Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư
111

~Thanh Hải Vô Thượng Sư~

This page uses UNICODE font. If you don't have VN fonts, you can download a copy of VN Fonts at
http://www.godsdirectcontact.org/download/

u Tin Tổng Quát u Sư Phụ Khai Thị
u Tin Sức Khỏe u Bạn Có Biết
u Chuyện Thế Giới u Giáo Lý Chọn Lọc
u Trên Ðường Tu Học u Giáo Lý Chọn Lọc
u Nâng Cao Tâm Thức u Nhận Xét Tu Hành
u Sư Phụ Kể Chuyện u Tình Thầy Trò
u Thần Kỳ Cảm Ứng u Những Giọt Nước Trong Biển Tình Thương
u Lời Pháp Cam Lồ u Chuyện Lành Mạnh
u Thông Ðiệp Ngắn u Trên Mạng Lưới Quán Âm
u Sư Phụ Kể Chuyện Vui u Thơ
u Liên Lạc Viên Của Chúng Ta Trên Toàn Thế Giới u Báo Chí Ðó Ðây

Sự cống hiến quan trọng nhất và cũng là khó làm nhất, đó là cống hiến cho người khác một bầu không khí nhẹ nhàng thanh tịnh.

Thanh Hải Vô Thượng Sư Bản Tin 111
Xuất bản ngày 15 tháng 4, 2000
Thành lập từ ngày 1 tháng 4, 1990
Phát hành: Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư
Chủ nhiệm: Lin Ping Xing
Bản tin Thanh Hải Vô Thượng Sư được phát hành bằng nhiều thứ tiếng: Âu Lạc, Trung Hoa, Anh, Pháp, Ðức, Nhật Bản, Nam Dương, Ðại Hàn, Bồ Ðào Nha,

Tây Ban Nha, Thái và sẵn sàng cung ứng theo yêu cầu.


Tin Tổng Quát [Top]

Tin Gia Nã Ðại

Phát Hình Băng Thuyết Pháp Của Sư Phụ
Trên Ðài Truyền Hình Rogers

[Toronto] Nhờ sự gia trì của Sư Phụ, ngoài những hoạt động chia xẻ giáo lý Sư Phụ qua những buổi hội thảo bằng băng thâu hình và triễn lãm như thường lệ, hiện nay chúng tôi còn một phương pháp khác để quảng bá thông điệp của Sư Phụ đến đại chúng qua đài truyền hình. Dùng đài truyền hình Cable và băng thuyết pháp thâu hình của Sư Phụ, hiện nay chúng tôi có thể chuyển thông điệp của Ngài đến hơn 3 triệu người sống tại những vùng Toronto, Mississuga và Brampton.

Ðể có thể phát hình băng thuyết pháp của Sư Phụ trên đài truyền hình, tổ chức của chúng tôi gần đây đã trở thành hội viên của Hội Ðồng Thông Tin Liên Tôn Chân Trời Mới. Hội Ðồng Liên Tôn gồm có những người đại diện cho các tín ngưỡng hoặc các tổ chức tôn giáo khác nhau. Mục đích của hội nầy là để phân phối giờ phát hình trên đài Truyền Hình Cable Rogers, một chương trình cộng đồng hàng tuần phát hình mỗi sáng Chúa Nhật, với những mục dành riêng cho các tôn giáo khác nhau.

Là hội viên của Chương Trình Cộng Ðồng Chân Trời Mới, chúng tôi được phát hình băng thuyết pháp của Sư Phụ khởi đầu là ba lần, mỗi lần 27.5 phút, vào những ngày Chúa Nhật sau đây:

Ðài Truyền Hình Rogers - Băng Tầng số 10
Ngày 21 tháng 5, lúc 11 giờ sáng (giờ Ðông Mỹ)
Ngày 4 tháng 6, lúc 12 giờ trưa (giờ Ðông Mỹ)
Ngày 18 tháng 6, lúc 11 giờ sáng (giờ Ðông Mỹ)
Những ngày phát hình kế tiếp sẽ được thông báo sau.

Hội Chợ Thể Xác và Tâm Hồn

[Vancouver] Ðồng tu Vancouver rất vui mừng khi có được một gian hàng trong ngày Hội Chợ Thể Xác và Tâm Hồn, được tổ chức từ ngày 17 đến 19 tháng 3 tại Vancouver, British Columbia. Chúng tôi đã học hỏi rất nhiều và sung sướng được giới thiệu Sư Phụ đến mọi người.

Gian hàng của chúng tôi đã thu hút khá nhiều người, luôn cả những người phụ trách các quầy kế cận, họ thường lui tới để xem băng thâu hình của Sư Phụ. Một người bên cạnh quầy chúng tôi đã đặt ghế ngồi trước máy phát hình và xem băng thật lâu. Những người đàn bà thuộc những gian hàng gần đó, mỗi khi có thời giờ cũng qua xem băng và nói rằng giọng của Sư Phụ rất là dịu dàng, êm ái. Tất cả những người viếng thăm gian hàng chúng tôi đều lấy vài cuốn sách biếu và Bản Tin hàng tháng để tìm hiểu thêm về Sư Phụ.

