chỉ mới đặt chân vào ngưỡng cửa con đường Ðạo, nhưng tôi thật tình đã thấy choáng ngộp bởi sự hấp dẫn vô biên của khu rừng giàu có, đầy bí ẩn này. Những thú ham vật chất của thế gian, những sung sướng về địa vị hay tiền bạc giàu sang đều không thể nào so sánh với niềm phúc lạc mà pháp thiền Quán Âm đã mang lại. Nó nuôi dưỡng tâm linh tôi ngày càng an nhiên tự tại.
|
Bố Thí Chân ChínhThanh Hải Vô Thượng Sư Giảng tại Ðài Bắc, Formosa Nếu quý vị bố thí ai cái gì thì bố thí rồi quên đi. Ðừng bao giờ tiếc rẻ, bởi vì nếu cho rồi tiếc rẻ, quý vị sẽ không được gì cả. Quý vị mất cả tiền bạc, phước báu và uổng phí thời gian. Cho nên, tốt hơn hết là cho, rồi quên đi. Ðó là lý do tại sao Chúa Giê Su nói rằng: "Nếu cho người thứ gì tay trái thì đừng để tay phải biết." Ngoài ra, Ðức Phật còn dạy rằng bố thí mà giống như là không bố thí mới thật là bố thí. ý Ngài nói rằng khi quý vị bố thí, đừng có dính mắc vào chuyện bố thí đó. Bố thí giống như không bao giờ bố thí gì cả, giống như là chuyện đó chưa bao giờ xảy ra. Ðó là bố thí chân chính, bố thí mà không có sự chấp nhất. Nếu không, chúng ta vẫn còn nghĩ là mình vĩ đại, nếu cho ai cái gì. Chúng ta nghĩ là mình hay hơn người kia bởi vì chúng ta ở một chức vị có quyền năng, nếu chúng ta cho người đó. Vì vậy mà tôi thường dặn quý vị rằng bất kỳ làm điều gì, phải biết đó là làm cho chính quý vị, thật vậy, không phải là làm cho người nhận. Như vậy tốt hơn, vì nó có nghĩa là quý vị bố thí cho chính sự khôn lớn của mình trong khía cạnh từ bi, yêu thương, quảng đại. Những Gì Chúng Ta Có Là Ðể Phân Cho Người KhácThanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Ðài Bắc, Formosa Tôi không sinh ra đời với vàng bạc, cho nên sẽ không lìa đời với vàng bạc. Những gì tôi có là của quý vị, của thế giới, như là lấy ở chỗ này đem đi cho chỗ kia. Mỗi người trong chúng ta cũng tương tự như vậy. Chúng ta lấy nước dưới sông, đổ vào trong bồn, rồi bồn phân phối nước đi khắp cả làng hay khắp phố. Chúng ta nên sống ở đời giống như bồn nước. Những gì chúng ta có là để phân chia cho người khác. Chúng ta chỉ là người tiếp nhận. Do đó, tôi có thể có rất nhiều tiền, nhưng không bao giờ nghĩ là tôi có tiền. Cách này rất là thoải mái. Quý vị không lo lắng vì không nghĩ rằng đó là của mình, thành ra, dù nó có ở đó hay không có ở đó đi nữa cũng chẳng hề gì.
|
Băng Thâu Âm Mới Nhất Của Thanh Hải Vô Thượng SưE73 (6 Băng) Những Ấn Bản của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng SưÐể nâng cao tâm linh của chúng ta và tạo niềm hứng khởi trong cuộc sống thường nhật, một loạt đủ các loại sách của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được dịch ra bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau (xin xem danh mục phía dưới). Các ấn bản có sẵn tại các Trung Tâm địa phương hay tại trụ sở chính ở Formosa (P.O. Box 9, Tây Hồ, Miaoli, Formosa, Trung Hoa Dân Quốc). Ngoài ra còn có sưu tập rộng lớn gồm những bài thuyết giảng của Vô Thượng Sư Thanh Hải được thâu trên băng thâu âm và thâu hình, cũng như các bức chân dung đủ mọi kích thước của Ngài. Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư là một nguồn vô giá tràn đầy hứng khởi, và những tin tức đương thời, có sẵn trên mười thứ tiếng: Tiếng Anh, Trung Hoa, Thái, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ðại Hàn, Nam Dương, Nhật Bản và Âu Lạc. Cầm lên đọc một trong những quyển sách của Vô Thượng Sư trong một ngày bận bịu rất có thể mang lại nhiều lợi ích! Lời của Ngài là một sự nhắn nhủ rõ ràng về bản lai diện mục của chính chúng ta. Dù đọc những lời thuyết giảng mang đầy những dữ kiện về tâm linh (Bộ sách Tức Khắc Khai Ngộ), những áng thơ chứa chan lòng nhân từ bác ái (Giọt Lệ Âm Thầm), hay những chuyện ngụ ngôn tràn đầy thông điệp (Sư Phụ Kể Chuyện), tới những lời pháp cam lồ luôn luôn thể hiện. Một số đồng tu còn dùng các quyển sách chẳng hạn như cuốn Lời Pháp Cam Lồ để làm cẩm nang cho câu hỏi của mình, lật một trang ra, rồi áp dụng quan điểm của Vô Thượng Sư trong trang ấy cho tình trạng đương thời của họ. Quyển sách biếu "Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ" đã được phiên dịch ra khoảng 40 thứ tiếng và được phân phát rộng rãi. Hiện đang có sẵn những sách biếu bằng tiếng Anh, Trung Hoa, Âu Lạc, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Pháp, Ðức, Hòa Lan, ý, Hy Lạp, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ní, Crôxia, Tiệp, Slô-vác, Slô-vê-nia, Thụy Ðiển, Phần Lan, Na Uy, Nga, Yu-krê-nia, á Rập, Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, Zu-lu, Ðại Hàn, Nhật Bản, Thái, Nam Dương, Mông Cổ, Ấn Ðộ, Nê-pan, Băng-gan, Miến Ðiện, Cam-pu-chia, Phi Luật Tân và Tây Tạng. Muốn nhận các sách, băng thâu âm, thâu hình hoặc những thứ khác, xin liên lạc với Trung Tâm địa phương hoặc liên lạc viên. Khu vực triển lãm tại các kỳ thiền quốc tế cũng là một nơi rất tốt để duyệt qua lần đầu những sách, băng, hình ảnh, họa phẩm và trang sức của Vô Thượng Sư. Hơn nữa, nhiều số Bản Tin cũng thông tin về những sách và băng mới nhất. Tất cả các ấn bản đều được bán với giá gần bằng giá vốn. Nếu cần, quý vị có thể đặt mua trực tiếp từ trụ sở chính tại Formosa; những quyển mục lục tổng kê chi tiết về các ấn phẩm cũng sẽ được cung cấp nếu muốn. <Bằng Tiếng Anh>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Tây Ban Nha>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Bồ Ðào Nha>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Pháp>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Ba Lan>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Tiệp>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Thụy Ðiển>Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ: <Bằng Tiếng Ý Ðại Lợi, Nga,
|