Do ngày càng nhiều người chấp nhận những phương pháp trị liệu Ðông Y như châm cứu, chúng tôi đã không ngạc nhiên khi thấy có một gian hàng của những chuyên gia châm cứu người Hoa. Không lâu sau, tất cả những người làm việc ở gian hàng này đã đến thăm gian hàng chúng tôi. Người nào cũng lấy một số sách biếu và Bản Tin tiếng Trung Hoa cho họ và cho gia đình. Sau đó chúng tôi thấy họ chăm chú đọc những sách báo này ngoài phòng khách.

Những buổi hội thảo vẫn không ngừng diễn tiến trong suốt các ngày hội chợ tại một phòng riêng biệt. Vào ngày Thứ Bảy và Chúa Nhật, chúng tôi được chia cho khoảng thời gian, mỗi khoảng là một giờ đồng hồ. Thế là chúng tôi lại được một cơ hội nữa để giới thiệu Sư Phụ đến những người tham dự hội chợ. Sau buổi hội thảo, khá nhiều người đã lên đặt câu hỏi. Ðiều này cho thấy họ rất muốn tìm hiểu về Sư Phụ. Một người đàn bà hăng hái mượn một số băng về để xem thêm. Vài ngày sau bà mang băng đến để đổi những cuốn khác, rồi sau đó xin học Pháp Phương Tiện.

Liên tục trong ba ngày hội chợ, chúng tôi đã gặp gỡ, giao tiếp trong tình thương với nhiều người thuộc đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội. Chúng tôi cũng nhận thấy họ vô cùng phóng khoáng, cởi mở đối với giáo lý của Sư Phụ. Họ không thể không cảm kích trước tình thương, trí huệ và vẻ đẹp của Ngài. Chúng tôi cảm tạ Sư Phụ đã cho chúng tôi một cơ hội tuyệt vời, và rất sẵn sàng tham gia bất kỳ diễn biến nào để được vinh dự giới thiệu Sư Phụ và Pháp Môn Quán Âm đến mọi người.

Hình: Bị thu hút bởi giọng nói dịu dàng, êm ái của Sư Phụ, mọi người dừng lại gian hàng của Trung Tâm Vancouver để xem băng và hỏi câu hỏi.

Tin Formosa

Dịch Vụ Y Tế Miễn Phí Tại Ngày Hội Thể
Thao Bóng Sơn Thiên Niên Kỷ

[Ðài Bắc] Vào ngày 12 tháng 3, Hội Ðồng Thể Thao Quốc Gia tổ chức Buổi Hội Thể Thao Bóng Sơn Thiên Niên Kỷ tại công viên Cơ Long. Diễn biến này nhằm mục đích là để củng cố mối liên hệ và tình thân hữu giữa các giới chức ngoại giao của Trung Hoa Dân Quốc và những đại sứ, lãnh sự ngoại giao, các viên chức kinh tế và văn hóa đang ở tại Ðài Bắc. Ngoài trò chơi bắn sơn đã thu hút người từ nhiều quốc gia, buổi hội này còn có những màn biểu diễn xe gắn máy nguy hiểm, võ thuật Trung Hoa, những màn múa và những màn thể dục và nghệ thuật cổ truyền. Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được mời đến để cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho những người tham dự buổi hội này.

Các đồng tu khi vừa đến khu vực của buổi hội liền lập tức mở dĩa nhạc của Sư Phụ, tạo nên một bầu không khí ấm cúng và an lành cho cả hội trường. Sự cung cấp dịch vụ và tham khảo về vấn đề y tế của đồng tu gồm đo áp xuất máu, cho toa thuốc Bắc, trị liệu châm cứu, khám mắt, tham khảo ý kiến về giải phẫu và răng.

Khi nhóm đồng tu chúng tôi được giới thiệu với quan khách qua loa phóng thanh, rất nhiều người kể cả những khách du lịch ngoại quốc đã ùa tới gian hàng của chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị nhiều ghế cho những người ngồi đợi được thoải mái. Chúng tôi cũng chia xẻ những "dinh dưỡng" về tâm linh qua sách và báo biếu của Sư Phụ. Trong khi chờ đợi để được tham khảo ý kiến, mọi người yên lặng chăm chú đọc sách báo này. Chúng tôi vô cùng cảm động thấy tình thương Thượng Ðế đang nhẹ nhàng chảy vào tâm hồn họ. Mỗi quan khách đến gian hàng chúng tôi đều nhận được sự chăm sóc về thể xác cùng với sự dinh dưỡng tâm linh trong tình thương của Thượng Ðế.

Hình: Ðồng tu cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho những
giới chức ngoại giao và địa phương tại Formosa.

Mùa Xuân Bế Quan

[Tây Hồ] Năm nay, vào ngày 2 đến ngày 4 tháng tư là ngày nghỉ lễ của người Formosa, trong đó ngày 4 tháng tư là ngày Lễ Vu Lan. Vào những ngày đó, các đồng tu Formosa đã lợi dụng cơ hội hiếm hoi này để tổ chức ba ngày bế quan đặc biệt tại Trung Tâm Tây Hồ, nhờ vậy họ đã được vừa tham dự bế quan vừa săn sóc gia đình về phương diện tâm linh. Các đồng tu được tự do dự thiền một ngày, hai ngày hoặc cả ba ngày tùy ý. Người nhà của đồng tu cũng được đến thăm Trung Tâm Tây Hồ ngày Chủ Nhật. Nhờ sự sắp xếp dễ dàng uyển chuyển này, nhiều đồng tu đã được tham dự bế quan. Những chiếc lều màu sắc một lần nữa mang lại cho trung tâm bầu không khí vui tươi, sống động.