Nhận Thức Sâu Sắc Về Tượng Nữ Thần Tự DoDo sư tỷ Wang Chi-chun, Ðài Bắc, Formosa Gần đây, tôi có đọc một bài viết về Tượng Nữ Thần Tự Do, lòng tôi chan chứa với bao tia hy vọng. Tượng Nữ Thần Tự Do là một tiêu biểu cho sự tự do, công bình và tình thương vũ trụ; tia sáng vô tận của nó xuyên qua bức màn đen tối của sự vô minh và tội lỗi để mang đến cho con người một đời sống mới. ý nghĩa tâm linh của nó nhắc nhở chúng ta về Sư Phụ và số đệ tử đang gia tăng tại Hoa Kỳ. Tôi tin chắc rằng dân chúng Hoa Kỳ, với bản tính tự tin và hay lý luận, sẽ ngày càng nhận ra trí huệ cao đẳng, tinh thần an hòa và bất khuất của Sư Phụ, giống như vị Nữ Thần Tự Do, đưa con người lạc lõng trong đại dương đen tối đến bờ vinh quang. Ðiêu khắc gia người Pháp, ông Frederic Auguste Bartholdi, đã mất 10 năm mới khắc xong tượng Nữ Thần Tự Do. Vẻ đẹp cổ điển của nó đã làm cho con người hồi tưởng lại đức tin thời cổ. Bảy tia trên vương miện của bức tượng tiêu biểu cho bảy đại dương và bảy châu trên thế giới. Ngọn đuốc cầm bên tay phải là ngọn hải đăng hướng dẫn tàu bè qua lại trong đêm, còn bài vị cầm bên tay trái mang hàng số (La Mã) "Ngày 4 tháng 7, 1776." Dày nát dưới chân bức tượng là xiềng xích của chế độ bạo ngược, cho thấy rất rõ ràng mọi gông cùm trói buộc tự do sẽ bị phá tan. Bức tượng, mới đầu mang tên là Tự Do Khai Sáng Thế Giới, là một món quà của nước Pháp tặng Hoa Kỳ để kỷ niệm trăm năm độc lập, và để tượng trưng cho tình hữu nghị lâu bền giữa dân chúng của miền đất nước. ý nghĩa cao đẹp đó đã làm cho bức tượng ngay từ lúc ban đầu mang vẻ thiêng liêng nhưng gần gũi đối với đa số mọi người. Nhiều người tôn bức tượng như Người Mẹ của những kẻ lưu vong, hay với ý nghĩa khác, là Người Mẹ của Hy Vọng cho những ai bị áp bức. Một nữ thi sĩ ở Nữu Ước, cô Emma Lazarus, đã viết tặng cho bức tượng một bài thơ 14 câu với nhan đề "Bức Tượng Vĩ Ðại Mới", cũng rất thích với hình ảnh của Sư Phụ. "Bức Tượng Vĩ Ðại Mới"Khác với tượng đồng khổng lồ danh tiếng bên Hy Lạp, Tâm hồn cao thượng và lòng nhẫn nại thể hiện trong bài thơ này đã cho tôi một hình ảnh rõ ràng về tinh thần của người Hoa Kỳ khi lập quốc, và làm thế nào mà lục địa mới này về sau trở thành một thiên đường lôi cuốn hàng triệu người di dân từ khắp nơi trên thế giới. Với tình thương thánh thiện và vô điều kiện, và với ý nguyện đại từ bi để độ tất cả những linh hồn đang đau khổ, Sư Phụ đúng là Vị Nữ Thần Tự Do sống!
|
Ðức Tin Vô GiáThanh Hải Vô Thượng Sư kể tại Tây Hồ, Formosa Tựa đề của câu chuyện này là "Guru Bhakti". Guru, tiếng Phạn, có nghĩa là Minh Sư, một vị Thầy khai ngộ. Bhakti có nghĩa là sùng bái, tuyệt đối nghe lời Minh Sư, chỉ nghĩ đến vị đó và cống hiến tất cả thân khẩu ý cho Ngài. Bất kỳ vị Thầy hay Minh Sư Khai Ngộ răn bảo gì, chúng ta chỉ một lòng nghe theo, không hề tranh cãi. Ðó được gọi là "Guru Bhakti" trong tiếng Phạn. Thuở xưa thật xưa, có một người thành tâm cầu đạo. Mỗi lần nghe nói có một vị Minh Sư vĩ đại nào đang thuyết pháp hoặc một người đạo đức nào đang giảng dạy, ông liền đến chỗ đó với vợ. Ông học được từ những giảng sư rằng một người phải được sự gia trì của một vị Minh Sư Khai Ngộ thì mới đạt được Chân Lý hay quả vị thánh nhân, và trở thành đồng nhất thể với Thượng Ðế. Nên ông bắt đầu đi tìm một vị Minh Sư toàn hảo. Ông đi đến nhiều nơi, gặp hết Minh Sư này đến Minh Sư khác, nhưng lúc nào cũng tìm thấy khuyết điểm làm họ không được toàn hảo theo con mắt của ông. Do đó, ông không thể nào tìm ra được một vị Chân Sư. Những Minh Sư đó không đủ tốt đối với ông bởi vì trong đầu ông có những quan niệm sai lầm. Ông đọc qua quá nhiều sách vở, bao gồm tất cả các kinh điển khiến cho ông vô cùng ngạo mạn, lúc nào cũng để ý tìm tòi những khuyết điểm nơi người khác. Chẳng hạn, ông không hài lòng khi thấy một Minh Sư rất khai ngộ nhưng lại mù chữ, không biết đọc và không biết nhiều về kinh sách. Vị Minh Sư nào không tranh luận nỗi với ông hay không biết một đoạn kinh nào được trích ra từ quyển kinh nào, đều bị ông bỏ. Vì vậy ông không thể tìm được một vị Minh Sư Khai Ngộ. Nếu như chúng ta vẫn còn thái độ phê bình, chỉ trích và tư tưởng ngạo mạn này thì chắc chắn không thể nào chúng ta tìm ra được Tự Tánh của mình. Cho dù một vị Minh Sư Ðắc Ðạo có đứng trước mắt đi nữa, chúng ta vẫn không trông thấy. Một hôm ở nhà, ông cảm thấy rất bực bội và chán nản, nghĩ rằng mình không còn hy vọng tìm ra được một vị Minh Sư đủ giỏi để xứng với lòng sùng bái của mình. Khi vợ ông đến an ủi thì ông trút hết tất cả nỗi băn khoăn trong lòng. Ông nói rằng vì chưa tìm ra được một Minh Sư có khả năng giải thoát cho ông, nên ông rất lo mình sẽ chết mà chưa khai ngộ. Nhờ có đầu óc đơn thuần hơn và không được học nhiều như vậy, vợ ông an ủi nói: "Tại sao mình không vào rừng rồi ngồi thiền? Mình sẽ cầu nguyện, niệm danh hiệu của các vị thánh và Thượng Ðế rồi xin Ngài gởi Minh Sư đến. Chúng ta sẽ tôn người đầu tiên Thượng Ðế gởi đến làm Minh Sư của chúng ta." Không nghĩ ra cách nào hay hơn nên người chồng đành đồng ý. Ngày hôm sau họ đi vào rừng rồi ngồi bên một con đường mòn cầu nguyện. Ðúng lúc đó, một tên cướp đang tẩu thoát với đồ đạc quý giá vừa cướp được đi ngang. Hai vợ chồng lập tức chạy đến lạy trước mặt ông, nài nỉ xin cho họ làm đệ tử. (Cười) Họ khẩn cầu ông ta dạy cho họ cách thiền và gia trì cho mấy câu thần chú. Ở Ấn Ðộ, các Minh Sư hay những người tu hành cao thường hay để râu dài, mặc áo cà sa rồi ngồi ở đó để mọi người lạy bái như là đệ tử của họ. Mặc dù người Ấn Ðộ rất quen thuộc với các câu thần chú như "Ôm Ma Ni Bát Mê Hồng" hay "Nam... Nam... Nam", nhưng Minh Sư vẫn gia trì cho những câu thần chú này vào giờ phút cống hiến, làm câu chú của họ được linh ứng kể từ ngày đó trở đi. Ðiều này được gọi là gia trì thần chú. Mặc dầu họ vẫn niệm cùng một câu chú, nhưng hình như nó linh nghiệm hơn sau khi họ trở thành đệ tử của một Minh Sư. Cho nên, nhiều Minh Sư ở Ấn Ðộ làm lễ này. Cặp vợ chồng ép buộc tên cướp làm thầy của họ, và như mọi người khác, họ cũng yêu cầu ông ta gia trì cho câu thần chú. Lúc đó, họ không biết ông ta là tên cướp. Không thể nào thoát khỏi hai người này, tên cướp vừa ngạc nhiên vừa sợ. Rồi hai vợ chồng kể cho ông nghe về sự thất bại của họ trong việc tìm kiếm một Minh Sư Khai Ngộ, nên họ nguyện ngồi trong rừng hôm đó và sẽ làm đệ tử của người đầu tiên bước chân đến. Họ giục tên cướp đừng bỏ chạy vì ông là Minh Sư của họ. Lời nói của họ động tới Thượng Ðế Tánh tiềm ẩn sâu trong lòng tên cướp. Ông ta cảm thấy không thể gạt họ, nhưng khi cố gắng tiết lộ danh tánh, con người thật của mình thì cặp vợ chồng chẳng thèm nghe. Nếu ông ta từ chối không nhận họ làm đệ tử và dạy cho họ các câu thần chú linh thiêng thì chắc chắn họ sẽ không để ông đi. Họ không cần biết ông ta là ai, mà tin chắc rằng người này là Minh Sư của họ. Lúc đầu, tên cướp hết sức cảm động, nhưng không lâu sau ông ta bắt đầu sợ và hồi hộp. Nếu họ cứ bám như vầy thì ông sẽ bị vô cùng rắc rối nếu cảnh sát bắt được. Trong cơn tuyệt vọng muốn bỏ thoát, ông ta hứa sẽ dạy họ và bảo họ quỳ xuống. Cặp vợ chồng quỳ xuống lạy trong một nghi thức trang nghiêm sùng kính. Sau đó ông ta dặn họ: "Bây giờ quý vị ngồi ở đây, lấy hai tay bịt tai lại, nhắm mắt rồi ngồi yên. Nếu cử động thì Thượng Ðế sẽ bỏ đi. Tiếp tục vị thế này và đừng đứng dậy nếu không có chỉ thị của ta. Thì quý vị chắc chắn sẽ thấy được Thượng Ðế." Ông ta ra lệnh cho hai người làm như vậy để có thể bỏ đi, vì hai tay họ nắm chặt hai chân của ông và từ chối không để ông đi. Cặp vợ chồng biết ơn ngồi yên, ngoan ngoãn để hai tay lên tai. Cả ngày lẫn đêm, họ ngồi yên chỗ đó không ăn uống gì cả. Họ không dám cử động hay mở mắt để nhìn xem thầy của mình còn đó hay không. Sau một hồi lâu, chân họ bị tê, thân thể bị đau, hai tay nhức nhối. Tuy nhiên, họ không có ý nghĩ gì khác ngoài lòng thành tâm muốn thấy được Thượng Ðế. Họ tiếp tục ngồi ở đó với tất cả tấm lòng thành. Thần Vishnu và Lakshmi vô cùng cảm động. Ðối với người Ấn Ðộ, Vishnu là một trong những vị Thần hiển linh. Theo nghĩa âm dương thì Vishnu là dương còn Lakshmi là âm, tiêu biểu cho tấm lòng của nữ phái. Vô cùng xúc động, Lakshmi bèn yêu cầu Vishnu hiện ra cho cặp vợ chồng thấy. Cảm động trước tấm lòng thành của họ và thấy họ vẫn ngồi thật lâu, mặc dầu đã bị lừa gạt, Thần Vishnu xuất hiện. Cặp vợ chồng mừng rỡ nhưng không dám mở mắt hay đứng dậy để cúng bái Ngài. Họ không dám làm gì cả vì thầy của họ bảo họ không được đứng dậy hay mở mắt nếu không có sự cho phép của ông. Thần Vishnu nói với họ: "Bây giờ hai người biết Ta đã đến, hai người có thể đứng lên và đừng khổ lụy nhiều nữa." Nhưng họ vẫn không dám đứng lên. Họ rất biết ơn Ngài đã đến thăm họ, nhưng không thể nào làm trái lại lời thầy để tuân theo lời của vị này. Thật xấu hổ! Tên cướp còn vĩ đại hơn cả Thượng Ðế. (Cười) Thần Vishnu không thể chịu nỗi cảnh hai người bị khổ, bèn đến cung điện và hiện ra cho nhà vua thấy trong mơ. Vào lúc đó thì tên cướp đã bị cảnh sát bắt bỏ vào nhà tù hoàng gia. Tội ông quá nghiêm trọng không thể nhốt trong nhà tù bình thường. Khi hiện ra cho nhà vua thấy trong giấc mơ, thần Vishnu chỉ thị nhà vua hãy thả tên cướp ngay lập tức. Tuy nhiên, nhà vua vì nghiệp chướng nặng nề và thường hay bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng, tưởng đó chỉ là một giấc mơ xấu khác nên không để ý tới vị này. Thần Vishnu một lần nữa đến trong giấc mơ nhà vua, nhưng nhà vua vẫn không hiểu. Chỉ khi nằm mơ lần thứ ba, ông mới nhận thấy chắc là có điều gì đó không hay. Trong khi ấy, Thần Vishnu cũng hiện ra trong giấc mơ của tên cướp và bảo hãy giải thoát cho cặp vợ chồng kia trong rừng ngay sau khi được phóng giam. Ngài bảo tên cướp là hai người vẫn còn ngồi bịt tai ở đó và nhiều ngày rồi mà vẫn chưa ăn một miếng gì hay uống một giọt nước nào cả. Họ sắp chết và Thượng Ðế không thể nào chịu nỗi. Khi nhà vua thả tên cướp ra sau giấc mơ lần thứ ba, tên cướp bèn chạy vội vào rừng như đã được dặn trong mơ. Ông ta ra lệnh cho cặp vợ chồng đứng dậy, mở mắt ra, và bỏ tay ra khỏi tai. Vừa làm xong, cặp vợ chồng liền tỏ lòng biết ơn sâu xa đến người "thầy" của họ, vì nhờ ân điển của người này mà Thượng Ðế đã hiện ra cho họ thấy. Nghe xong, tên cướp bèn kể cho họ nghe chuyện anh gặp Thượng Ðế trong mơ. Bỗng nhiên, họ nghe một giọng nói từ trên trời nói với họ: "Ta rất cảm động và sung sướng trước tấm lòng cống hiến tuyệt đối của nhà ngươi đối với thầy mà không hề có một dấu vết nghi ngờ nào cả. Ta hứa sẽ đến gặp ngươi một lần nữa. Kể từ nay trở đi, các ngươi sẽ tiếp tục niệm Hồng Danh, thờ Thượng Ðế và ngồi thiền hai tiếng rưỡi mỗi ngày. Ðừng quên ăn chay và giữ ngũ giới một cách chặt chẽ. Chắc chắn Ta sẽ đưa nhà ngươi đến bờ giải thoát sau khi chết." Kể từ hôm đó, tên cướp chuyển sang một chương khác của cuộc đời và cùng tu hành với cặp vợ chồng đó. Hay quá! (Vỗ tay) Có một lời bàn trong cuốn sách nói rằng: "Khi chúng ta thật sự tin tưởng vào một vị Minh Sư, cho dù người đó không phải là Minh Sư Khai Ngộ thật đi nữa, nó vẫn kiến hiệu. Tuy nhiên, nếu có một đức tin như vậy đối với một tên cướp thì chắc chắn có nghĩa là vị Minh Sư của chính mình đã đến, trí huệ của chúng ta đã mở và chúng ta không còn kỳ thị người khác nữa. Như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được kết quả, nhưng không phải vì Minh Sư hay vì pháp môn." Ðó là người Ấn Ðộ nghĩ như vậy. Nhưng đừng quên là Thần Vishnu này chỉ ở cảnh giới thứ hai mà thôi. Thấy được Thượng Ðế cao nhất không phải là chuyện dễ. Cho dù như vậy đi nữa, đối với một người bình thường, thấy được vị Thần của cảnh giới thứ hai ngay sau khi tôn một tên cướp làm thầy là một chuyện vô cùng phi thường! Lòng tin của quý vị nơi tôi đã làm cho tôi vô cùng cảm động, và tôi cũng sẽ cầu Thượng Ðế giúp đỡ quý vị. Quý vị chắc chắn sẽ được giải thoát sau khi chết. (Vỗ tay) Ðiểm chính yếu là quý vị nên thiền tinh tấn và có lòng tin vững chắc, quên tôi là một con người, thì quý vị chắc chắn sẽ có thành quả tu hành. Khi quý vị thực sự có đức tin và lòng sùng kính vào một Minh Sư thì ngay Thượng Ðế cũng đến. Khi ngồi thiền, quý vị sẽ thấy được Hào Quang rực rỡ và nghe được âm nhạc thiên đàng. Quý vị sẽ có nhiều sự linh ứng. Ðiều này cho thấy có đức tin là đủ; không cần biết Minh Sư tốt hay không. Tôi tốt hay không thì khi chết quý vị sẽ biết.