Qua những cữ ngồi thiền chăm chỉ, đồng tu đã thật sự thực hành tục lệ quét dọn mồ mả ông bà. Ðối với những người đã thọ Tâm Ấn và đang theo Sư Phụ tu hành, tổ tiên của họ đã rời khỏi các ngôi mộ từ lâu, để đi về những thế giới cao hơn, hoặc là họ đã được liễu thoát ra khỏi vòng sanh tử.

Trong lúc bế quan, các đồng tu cũng cầu nguyện cho sự thành công trong Chuyến Hoằng Pháp vòng quanh Ðại Dương Châu và á Châu của Sư Phụ. Với cùng một mục tiêu đó, tất cả các Trung Tâm ở Formosa đã kêu gọi đồng tu cùng nhau hành thiền tại nhà từ 5 tới 7 giờ mỗi sáng và lần nữa từ 9 tới 11 giờ mỗi tối.

Tin Cameroon

Sự Hăng Hái của Các Tân Ðồng Tu tại Kumba

[Kumba] Sau khi thọ Tâm Ấn, chúng tôi rất hăng hái, cộng với năng lực tràn đầy và hảo ý muốn giúp đỡ những người khác, đã quyết định tổ chức một buổi hội thảo ở Kumba để chia xẻ tin vui cùng với dân chúng địa phương.

Trong dịp trọng đại này, mọi người làm việc hòa thuận dưới sự gia trì của Sư Phụ. Mặc dầu đây là lần đầu tiên buổi hội thảo được tổ chức ở Cameroon, mọi việc đều tiến hành trôi chảy và nhanh nhẹn như bởi ý Trời.

Chỉ có hai ngày kể từ khi có quyết định tiên khởi cho đến khi có buổi hội thảo xảy ra, thế mà trong thời gian đó chúng tôi đã kiếm được hội trường, in truyền đơn, dán bích chương khắp thành phố, và thông báo qua đài phát thanh và loa phóng thanh. Buổi hội thảo bắt đầu bằng cuốn băng thâu hình của Thanh Hải Vô Thượng Sư được tiếp nối bằng phần vấn đáp sống động, cho thấy có sự tiến bộ về tâm linh của quốc gia này.

Sau buổi hội thảo, khi vị sứ giả Quán Âm hỏi có bao nhiêu người thích học Pháp Phương Tiện, thì hầu như mọi người đều ngồi lại. Nhiều người có thể nghiệm tốt như thấy được ánh sáng và các vì sao bên trong, nghe được âm thanh nội tại và thấy được con đường hầm sau khi chết.

Tấm lòng đơn thuần của mọi người đã làm cho tất cả chúng tôi cảm động. Bây giờ, tất cả các đồng tu ở Kumba muốn bắt đầu cộng tu càng sớm càng tốt, bởi vì số đồng tu đã gia tăng nhanh chóng.

Tin Úc Châu

Một Trung Tâm Mới Tại Vịnh Byron

[Vịnh Byron] Với sự ủng hộ của đồng tu từ Trung Tâm Brisbane, trong vòng một năm qua, hai buổi hội thảo đã được tổ chức tại vịnh Byron để giới thiệu Sư Phụ và pháp từ của Ngài đến dân chúng địa phương. Cả hai buổi hội thảo đều được đáp ứng nồng nhiệt với nhiều người mới hòa nhập vào bầu không khí thăng hoa bởi ái lực của Sư Phụ, và tiếp nhận được Chân Lý từ những lời giảng dạy của Ngài. Kết quả, một số người mới đây đã được thọ Pháp, xây dựng nền tảng cho những buổi cộng tu đều đặn và tốt đẹp tại thành phố vùng Clunes. Một số khác hiện đang tu Pháp Phương Tiện trong khi chờ Tâm Ấn.

Hình: Các đồng tu Byron Bay vui hưởng một Trung Tâm mới.

Tin Hoa Kỳ

Buổi Hội Thảo Chiếu Băng Thuyết Pháp của Sư Phụ Trong
Chuyến Hoằng Pháp tại Âu Châu, 1999.

[Santa Ana, CA] Vào ngày Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2000, một buổi hội thảo chiếu băng thuyết pháp của Sư Phụ tại thành phố Madrid, Tây Ban Nha trong chuyến hoằng pháp Âu Châu 1999, đã được tổ chức tại Santa Ana, một cộng đồng có nhiều người nói tiếng Tây Ban Nha nhất tại Quận Cam miền Nam California. Buổi hội thảo được trình chiếu tại Câu Lạc Bộ Ebell, một cơ sở có uy tín và được nhiều người địa phương biết đến, tọa lạc cách khu vực thương mại của trung tâm thành phố Santa Ana vài con đường.

Hàng ngàn tấm truyền đơn tiếng Tây Ban Nha giới thiệu về Sư Phụ đã được phân phát khắp vùng Los Angeles và Quận Cam bởi những toán đồng tu địa phương. Hàng trăm tấm bích chương có in hình Sư Phụ được dán ở nhiều nơi, kể cả những đường phố chính tại Santa Ana. Sau nhiều ngày làm việc tận lực, đồng tu đã chuyển những tấm truyền đơn đến hầu hết tất cả mọi người qua đường trong khu vực thương mại của thành phố. Vào ngày hội thảo, ngay cả nhân viên an ninh được mướn làm việc cho diễn biến này cũng tham gia vào việc phân phát truyền đơn tới những người vào cửa. Một cảnh sát địa phương sau khi quan sát cách thức làm việc của chúng tôi, đã nhận xét rằng ông chưa hề thấy một đoàn thể nào có tổ chức và làm việc hữu hiệu như thế, và ông hứa sẽ tham dự buổi hội thảo.