|
Người Duy Nhất Của TôiDo sư tỷ đồng tu Thế giới của tôi, một kịch trường vĩ đại,
|
Lúc Mẹ Tôi Qua ÐờiDo sư tỷ Tsai Ming-e, Ðài Bắc, Formosa Mẹ tôi mắc bệnh ung thư gan một thời gian khá lâu vào tháng Giêng 1999, khi đó bà bị Từ thời kỳ đầu trong căn bệnh của mẹ tôi, chúng tôi đã không dám cầu Sư Phụ giữ bà ở lại thế giới này. Chúng tôi không muốn kéo dài sự đau khổ của bà, mà chỉ cầu Sư Phụ làm những gì tốt nhất cho mẹ chúng tôi. Sau khi bà nhập viện, những thân nhân trong gia đình nghe thấy Hồng Danh vang vọng trong đầu. Trong khi chúng tôi ngồi thiền phía ngoài phòng hồi sinh, âm vang của Hồng Danh chan hòa không gian, bao bọc tất cả chúng tôi. Hành lang sáng hào quang, trong khi đó Hồng Danh lay chuyển tôi tới tận cùng xương tủy. Các anh chị em của tôi cũng cho biết họ có những thể nghiệm bên trong rất tốt. Sau đó, khi mẹ chúng tôi được dời từ phòng hồi sinh đến khu vực dành cho người bệnh bình thường, chúng tôi nghĩ rằng bà sắp trút hơi thở cuối cùng. Khuôn mặt bà xạm lại và đôi mắt phồng lên. Bà quả là một con người gan lì với ý chí mạnh mẽ, trước những chịu đựng khổ đau như vậy. Không chịu nỗi cảnh bà đau khổ, chúng tôi mật niệm Hồng Danh. Một lúc sau, tôi cảm thấy ngây dại, nhưng vẫn còn nghe tiếng Hồng Danh âm vang trong phòng vừa cao vừa thấp. Tôi cũng nghe được (trong vô hình) tiếng chuông và tiếng khánh. Lúc 11 giờ tối, một trong những người anh lớn, vì thấy mọi người buồn bã, bèn kể chúng tôi nghe rằng anh vừa mới lên thiên đàng với mẹ, một nơi có những kiến trúc sáng ngời và đẹp. Một sư huynh đồng tu đã đến để thiền cùng với chúng tôi, anh cũng tiết lộ rằng anh thấy Sư Phụ đang đưa mẹ tôi lên thiên đàng, chỉ để lại sợi giây nối liền với thân thể của bà. Ðây có lẽ là vì bà hãy còn lo lắng cho ba tôi đang ở nhà lúc đó. Ngày hôm sau, bác sĩ bảo rằng mẹ tôi có thể ra đi vào bất cứ lúc nào. Mắt bà hơi hé, dường như đang chờ đợi một cái gì. Cho đến lúc nhận thấy cơ thể của bà hoàn toàn không tiếp nhận được "nước biển" nữa, chúng tôi nghĩ bà muốn rời bệnh viện về nhà. Chúng tôi đem bà về rồi quây quần xung quanh tụng kinh tán Phật. Sau đó bà ra đi một cách bình yên như rơi vào giấc điệp, một giấc ngủ êm đềm. Thậm chí trông bà đẹp hơn bao giờ hết. Trong nhiều ngày sau đó, tôi cảm thấy được gia trì rất nhiều. Sức chú ý của tôi tập trung trên mắt trí huệ, trong lúc tiếng kinh tán Phật vẫn vang vọng trong đầu, và năng lực từ phía bên phải của tôi trở nên to lớn. Ôi Sư Phụ! Ngài thật đúng là "biển tình thương", là "suối mát cuộc đời" như Ngài đã hát. Lúc đầu, chúng tôi tưởng mình có thể giúp "gia trì" cho mẹ để bà thoát khỏi khổ đau và đừng lưu luyến chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã lầm. Khi lực gia trì của Sư Phụ thật mạnh, thì chúng tôi là người được gia trì và thăng hoa. Khi còn trẻ, mẹ tôi đã từng muốn xuất gia. Bà đã làm một tấm gương sống cho chúng tôi noi theo trong những ngày còn sống cũng như đã chết, và qua tấm lòng can đảm của bà, bỏ thân xác này để được sinh vào một thế giới khác bên kia. Bà cũng cho chúng tôi thấy rằng lực lượng yêu thương của Sư Phụ là bao la, vô tận. Ngay cả trong giờ phút ra đi, mẹ tôi vẫn tiếp tục giúp đem lại cho chúng tôi thật nhiều phước báu. Sáu ngày sau khi chết, mẹ tôi được hỏa táng và để lại hài cốt màu sắc giữa đám tro, nhắc nhở chúng tôi tới ánh sáng rực rỡ của thiên đàng. Chúng tôi chia hài cốt của mẹ cho mọi người trong gia đình để mang về. Hai ngày sau khi những người bà con của tôi tại Ðài Bắc đã xem hài cốt, phần di hài của tôi đổi thành màu kem. Khi cô em gái tôi trở về Mã Lai hơn 10 ngày sau, cô đưa cho chồng con xem di hài của mẹ tôi và nói họ biết rằng Sư Phụ đã đưa mẹ về Quê ở Thiên Ðàng. Hài cốt chỉ đổi màu hai ngày sau khi được gia đình cô xem. Ba người con chưa thọ Tâm Ấn của chị tôi (bây giờ đã thọ Tâm Ấn) không cầm lòng nỗi, reo lên: "Mẹ ơi! Pháp Môn Quán Âm này hay quá!" Trong năm qua, di hài của mẹ tôi đã trở nên to hơn trước. Sự hiện hữu của nó không quan trọng vì chúng tôi tin Sư Phụ đã đưa mẹ tôi qua khỏi vòng tam giới, nhưng tôi nghĩ bà đã cố tình để chúng lại cho hơn 20 người vừa con vừa cháu đã thọ pháp để làm một bằng chứng cho con đường Ðạo, và làm nguồn khích lệ cho chúng tôi tiếp tục tu hành tiến bộ. Sự qua đời của mẹ tôi cũng cho tôi một thể nghiệm gia trì khác từ Sư Phụ. Trong lúc ở bệnh viện, tôi có than phiền với người anh cả: "Anh ở đây để coi mẹ! Tại sao lại đi ngắm cửa hàng ngoài kia?" Ðây cũng là một thói xấu của tôi: phê bình người khác. Người chị lớn lập tức chận tôi lại. Vào sáng hôm sau, trong khi đang nhìn cặp mắt hé của mẹ tôi, tôi đã sám hối Sư Phụ trong lòng. Bỗng nhiên tim tôi đau nhói, cảm thấy một lực rất mạnh lay chuyển tôi hết lần này đến lần khác ở bên phía tai bên phải và toàn thân. Lời nói chạy qua trong đầu tôi, câu này sang câu khác: Cô thương mẹ nhiều như thế nào? Cô có quyền gì mà phê bình người khác? Cô là đồng tu. Cô có Sư Phụ để dựa vào. Còn anh cả của cô dựa vào ai? Cô khinh ông, nhưng ông cũng là con của mẹ cô kia mà! Mẹ là người duy nhất hoàn toàn thương yêu và chấp nhận ông. Sau khi mẹ chết, ai sẽ thương ông vô điều kiện? Ông là người độc nhất trong gia đình chưa thọ Tâm Ấn. Ông đã rán hết sức để cộng tác với cô rồi. Ai hiểu được nỗi đau của ông? Ðây là hóa thân của Sư Phụ đang dạy dỗ tôi! Tôi cảm thấy chấn động lực rất mạnh và một năng lực hùng hậu. Nước mắt tôi tuôn trào! Khi anh cả vừa mới bước vào phòng, tôi liền đến ôm anh xin lỗi! ồ, Sư Phụ, tình thương mạnh mẽ của Ngài đã làm tôi thức tỉnh! Mặc dù đôi khi tôi vẫn còn hay bực tức đối với người khác, nhưng bây giờ mỗi khi nhớ đến thể nghiệm ấy, tôi liền bình tĩnh lại. Như Chúa Giê Su đã nói: "Ðừng phê bình người khác." Chỉ có tình thương bao la của Sư Phụ mới có thể làm tan biến tất cả mọi trở ngại, và làm thức tỉnh được một người đệ tử cứng đầu và lười biếng như tôi. Tôi thọ Tâm Ấn chín năm về trước. Mặc dầu thời gian đầu tôi tu hành không được tinh tấn cho lắm, không có thể nghiệm ánh sáng lẫn âm thanh, nhưng Sư Phụ không bao giờ bỏ tôi. Ngài tiếp tục tìm cách nâng tôi lên. Trong năm đầu từ ngày mẹ chết, tôi thay đổi rất nhiều. Bây giờ tôi thấy rằng những chuyện coi như là bực mình, thất bại ở đời chính là những cơ hội cho tôi cải thiện về phương diện tâm linh. Trong năm qua, sau khi ổn định cuộc sống, các thể nghiệm trong tôi đã cho thấy một cách rõ rệt là quyền năng vĩ đại của Sư Phụ đang chăm sóc đời tôi. Tôi chỉ còn biết cám ơn - không gì khác ngoài sự biết ơn. Xin cám ơn Sư Phụ đã cho tôi những phước báu lớn lao như vậy! Nếu không có các thể nghiệm cá nhân này, những câu chuyện do người khác kể thường có vẻ quá xa vời đối với tôi. Bây giờ những câu chuyện trong cuốn Bản Tin thường hay làm tôi cảm động, bởi vì tôi biết nó là có thật, qua kinh nghiệm riêng tôi. Nếu Cần Giúp,
|
Trên Ðường Tu Học Với Cha Mẹ Tôi!Do Tun Xin Bấy giờ là mùa hái trà. Tôi theo cha tôi lên đồn điền của gia đình trên núi để cùng hái trà. Tới giờ trưa, một nữ nhân công nghĩ tôi không đem cơm theo nên có ý muốn chia phần cơm chay của cô cho tôi. Thật ra, tôi có đem cơm. Vì cô không phải là người ăn chay hoàn toàn, nên cha tôi không đợi tôi trả lời, một cách hãnh diện nói rằng: "ồ! Nó không nhận thức ăn của cô đâu! Nó ăn chay còn kỹ hơn cô nữa!" Tôi bật cười, nhớ lại hồi đó tôi và chị tôi đã phải làm cách mạng với gia đình, khi hai chúng tôi muốn ăn chay, tu hành. Thế mà bây giờ, cha mẹ tôi đã thay đổi hoàn toàn như vậy. Mặc dầu họ vẫn chưa muốn tu hành, thậm chí đôi khi vẫn còn thốt ra những lời khinh miệt để chọc tức chúng tôi, nhưng tôi có thể cảm nhận được tình thương bao la của họ. Những sự hiểu lầm của họ trước kia cũng chỉ vì thái độ của chúng tôi lúc đó hãy còn quá cứng, một điều mà chúng tôi cần phải xem xét, kiểm thảo chính mình. Mỗi lần chúng tôi về nhà ăn Tết hay để chung vui vào những ngày lễ khác, cha mẹ chúng tôi thường hay tỏ vẻ lo lắng cho chúng tôi không đủ dinh dưỡng, và đã đề nghị đặt mua thật nhiều món chay cho cả nhà ăn. Khi chúng tôi tận tình nấu một vài món chay giản dị cho họ, họ luôn luôn ăn một cách ngon lành và còn nhắc nhở chúng tôi đừng ăn những món chay đã bị chế biến quá nhiều. Mẹ tôi đặc biệt đáng yêu; mặc dầu chúng tôi không bao giờ ép ai ăn chay, nhưng bà luôn ăn chay với chúng tôi trong những ngày chúng tôi ở lại nhà. Chúng tôi thường kể cho bà nghe những mẫu chuyện vui tươi, ấm áp về cuộc sống trong nhóm chúng tôi, và cách chúng tôi làm để gia tăng vẻ đẹp của Trung Tâm. Tôi có thể cảm nhận được trong bà một sự thay đổi nhẹ nhàng. Mẹ tôi bây giờ bắt đầu lưu tâm nhiều hơn đến nghệ thuật sống và thẩm mỹ. Bà dành thời giờ để trồng hoa, trồng cỏ quanh nhà, tạo nên một bầu không khí tươi vui chào đón. Bà cũng để dành những trái cây to, ngon ngọt cho người nào mang quà đến cho bà. Có khi chúng tôi nửa đùa nửa thật nói bà hãy ăn chay giống như chúng tôi, bà mỉm cười thơ ngây. Thấy cha mẹ hết lòng hy sinh cho chúng tôi, những người con yêu của họ, mà không đòi hỏi đền đáp, tôi tự hỏi lòng mình: "Trên đường tu học tôi cũng có thể làm như vậy được không, có thể cống hiến và hy sinh như vậy?" Ðịa vị, danh vọng, tiền tài, và những vật chất thế gian " tôi không thể đền đáp ơn nghĩa cha mẹ bằng những thứ này. Tôi chỉ có thể thúc giục mình thật thành tâm trong việc tu hành, và lợi dụng thân thể con người quý báu này để phục vụ cho đại chúng, đó cũng là một cách mở rộng tấm lòng hy sinh của cha mẹ tôi sang người khác.
|
Lời của Thanh Hải Vô Thượng Sư Luôn luôn, lúc nào cũng phải chú ý; nếu không thì rất dễ dàng để một ngày trôi qua, hai ngày trôi qua, ba ngày trôi qua, cả cuộc đời trôi qua trong ảo ảnh, trong các thói quen tật xấu mà không lên được cảnh giới cao hơn, không hiểu được ý nghĩa thâm sâu của đời sống tu hành. Nếu chúng ta thật sự thành thật trong lòng và muốn cải biến hoặc huấn luyện mình nhạy cảm hơn đối với những đau khổ và hạnh phúc của kẻ khác cũng như đối với sự trong sạch và hạnh phúc của chính mình, thì chúng ta phải luôn luôn thận trọng.