Sau khi giới thiệu sơ qua về giáo lý của Sư Phụ và Pháp Môn Quán Âm bằng tiếng Tây Ban Nha, khán thính giả được xem phim phần Sư Phụ thuyết pháp tại Madrid cùng với phần vấn đáp. Trong lúc giải lao, quan khách được mời dùng những món ăn chay và bánh ngọt được chuẩn bị chu đáo và ngon miệng, đồng thời có cơ hội tiếp xúc với các đồng tu và những quan khách khác. Họ cũng đi vòng quanh phòng triển lãm được trưng bày thanh lịch bên cạnh phòng giảng pháp để chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật, kinh sách và băng.

Sau khi xem xong phần nhì của chương trình, khán thính giả tỏ ra rất thích trước những câu nói về Chân Lý của Sư Phụ được diễn đạt một cách khôi hài và tràn đầy trí huệ. Sau đó, trong phần vấn đáp tại chỗ, một sứ giả Quán Âm địa phương đã phải trả lời rất nhiều câu hỏi đầy tính cách tâm linh của những người thành tâm cầu Ðạo. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên và vui mừng khi thấy hầu hết những người ở lại tham dự phần thứ nhì của buổi hội thảo đã quyết định học Pháp Thiền Phương Tiện ngay tại chỗ! Từ ngày hội thảo đó, nhiều người đã gọi điện thoại cho những liên lạc viên địa phương để hỏi về Sư Phụ và Pháp Môn Quán Âm, và ít nhất là thêm một người nữa đã xin học Pháp Phương Tiện sau khi xem phim thuyết pháp của Sư Phụ tại Santa Ana.

Ðây là buổi hội thảo bằng băng thâu hình đợt nhì do Trung Tâm Los Angeles tổ chức với mục đích truyền bá giáo lý của Sư Phụ tới những cộng đồng dân tộc thiểu số tại đây (lần đầu được tổ chức tại phố Ðại Hàn, Los Angeles, vào mùa thu năm ngoái). Với ân điển, tình thương và sự gia trì vô biên của Sư Phụ, Trung Tâm Los Angeles sẽ tiếp tục công tác cao quý và đầy thú vị, đó là mang thông điệp siêu phàm của Thượng Ðế đến các dân tộc thiểu số trong địa hạt Los Angeles, nơi có dân cư thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau. Những cuốn băng hoằng pháp Âu Châu của Sư Phụ năm 1999 được ra đời rất hợp thời và hợp cảnh.

Ðại Khai Trương Trung Tâm Thơ Nhạc
tại Los Angeles

[Los Angeles] Là loại tiệm sách đầu tiên ở Mỹ nhằm chia xẻ giáo lý và công trình nghệ thuật của Thanh Hải Vô Thượng Sư, và nhằm đáp ứng lại lòng thành tâm của các thính giả thuộc chương trình truyền thanh và truyền hình "Ðường Vào Nhạc Tâm Linh & Tình Yêu" đã ngưỡng mộ thơ nhạc của Thanh Hải Vô Thượng Sư, Trung Tâm Thơ Nhạc đã được đại khai trương tại Asian Village.

Trong bầu không khí vui vẻ và ấm cúng, tình thương và lực gia trì của Sư Phụ đã tràn ngập Trung Tâm Thơ Nhạc khi chúng tôi chào đón các quan khách đặc biệt và giới báo chí tại buổi lễ Ðại Khai Trương này. Nhiều nhân viên thuộc giới truyền thông bao gồm Ðài KSCI với Giám Ðốc Chương Trình Eva McKeown, National Digital Television Center, Sàigòn Radio Hải Ngoại, các tờ nhật báo Chinese Worldwide Liberty Times, Người Việt, Viễn Ðông, và Nguyệt San Văn Hóa. Các mạnh thường quân từ những nơi xa xôi như San Francisco và San Jose cũng đến dự buổi lễ này. Ðó là một dịp quan trọng được đánh dấu với nhiều nhân vật quan trọng (VIPs) bao gồm: Nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Duy, Thu Hồ, ca sĩ Lê Uyên, nghệ sĩ Duy Quang, nghệ sĩ Duy Cường, nghệ sĩ và xướng ngôn viên đài phát thanh Quốc Thái và Quỳnh Hương, giáo sư Trần Văn Ân, nữ tài tử Mai Phương, nghệ sĩ Phượng Vũ, luật sư Lê Quang Cường, cựu thị trưởng Westminster, Cathy Bucoz, Mục Sư Trần Quang Minh và nhiều nhân vật khác.

Trung Tâm Thơ Nhạc tạo một cơ hội cho những người yêu thích để biết về giáo lý của Thanh Hải Vô Thượng Sư với nhiều loại sách báo, tạp chí, băng thâu hình và thâu âm, cũng như các công trình nghệ thuật của NgàI, như các bức tranh hội họa, thiết kế thời trang, thiết kế kim hoàn, cùng thơ nhạc. Nằm ẩn trong khu Asian Village, trong một bầu không khí thoải mái với nhiều loại trà hữu cơ và các món thức ăn chay qua loa được bày biện một cách tiện nghi, Trung Tâm Thơ Nhạc cũng có được bao lơn nhìn ra phong cảnh tổng quát của khu thương xá, khiến nơi đây là một nơi lý tưởng để tiêu khiển nhiều thì giờ trong những buổi chiều mưa.