|
Ðồng Tu và Ma ÐóiDo sư huynh Low Chip Khoon, Tân Gia Ba Một đồng tu nọ bị một con ma đói bắt. Con ma muốn ăn thịt ông. Vị đồng tu không phản đối gì cả, chỉ nói: "Xin cho phép tôi được nhớ tới Thượng Ðế trước khi ngươi ăn thịt tôi, Vì tôi đã nói với Thượng Ðế là trước khi chết, tôi muốn được tưởng nhớ tới Ngài." Rồi ông ngồi xuống; những kỷ niệm về Sư Phụ tràn ngập trong đầu: Những giờ phút vui tươi bên Sư Phụ Những lúc cùng với anh em đồng tu, Thời gian làm việc cho Sư Phụ. Ông cũng nhớ lại những điều tốt đẹp mà Thượng Ðế từ bi đã ban cho ông: Một cuộc sống đơn giản, Một con tim nhân hậu, Một tình thương đơn thuần, trong sạch mà ông cảm thấy những lúc tràn đầy hỷ lạc, Sự hiền hòa, thương mến của Thiên Nhiên. Ông nhớ hết tất cả những chuyện này, và tâm hồn ông được bình an. "Tôi hài lòng rồi. Nhưng ông ngạc nhiên thấy mắt của con ma đang ưá lệ. Hình như nó có quyền thuật thấy được lòng người, Và nó đã cảm động trước những gì nó thấy. "Hãy đi đi, với phước lành của tôi," "Cám ơn đã nhắc nhở tôi đến Thượng Ðế..." con ma nói xong biến mất, Tất cả chúng sinh đều có cái tốt bên trong.
|
Kính Gởi Ðộc Giả Bản Tin, Trong những năm vừa qua, chúng tôi đã được danh dự chia xẻ Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư với quý vị. Thức ăn tâm linh quý giá này mà quý vị nhận được qua ân điển của Sư Phụ chúng tôi không những nuôi dưỡng khía cạnh tâm linh của cuộc đời, mà còn giúp nâng cao tâm thức của toàn thể hành tinh. Chúng tôi đang cập nhật hóa các hồ sơ, để cần xác nhận xem quý vị có muốn tiếp tục nhận cuốn Bản Tin vào những ngày sắp tới, và xin chân thành yêu cầu quý vị điền vào mẫu đơn dưới đây. Xin vui lòng sửa đổi lại tên họ hay địa chỉ nếu cần thiết. Quý vị có thể gởi lại mẫu đơn qua điện thư, fax, hay thư từ thông thường đến Trung Tâm địa phương hay đến: Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư Nếu chúng tôi không nhận được thư trả lời vào hạn cuối ngày 30 tháng 7, 2000, tên của quý vị sẽ được lấy ra khỏi danh sách gởi thư của chúng tôi. Chúng tôi xin cảm tạ sự cộng tác của quý vị trong công việc này. <Mẫu Thẩm Vấn>Tôi muốn tiếp tục nhận Bản Tin bằng Bưu Ðiện. Ðã Tâm Ấn (ngày thọ Tâm Ấn: / / ) * Xin vui lòng gởi lại nhãn hiệu trên phong bì khi chúng tôi gởi Bản Tin cho qúy vị, hoặc điền vào nhãn hiệu theo mẫu dưới đây để việc sửa đổi được dễ dàng hơn. Tên: _________________________________________________________________________ *** Nếu quý vị muốn đặt cuốn Bản Tin qua hình thức điện tử và nhận Bản Tin qua điện thư (e-mail), xin vui lòng ghi danh tại một trong những địa điểm mạng lưới sau đây: http://www.Godsdirectcontact.org.tw/ch/service/service.htm (Tiếng Trung Hoa)
|
http://www.Godsdirectcontact.org.tw (Formosa; tiếng Trung Hoa, tiếng Anh) http://mason.gmu.edu/~lduan/Godsdirectcontact (Mỹ Quốc; tiếng Anh) http://www.spiritweb.org/Spirit/media.html?who=Suma%20Ching%20Hai (Mỹ Quốc; tiếng Anh) Trên Mạng Lưới Quán ÂmÐịa Chỉ Trên Mạng Lưới về Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư: Bản Tin tiếng Trung Hoa 111:
|
- Câu chuyện sống - tại Florida, sau buổi ăn tối cùng nhau Luôn Luôn Chia XẻMột cặp vợ chồng già nọ đi vào nhà hàng gọi thức ăn: Một ly cô ca cô la và một phần khoai tây chiên. Ông già ngồi xuống còn bà vợ thì ngồi đối diện, rồi ông bắt đầu chia cô ca cô la ra làm hai ly, một nửa cho mình còn nửa kia cho vợ. Ông chia cả gói khoai ra làm hai. Ông đưa một nửa cho bà vợ còn giữ nửa kia cho mình. Rồi ông bắt đầu ăn và uống, còn bà vợ thì chỉ uống chứ không ăn. Có một người thanh niên trẻ tuổi đang đứng cạnh bàn không hiểu sao cái gì ông già cũng chia ra làm hai, nên nghĩ có lẽ họ không đủ tiền. Anh bèn hỏi cặp vợ chồng già: "Cháu có thể mua cho hai bác thêm một phần nữa; hai bác không cần phải chia ra như vậy." Ông già mới giải thích: "Không, không, không, chúng tôi lấy nhau bốn mươi năm rồi, cái gì chúng tôi cũng luôn luôn chia xẻ cho nhau. Có cái gì chúng tôi cũng chia hai. Ðừng bận tâm, cám ơn anh lắm." Nhưng một lát sau, anh chàng thanh niên thấy bà vợ không ăn mà chỉ có ông già ăn, nên hỏi: "Tại sao bác không ăn?" Bà vợ đáp: "Hôm nay tới phiên ổng dùng bộ răng giả." Lửa Cháy Trong Bếp TôiCó một người nhà đang cháy. Ông ta hốt hoảng, gọi sở cứu hỏa gấp: "Khẩn cấp, khẩn cấp, làm ơn lẹ lên, lửa cháy, lửa cháy! Ðến lẹ lên, dập lửa!" Viên trưởng ty cứu hỏa hỏi ông: "Nhưng lửa cháy ở đâu? Lửa bắt cháy chỗ nào?" Ông đáp: "Trong nhà tôi, khẩn cấp lắm! Ở trong nhà tôi! Hãy đến lẹ lên!" "Vâng, tôi biết nó ở trong nhà ông. Nhưng ở đâu?" Ông trả lời: "Trong bếp tôi!" Viên trưởng ty cứu hỏa không còn kiên nhẫn được nữa, liền nói: "Nghe đây, tôi biết rồi! Nhưng làm sao tôi đến nhà ông đây? Ông có hiểu tôi nói không? Làm sao tôi đến nhà ông?" Ông kia nói : "Bộ ông không có xe sao?" Thiếu Một CáiTàu Titanic số 2 đang chìm, đang chìm, chìm rất nhanh; ông thuyền trưởng hỏi: "Ở đây có ai biết cầu nguyện không?" Có người đáp: "Tôi biết." Thế là ông thuyền trưởng bảo: "Vậy anh quỳ xuống đó, cầu nguyện cho tất cả chúng tôi; mọi người khác hãy đeo phao cấp cứu vào!" Trên tàu thiếu một cái phao.
|
Nhàn VuiDo sư tỷ Sheng Lihong, Tân Gia Ba Xa xa, bụi tre vui xào xạc,
|
P.O. Box 9, Hsihu, Miaoli, Formosa, R.O.C. ***AFRICA***R.S.Africa: ***AMERICA***Argentina: ***ASIA***Burma: Mr. Sai San Aik 951-667427 ***EUROPE***Armenia: Mr. Armen Hovhannisyan 374-2-227303 ***OCEANIA***Australia: quốc gia gần quý vị nhất.