Sau đây là một vài cảm nghĩ tích cực của các quan khách đặc biệt đối với ngày Ðại Khai Trương:

Nghệ sĩ Duy Quang: "Anh rất vui vì có một Trung Tâm Nhạc Tâm Linh ở đây vùng Bolsa."

Ca sĩ Lê Uyên: "Vì sự có mặt của Sư Phụ đã giúp được rất nhiều người qua những giai đoạn khó khăn của họ, thì đây là một chỗ để nhắc nhở cũng như để họ có dịp, có cảm tưởng là họ tới gần Sư Phụ một chút."

Nữ tài tử Mai Phương: "Mình thấy mình mệt nhưng mà tại sao mình đến đây mình thấy nó khỏe ra. Nhưng chắc là cũng nhờ lòng của mọi người. Mỗi người một tâm, một ý để mà tự nguyện đưa cho Hội càng ngày càng lớn mạnh, quảng bá chương trình của Trung Tâm của Thầy em. Thì chị cũng xin chúc mừng với hết tất cả những gì chân thật nhất của chị. Chúc mừng cho càng ngày càng khuếch trương ra rộng lớn hơn, mạnh mẽ hơn, mà càng ngày càng nhiều người biết đến và nhiều người ủng hộ, nhiều người nhập tâm như là chị đang có cái cảm tưởng của chị ngày hôm nay."

Nguyễn Ðức Quang, chủ nhiệm nhật báo Viễn Ðông: "Chú nghĩ rằng công việc phổ biến sinh hoạt của Hội, trong đó có rất nhiều những công việc về văn hóa hoặc là về lãnh vực xã hội, những công tác rất là có ý nghĩa và giá trị đối với mọi người. Ngày hôm nay là ngày đông đảo, đông những khuôn mặt trong giới sinh hoạt, trong văn nghệ, trong báo chí, trong những người tai mắt đã đến tham dự. Rất là ngạc nhiên là bởi vì những tác phẩm - tranh vẽ hay là thời trang - những cái mà không mấy ai được nhìn thấy, ít được nhìn thấy."

Quốc Thái, ca sĩ và xướng ngôn Ðài Phát Thanh Sàigòn Hải Ngoại: "Cái tiệm khang trang, dễ thương, ngày hôm nay mà anh bước chân vào, nó tốt cho cộng đồng của mình, tốt cho những người ở xung quanh khu vực nầy. Anh nghĩ là nếu một người nào đi tìm kiếm một cái gì đó để cho tinh thần của mình thanh thản cho ngày sống, thì anh nghĩ đây là một trong những chỗ mà mình tìm thấy được. Anh cảm thấy vui sướng khi thấy có một trung tâm âm nhạc tâm linh."

Quỳnh Hương, ca sĩ và xướng ngôn Ðài Phát Thanh Sàigòn Hải Ngoại: "Với ngày khai trương hôm nay thì khi Quỳnh Hương mới bước vô, cảm thấy rất là ngỡ ngàng. Mình không có tưởng tượng được là sự săp xếp trưng bày quá đẹp."

Mục Sư Eric Delgadillio, khán giả chương trình truyền hình Thơ Nhạc Tình Yêu & Tâm Linh: "Tôi có mặt hôm nay vào buổi Ðại Khai Trương nầy, buổi lễ thật là đặc biệt. Thật là đẹp khi được có mặt cùng với rất nhiều người ủng hộ Vô Thượng Sư."

Chú Khanh, thính giả chương trình phát thanh Thơ Nhạc Tình Yêu & Tâm Linh: "Ngày khai trương hôm nay là một ngày mở đầu cho một vận hội mới để đổi cuộc đời mọi người ở đây. Khi mình nghe những bài thơ đó, bài nhạc đó, tự nhiên mình ngộ ra một tí. Trong những câu đó có những câu mà sẽ đánh thức được, khơi dậy được cái tâm thức tiềm ẩn nằm ngủ yên trong người mình."

Trung Tâm Thơ Nhạc tọa lạc ở địa điểm thuận tiện tại 9191 Bolsa Avenue, Suite 227-228, Westminster, CA 92863. Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc (714) 892-3360 hay 1-888-826-6443/ 1-888-VĂN-NGHE.

Hình:


  1. (bên phải) Nhạc Sĩ nổi tiếng Phạm Duy.
    (bên trái) Lý Kiến Trúc, chủ nhân tạp chí Văn Hóa.
  2. Trung Tâm Thơ Nhạc được mở cửa để chia xẻ giáo lý và các công trình nghệ thuật của Thanh Hải Vô Thượng Sư với công chúng.

  3. Bà Eva Mckeown (bên phải), Giám Ðốc Chương Trình của Ðài KSCI-Băng Tần 18, và phụ tá, là những người trong số các quý khách tham dự buổi Ðại Khai Trương.

  4. Tin tức của buổi Ðại Khai Trương Trung Tâm Thơ Nhạc được phát hình trên chương trình tin tức hằng ngày của Ðài KSCI.


Sư Phụ Khai Thị [Top]

Hãy Cùng Nhau
Tiến Vào Thế Giới
Khai Ngộ

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Hồng Kông
Ngày 8 tháng 7, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

V: Ngày nay có rất nhiều giáo phái trên thế giới. Làm sao biết được giáo phái nào sẽ dẫn dắt chúng ta về Chân Lý?

SP: Quý vị tìm ra Chân Lý chỉ khi nào tìm được Minh Sư Khai Ngộ. Vấn đề đây không phải là ở các giáo phái. Tất cả đều tốt, nhưng tìm Minh Sư Khai Ngộ là tốt hơn cả. [Vỗ tay] Ấn Ðộ hồi xưa có nhiều con đường đạo, nhưng tại sao người ta lại theo Ðức Phật Thích Ca? Tại vì Ngài là Minh Sư Khai Ngộ. Theo giáo lý của tôi tu hành, quý vị không cần phải thay đổi đức tin về tôn giáo của mình. Người Thiên Chúa Giáo có thể tiếp tục tin Chúa Giê Su và Thượng Ðế; người theo Phật Giáo có thể tiếp tục tin vào Ðức Phật tối cao, cũng là Thượng Ðế. Thượng Ðế tối cao tức là Phật Tổ; chỉ có danh xưng người ta gọi là khác nhau thôi. Chúng ta chỉ cần tin vào Lực Lượng Vô Thượng bên trong; không cần phải thay đổi gì cả.

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Costa Rica
Ngày 16 tháng 12, 1990 (Nguyên văn tiếng Anh)

Nếu ai cũng thật sự tu hành theo giáo lý trong Thánh Kinh và kinh sách của Phật Giáo thì họ sẽ không bao giờ tranh luận lẫn nhau, rồi tất cả mọi tôn giáo sẽ vui vẻ với nhau và sẽ làm lễ trong cùng một thánh đường. Ðức Giáo Hoàng sẽ đi chùa, các tu sĩ sẽ đi nhà thờ. Sẽ chẳng có vấn đề gì cả.

Chỉ có một tôn giáo thôi - đó là tôn giáo của Thượng Ðế, của tình thương, của sự cảm thông. Chỉ có một nhà thờ, một ngôi chùa - đó là ngôi chùa của sự khai ngộ. Ðến ngôi đền đó thì chúng ta sẽ biết hết tất cả các tôn giáo trên thế giới.

Mật Giáo và Hiển Giáo

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Hồng Kông
Ngày 8 tháng 7, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

V: Trong sự tu hành, mật giáo và hiển giáo khác nhau ra sao?

SP: Thứ nhất, sự trau dồi về tâm linh chỉ toàn hảo khi nào chúng ta phối hợp được cả hai khía cạnh "mật" và "hiển". Tuy nhiên, đa số mọi người không tu theo mật giáo vì họ không tìm được dòng dõi hay gặp được một vị Minh Sư để có thể truyền cho họ Pháp Môn này. Cho nên họ chọn hiển giáo, được dạy công khai và có thể theo mà không cần phải thay đổi tư cách, thái độ hay tiêu chuẩn đạo đức. Những người thờ tượng Phật, cúng dường phong bì đỏ (đựng tiền) tại các đền đài đều được coi như là những người tu hiển giáo, mặc dù thỉnh thoảng họ cũng giết heo. Những người tu theo mật giáo phải có tiêu chuẩn đạo đức cao, tuyệt đối giữ giới, và biết nhiều pháp bí truyền từ ngàn xưa. Tuy nhiên, tìm ra được một vị Minh Sư Khai Ngộ biết mật pháp không dùng ngôn ngữ là điều khó nhất. Người đó chỉ có thể truyền Pháp cho chúng ta sau khi họ tốt nghiệp môn phái giáo lý vô hình này và đã đạt được chân pháp "không thể nào diễn tả được hay đặt tên được."

Trong hiển giáo, người tu hành phải nghiên cứu nhiều kinh điển và học hỏi nhiều từ ngữ Phật Giáo trước khi có thể tốt nghiệp. Họ phải thông hiểu các danh từ Ðức Phật, Bắc Tông, hay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða nghĩa là gì. Họ phải học và biết hết những thứ này để có thể trả lời câu hỏi của người khác. Chỉ khi đó họ mới có thể dạy được hiển giáo. Tu mật giáo khó hơn bởi vì không phải là học từ kinh điển. Chúng ta dựa vào sự tu hành của mình từ kiếp này sang kiếp khác, nguyện vọng mãnh liệt muốn tìm về Chân Lý, cũng như sự thành tâm, giới luật và sự tu hành tinh tấn của mình. Chúng ta phải dựa vào chính mình cho đến khi nào tìm ra được Minh Sư Khai Ngộ của chính mình. Vì vậy, tốt nghiệp từ mật giáo rất khó. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni hoàn tất được cả hai, mật giáo và hiển giáo. Ngài có thể dạy bất cứ điều gì và giảng giải kinh điển nào cũng được, kể cả bốn Kinh Vệ Ðà. Ngài không gặp khó khăn trong việc tranh luận với những người theo Ðại Phạm Thiên hay bất kỳ người nào về việc này. Ngài cũng đạt được mật giáo mà không thể truyền ra được bằng lời hay viết ra được bằng chữ. Vì đã tốt nghiệp từ môn phái giảng dạy vô hình này, nên Ngài có thể truyền cho những người tin tưởng nơi Ngài.