|
Tờ "Thẩm Mỹ", Gia Nã Ðại "Mẹ Việt Nam", Hoa Kỳ Vị Nữ Lưu của Thế KỷNgười Âu Lạc được thế giới biết đến qua cuộc chiến tranh Ðiện Biên Phủ và cuộc chiến tranh 1965-1975. Nhất là sau khi miền Nam thất thủ, hàng triệu người Âu Lạc đã rời đất mẹ, tỵ nạn khắp nơi trên hoàn cầu. Việc bỏ nước ra đi vĩ đại này đã gây chấn động trên thế giới. Sau khi ổn định cuộc sống, người Việt tại hải ngoại là một cộng đồng gây nhiều thiện cảm và được sự mến phục của các quốc gia nơi họ định cư như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Pháp, Ðức, Úc, Nhật, Anh, ý, v.v... Cộng đồng người Âu Lạc hải ngoại liên tiếp làm rạng danh và mang lại vinh dự nơi xứ sở họ đang cư ngụ qua các thành quả khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, v.v.... Ðặc biệt có một vị phụ nữ bôn ba, hiện diện khắp nơi trên hoàn cầu. Nơi nào có khổ đau, có thiên tai, có đói khát thì có sự góp mặt của vị nữ lưu này. Vị này mang tình thương yêu đến để an ủi, vỗ về, đã vô cùng đại lượng cứu trợ các trại tỵ nạn Âu Lạc, nạn nhân thiên tai bão lụt ở quê nhà, ở Cam Bốt, Thái Lan, Phi Luật Tân và khắp năm châu bốn bể. Vị nữ lưu danh tiếng từ thiện này chính là Thanh Hải Vô Thượng Sư. Ngoài nước Âu Lạc, nơi Thanh Hải Vô Thượng Sư sinh trưởng, và Hoa Kỳ, nơi Ngài từng sinh hoạt, Thanh Hải Vô Thượng Sư còn được nhiều quốc gia khác trên thế giới biết đến. Thanh Hải Vô Thượng Sư là một nhà từ thiện và nhà nghệ thuật lừng danh. Tình thương và sự giúp đỡ của Ngài vượt trên mọi biên giới về văn hóa và chủng tộc để đến cùng hàng triệu người trên thế giới. Lòng nhân ái là bản chất đặc thù của người phụ nữ này và Hội Từ Thiện Quốc Tế được thành lập theo gương Ngài. Thanh Hải Vô Thượng Sư sinh quán tại miền Trung Âu Lạc. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã giúp đỡ bệnh nhân tại bệnh viện, nơi địa phương Ngài cư ngụ và săn sóc cho những người nghèo khó. Khi trưởng thành, Ngài xuất dương du học tại Âu Châu, tiếp tục làm việc tình nguyện tại đây trong khả năng y tá và thông dịch viên cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Hầu như nơi nào trên địa cầu có đau thương và thống khổ, nơi đó có Thanh Hải Vô Thượng Sư. Các sáng tác về hội họa, âm nhạc, thi ca, thiết kế trang sức và y phục của Ngài đều nổi tiếng, cũng như phản ảnh văn hóa những quốc gia dân tộc mà Ngài đã đi qua và tiếp xúc. Năm 1995, các y phục thời trang do Thanh Hải Vô Thượng Sư vẽ kiểu đã được trình diễn và được nồng nhiệt hưởng ứng tại các thủ đô, thành phố lừng danh như Luân Ðôn, Ba Lê, Milan, Nữu Ước, Ðài Loan, Hồng Kông, Tân Gia Ba... Số lợi tức thâu được từ các sáng tác nghệ thuật cho Ngài một nguồn tài chánh độc lập để giúp đỡ tha nhân trong các công tác cứu trợ. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được các chính quyền và các cơ quan trao tặng nhiều giải thưởng, trong đó có Giải Hòa Bình Thế Giới, Nhà Lãnh Ðạo Tâm Linh Thế Giới, và Giải Công Dân Nhân Ðạo Của Thế Giới. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã ba lần được mời đến Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước và Thụy Sĩ để thuyết giảng. Thanh Hải Vô Thượng Sư qua các hoạt động từ thiện đã được nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới vinh danh, từ đương kim Tổng Thống Hoa Kỳ Clinton, cựu Tổng Thống Georges Bush, cựu tổng thống Ronald Reagan, Thượng nghị sĩ Bob Dole, Thượng nghị sĩ Daniel Akala, Thống Ðốc John Waihee, sáu vị Thống Ðốc miền trung-tây Hoa Kỳ, Thống Ðốc Terry E. Branstad tại tiểu bang Iowa, Thống Ðốc Jim Edgar tại tiểu bang Illinois, Thống Ðốc Arme Calson tại tiểu bang Minnesota, Thống Ðốc Mel Carnahan tại tiểu bang Missouri, Thống Ðốc Tommy G. Thompson tại tiểu bang Wisconsin, v Thống Ðốc Joan D. Finney tại tiểu bang Kansas; cựu Tổng Thống Phi Luật Tân Aquino; Vua Sihanouk và Hoàng Tử Ranarridh tại Cam Bốt; cựu Thị Trưởng Honolulu, Frank Fasi, và thị trưởng Hán Thành, Cho Soon; Thị trưởng Anhee sur Meusse tại Bỉ; Ông Souren Abrahamyan, Thị Trưởng Yerevan tại Armenia; Thị Trưởng của Manila, Phi Luật Tân, Ông Nimitr Ajchariyakitisakoul, Tổng thư ký bộ ngoại giao Thái Lan; Ông Peter Spalding, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân; và một trong bảy vị Thánh vĩ đại nhất ở Ấn Ðộ là Giáo Chủ Dada J. P. Waswani. Riêng tại Québec, Gia Nã Ðại, sau trận bão băng tuyết vào mùa Ðông, Thị Trưởng thành phố Ste-Hyacinthe, Claude Bernier, Thị Trưởng thành phố St-Jean-sur-Richelieu, Myroslaw Smereka, Thị Trưởng Granby, Michel Duchesneau, và Thị Trưởng Ate-Athamase, Maurice Bergeron đã viết thư cảm tạ lòng quảng đại của Thanh Hải Vô Thượng Sư đã cứu trợ nạn nhân trận bão tuyết vào mùa Ðông 1997. Về hoạt động nghệ thuật, đêm thơ nhạc "Những Vết Tiền Thân và Tình Ca Quê Hương" đã được tổ chức vào cuối năm 1996 tại Ðại hý viện Terrace Theater, Long Beach, quy tụ hầu hết ca nhạc sĩ và nghệ sĩ tài danh Âu Lạc tại hải ngoại như các nhạc sĩ Phạm Duy, Thu Hồ, Lê Uyên Phương, Nhật Ngân, Duy Khánh, Nguyễn Ðình Nghĩa, Phượng Vũ... cùng các nam nữ ca sĩ và nghệ sĩ nổi tiếng như Khánh Ly, Lệ Thu, Mai Hương, Thái Hiền, Thái Thảo, Lê Uyên, Mai Phương, Kiều Loan, Mỹ Huyền, Bích Thuận, Nguyễn Ðình Nghĩa cùng gia đình, Trần Văn Ân, Xuân Phát, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Ðan Hùng, Trần Quang, v.v... Mục đích của đêm ca nhạc này là để giúp đỡ và tri ân các văn nghệ sĩ đã cống hiến những tác phẩm lừng danh hiện đang sống khó khăn tại quê nhà. Cuối năm 1997, Ðêm ca nhạc Ðường Vào Nhạc Tâm Linh và Tình Yêu được tổ chức tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, với sự góp mặt của rất nhiều ca nhạc sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ và Âu Lạc: David Arkenstone, Tom Mahieu, Larry Bohnert, Arielle Feinberg, Catherine Dubas, Jean Louis Beydon, Phạm Duy, Trần Quang HảI, Bạch Yến, Andy Quang Lê, Duy Quang, Joseph Hiếu, Lê Uyên Phương, Thái Hiền, ý Lan, Dalena, Henry Chúc, Quỳnh Hương, Kiều Hưng, ái Vân, Thanh Lan, Như Nguyện, Ban Nhạc cổ truyền của gia đình nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa, Ban nhạc The Tranz, .v.v... và với một số lượng khán giả khổng lồ hơn 4 ngàn người. Mục