Sự khác biệt giữa hai giáo là mật giáo rất ít người đạt được, còn hiển giáo thì rất nhiều người đã hoàn tất và tốt nghiệp. Người thường theo học trong các tu viện Phật Giáo nhiều năm cũng được coi như là tốt nghiệp môn hiển giáo. Cho nên, ngay cả những người thường tục cũng có thể giảng giải cho công chúng định nghĩa của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða; Chú Ðại Từ Ðại Bi; hay nguồn gốc của A Di Ðà Phật, ý nghĩa về danh hiệu của Ngài và tại sao chúng ta nên niệm danh Ngài.

Trái lại, môn phái mật giáo rất là khó. Không có một kinh điển nào để mà dựa vào. Chúng ta chỉ có thể tin cậy vào Phật Tánh (Thượng Ðế Tánh) và trí huệ của mình để mà tìm ra đạo. Chúng ta mong mỏi và tu hành tinh tấn mỗi ngày cho đến khi nào hoàn toàn đạt được đạo mới thôi. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể truyền giáo này cho người khác. Nó rất là khó bởi vì đó là kinh điển chân chính và vô hình, là Viên Ngọc Mâu Ni, là tài sản vô hình mà chúng ta chỉ có thể kiếm được một cách vô hình, trong yên lặng. Ngay Minh Sư cũng không thể nào giúp chúng ta được; Ngài chỉ có thể dẫn đường cho chúng ta đi mà thôi. Chúng ta phải dồn hết nỗ lực và biết dùng Trí Huệ của mình.

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Ðài Bắc, Formosa
Ngày 6 tháng 3, 1988 (Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

V: Có tám vạn bốn ngàn pháp môn trong Phật Giáo. Kinh Kim Cang nói rằng tất cả mọi pháp môn đều tu tánh từ bi và tất cả đều bình đẳng. Tuy nhiên, trong Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật dạy rằng các chúng sinh trong "Thời Kỳ Mạt Pháp" nên tu Pháp Môn Quán Âm. Có phải vì Pháp Quán Âm thích hợp cho chúng sinh hơn không?

SP: Không những thích hợp hơn, mà tu Pháp Quán Âm phải là việc trước tiên. Ðể nói lại cho rõ, chúng ta sinh ra làm người là để tu Pháp Quán Âm, nếu không, chúng ta sẽ không nhận biết được chúng ta nên làm gì trong đời sống con người. Chúng ta bỏ mất cơ hội quý giá này bởi vì chúng ta làm lỡ mất thời điểm chủ yếu này, rồi sau đó đi chỗ khác để mà tu tám vạn bốn ngàn pháp môn từ đầu trở lại. Nhưng mãi cuối cùng, khi đến cổng của Pháp Môn Tối Hậu, và được sinh ra làm kiếp người trở lại thì chúng ta lại miễn cưỡng không muốn bỏ. Chúng ta từ chối không chịu tu ngay cả lúc gặp được Minh Sư Khai Ngộ, để rồi phải luân hồi nữa, luân hồi nữa.

Loài người sinh ra là để tu Pháp Quán Âm; đó là bổn phận chúng ta phải làm. Chúng ta sinh ra làm người với mục đích đạt được quả vị Thánh Nhân và Ðại Trí Huệ. Cơ hội cuối cùng, quý giá nhất, và duy nhất của chúng ta là được sinh ra làm người với mục đích đạt được Trí Huệ vĩ đại này, và để được thoát ra khỏi tám vạn bốn ngàn pháp môn đang ràng buộc chúng sinh. Tuy nhiên, vì không hiểu được sự thật này nên chúng ta không biết làm người phải làm gì. Sau khi tu Pháp Môn Quán Âm, từ từ chúng ta sẽ hiểu rằng tại sao chúng ta được sinh ra làm người và mục đích của mình là gì. Bây giờ có thể quý vị nghi ngờ, nhưng tôi không có cách nào khác. Vì quý vị hỏi nên tôi phải nói. Tất cả tám vạn bốn ngàn pháp môn kia đều là vô ích; chúng chỉ buộc chúng ta vào trong tam giới. Chúng mang lại cho chúng ta những phần thưởng gia trì, quyền lực và khả năng siêu nhiên, nhưng vẫn buộc chúng ta bên trong tam giới. Pháp Môn Quán Âm là pháp duy nhất mang chúng ta ra khỏi vòng tam giới. Ðiều này rất là khó tin, vì vậy mà chúng ta ít khi biết đến.

Pháp Hơi Thở Không Phải Là Pháp Môn Tối Hậu

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại
Viện Ðại Học Havard, Hoa Kỳ
Ngày 24 tháng 2, 1991
(Nguyên văn tiếng Anh)

Có người yêu cầu tôi dạy cho họ pháp thiền mà có thể ngừng thở và ngừng tim đập. Tôi bảo: "Không cần phải vội vã như vậy. Cứ đợi một thời gian; khi chết mấy chuyện này sẽ xảy ra." Ðây không phải là một điều cần thiết. Chúng ta không cần phải can dự vào việc làm của thiên nhiên. Ðây không phải là cách để được khai ngộ. Sau đó họ hỏi tôi dạy cho họ pháp thiền mà có thể làm gia tăng nhiệt trong cơ thể, để nó trở thành như ngọn lửa nhập định - sức mạnh thiền định qua hơi nóng. Tôi bảo: "Không cần, chỉ việc nhảy vào lò thôi!"