đích đêm ca nhạc này là để vinh danh Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ bị tàn tật trong cuộc chiến Âu Lạc (Số tiền là 100,000 mỹ kim) cũng như để đóng góp cho Hội Thiếu Nhi Việt Nam do Nữ tài tử Kiều Chinh dùng để xây trường học và bệnh xá tại Âu Lạc. Ðặc biệt, cuối năm 1998, đêm ca nhạc "Một Thế Giới Hòa Bình Qua Âm Nhạc" được long trọng tổ chức tại Ðại Hý Viện lừng danh thế giới, Shrine Auditorium, nơi hàng năm phát giải Oscar, với sự hiện diện của hơn 6.000 khán giả và ca nhạc sĩ nổi tiếng Hoa Kỳ và thế giới: nhạc sĩ Bill Conti (đã từng đoạt giải Oscar và Emmy) là nhạc sĩ có tên trên đường phố Hollywood, nhạc trưởng trong các chương trình trao giải Oscar; nhạc sĩ Fred Karlin (đã từng đoạt giải Oscar và Emmy); nhạc sĩ Peter Boyer (5 lần đoạt giải âm nhạc toàn quốc Hoa Kỳ, đã sáng tác một tác phẩm từ bài thơ Titanic), nhạc sĩ George Thatcher (tác giả nhạc phẩm Send Me A Lover được Celine Dion hát), nhạc sĩ Maria Newman, ái nữ của ông Alfred Newman (nhà soạn nhạc đã 9 lần đoạt giải Oscar), nữ minh tinh Debbie Reynolds (đã từng đóng trên 30 cuốn phim), tài tử John Moschitta (đã từng đoạt giải Oscar of Television Arts and Sciences), ban nhạc lừng danh thế giới Gaelic Storm trong phim Titanic; ban nhạc Beach Boys Family & Friends, và một giàn nhạc đại hòa tấu trên 65 nhạc cụ. Mục đích của đêm ca nhạc là để giúp đỡ các trẻ em bị bệnh ung thư và nan y khắp thế giới: $150,000.00 Mỹ kim cho Bệnh Viện Nhi Ðồng St. Jude và $100,000.00 Mỹ kim cho Hội Từ Thiện Starlight do Thanh Hải Vô Thượng Sư đích thân trao tặng. Sau đêm đại nhạc hội, báo chí nổi tiếng Hoa Kỳ (The Hollywood Reporter, Los Angeles Times, LA Weekly, Billboard, Balita, Philippine Mabuhay News...v.v...) và Âu Lạc (Người Việt, Việt Báo Kinh Tế, nhật báo Viễn Ðông, Sàigòn Times, Văn Hóa, Sức Sống, Vận Hội Mới, Thẩm Mỹ, Nghệ Thuật...,v.v...) đã trường thuật chi tiết về đêm ca nhạc này. Trước tấm lòng từ ái của Thanh Hải Vô Thượng Sư, Bệnh Viện Nhi Ðồng St. Jude đã thỉnh mời Ngài đến dự buổi tiệc hàng năm với sự tham dự của nhiều tài tử và ca nhạc sĩ Hollywood. Sau đó, ông Edvard Akopyan (Giám đốc Công ty Ðiện Ảnh Thế Kỷ 21 kiêm Phó giám đốc phim trường Glendale) cũng đã thỉnh mời Thanh Hải Vô Thượng Sư làm vị khách đặc biệt đến tham dự buổi dạ tiệc Oscar tại Beverly Hills, trung tâm Hollywood. Với sự hiện diện của Thanh Hải Vô Thượng Sư, ký giả truyền hình Malibu, Cookie Cota, đã phỏng vấn Ngài; tất cả những tài tử, ca nhạc sĩ lừng danh Hollywood đều có tiếp chuyện cùng Ngài. Trong số đó có các tài tử nổi tiếng: nữ tài tử Stella Stevens (đóng với nam tài tử Gene Hackman trong phim The Poseidon Adventure và đóng với Elvis Presley trong phim Girls! Girls! Girls!) đã khen Thanh Hải Vô Thượng Sư sang trọng và giản dị; phi hành gia đầu tiên lên mặt trăng, Buzz Aldrin, và hiền thê đã chụp hình lưu niệm với Thanh Hải Vô Thượng Sư; nam tài tử Tony Curtis (từng đóng chung với Marilyn Monroe), minh tinh Rod Steiger (từng đóng chung với siêu sao Marlon Brando); nam tài tử Henry Silva (trong phim White Fang to the Rescue), nữ tài tử Connie Stevens (từng lưu diễn cùng danh hề Bob Hope tại Âu Lạc), siêu sao Mark Hamill (trong phim Star Wars)...Tất cả đều bày tỏ rằng được tiếp chuyện cùng Thanh Hải Vô Thượng Sư tối hôm đó là một vinh hạnh lớn đối với họ. Vừa qua, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã thăm viếng 18 quốc gia tại Âu Châu như: ý, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ba Lan, Nga, Arménie, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi, Slovenia, Tiệp Khắc, Hy Lạp, Hòa Lan, Phần Lan, Na Uy, Thụy Ðiển, ái Nhĩ Lan, Tô Cách Lan, và Anh Quốc. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được tiếp đón rất nồng nhiệt, hàng trăm ngàn người đã tham dự những buổi thuyết pháp của Ngài về Pháp Môn Quán Âm. Trên con đường hoằng pháp, Thanh Hải Vô Thượng Sư vô cùng quảng đại, từ bi, trợ giúp tài chánh nhiều viện dưỡng lão, viện trẻ em mồ côi, xây cất bệnh xá, trường học... Hiện nay, Thanh Hải Vô Thượng Sư vừa cứu trợ những nạn nhân của các trận động đất và thiên tai bão lụt tại Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Ðài Loan, Âu Lạc, Ấn Ðộ, Trung Hoa, vừa mang tình thương đến những quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái, Ai Cập, Nam Phi, v.v. Chính phủ và Quốc Hội Nam Phi đã thỉnh mời Thanh Hải Vô Thượng Sư đọc diễn văn khai mạc Hội Nghị Tôn GiAło Quốc Tế trước hơn 50 vị lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới vào ngày 1 tháng 12, 1999 tại Cape Town. Qua tất cả công việc từ thiện khắp nơi trên thế giới, Thanh Hải Vô Thượng Sư là người phụ nữ Âu Lạc đầu tiên được thế giới biết đến và ngưỡng mộ nhiều nhất. Thanh Hải Vô Thượng Sư quả là người phụ nữ xứng đáng được vinh danh là "Vị Nữ Lưu Củ Thế Kỷ 20" trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Phạm Mạnh Cương Montréal, Gia Nã Ðại Tiểu Sử Phạm Mạnh CươngNhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh trưởng tại Huế, tốt nghiệp Cao Ðẳng Sư Phạm và Ðại học Văn Khoa. Ông đã là giáo sư Triết Học, Việt văn, Sử Ðịa, và Âm Nhạc ở các trường công lập và tư thục nổi tiếng như Trường Trung Học Pétruský tại Sài Gòn, Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu tại Mỹ Tho, Trường Hưng Ðạo, Văn Học, Nguyễn Văn Khuê, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, v.v. Trước năm 1975, Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương có các chương trình trên Ðài Truyền Hình Âu Lạc, chương trình Hoa Thời Ðại trên đài phát thanh Sài Gòn, chương trình Nghệ Sĩ Chiến Sĩ trên Ðài tiếng nói Quân Ðội, Trung Tâm sản xuất băng nhạc Tú Quỳnh. Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã sáng tác hơn 100 nhạc phẩm trong đó có các nhạc phẩm nổi tiếng như: Thu Ca, Thung Lũng Hồng, Mắt Lệ Cho Người Tình, Mái Trường Xưa, Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè, Thương Hoài Ngàn Năm, Tình Yêu Còn Ðó, v.v... Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương hiện nay đang định cư tại Montréal, Gia-Nã-Ðại. Ông hiện là Nhạc Trưởng Ban nhạc Phạm Mạnh Cương và Chủ Biên Nguyệt San Thẩm Mỹ. |