Ðây là điều vô lý! Không ăn nhằm gì đến chuyện khai ngộ. Có thể các Minh Sư hay những người tu trên Hy Mã Lạp Sơn không đủ ấm nên họ phải luyện cái kêu bằng nhiệt "tummo" từ bụng để tạo ra hơi nóng sưởi ấm cho cơ thể trong thời tiết lạnh trên Hy Mã Lạp Sơn. Nhưng ở đây, chúng ta có hệ thống sưởi, có máy sưởi, có đủ mọi thứ, nên không cần đến cái đó. Lấy ví dụ Ðức Phật. Có một người đến gặp Phật, khoe rằng ông ta có thể đi trên mặt nước qua được bờ bên kia. Ðức Phật hỏi: "Ông tu hành bao lâu rồi mà đạt được tới mức đó?" Người kia trả lời: "Hai mươi lăm năm." Ðức Phật nói: "Tại sao phải phí thời giờ, tiền bạc? Tôi chỉ trả có 5 xu là có thể đi ghe sang sông được."

Ðây là những quan niệm sai lầm. Chúng ta tu hành để khai ngộ chính mình, để biết chúng ta có thể làm gì cho loài người, để biết chúng ta liên hệ với vũ trụ như thế nào, và chúng ta có thể cống hiến được những gì cho vũ trụ mà đã dâng hiến cho chúng ta thật nhiều; hoặc làm cách nào để giải thoát cho chính mình ra khỏi sự khổ đau, giải thoát cho chúng ta khỏi cảnh nô lệ của sinh tử luân hồi. Nhưng không phải tu để mà khoe khoang. Không cần phải tăng sức nóng hay sức lạnh, không cần phải làm ngừng tim hay ngừng thở. Những thứ này đều là hiện tượng nhất thời, sự vận hành của tạo hóa. Chúng ta không để ý đến làm gì.

Thượng Ðế Tính (Phật Tính) không nằm ở trong hơi thở; không nằm trong nhịp tim đập hay trong sức nóng ở bụng. Thượng Ðế Tính cũng ở trong đó, nhưng đó chỉ là một khía cạnh nhỏ của Thượng Ðế Tính mà thôi. Chúng ta nên tìm toàn bộ rồi sẽ biết được mọi chi tiết. Chúng ta không nên chỉ để ý đến chi tiết rồi quên đi toàn bộ. Cho nên quan niệm sai lầm cần phải được thay đổi để đưa đẳng cấp chúng ta lên cao, ít nhất cũng là trình độ trí óc, để có thể hiểu biết xa hơn. Nếu cứ dính vào thứ quan niệm này hoặc thành kiến lỗi thời này thì chúng ta sẽ không có hy vọng được văn minh hơn, thông minh hơn.

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Panama
Ngày 28 tháng 1, 1991
(Nguyên văn Tiếng Anh)

Chắc chắn tu Quán Hơi Thở (Pranayama) sẽ có nhiều lợi ích. Có thể có sức khỏe, có thể sống lâu hơn một chút, có thể được một vài thần thông nào đó, hoặc có thể cảm thấy bình yên an ổn hơn. Không có gì mà không có lợi. Nhưng tu "Pranayama" không đưa quý vị đến đâu cả vì chúng ta sống vĩnh viễn, không cần hơi thở. Cái mà chúng ta kêu bằng sự sống không có nghĩa là thân thể. Nếu nghĩ sự sống là thân thể thì quý vị tu luyện, và hơi thở quan trọng cho thân thể, nhưng chỉ cho những người thường thôi. Nhiều người không cần. Quý vị có đọc "Tự thuật tiểu sử của một tu sĩ Yoga" của Yogananda chưa? Khi Sư Phụ của ông nhập định, ngài cũng không có thở. Bộ quý vị tưởng lúc đó ngài không có trí huệ khi ngài không thở hay sao? Vậy trí huệ của ngài đi đâu? Làm sao lúc đó ngài có thể đạt được trí huệ khi không có hơi thở để tu Pranayama?

Tôi biết nhiều người luyện phương pháp hơi thở, không phải Pranayama, nhưng họ đếm hơi thở. Có nhiều phương pháp tu luyện liên quan đến hơi thở và dùng hơi thở làm một phương pháp để tập trung tư tưởng. Nói về tập trung tư tưởng thì nó cũng có lợi. Có lợi cho một số người, nhưng tôi không dám khuyên ai dùng cách đó. Có nhiều cách tốt hơn là cách tùy thuộc vào hơi thở nhất thời này. Quý vị phải huấn luyện đầu óc để tự nó tập trung, bằng sức mạnh của linh hồn chứ không phải là dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài. Nếu không, khi quý vị bị tai nạn, khi bị té, khi chết, khi bệnh hoạn, hay lúc đang ngủ không thể để ý đến hơi thở được thì làm sao tu? Chúng ta không thể tu chỉ khi nào tỉnh hay khi biết mình đang thở. Chúng ta phải huấn luyện mình tu luôn luôn, 24 tiếng đồng hồ, và cái đó chỉ có linh hồn là làm được.

Tôi biết có nhiều người tu hơi thở đến trình độ họ có thể không cần thở, và đó là trình độ cao nhất của những pháp này. Nếu người nào ngưng thở được là được chúc mừng vì đó là mức cao nhất họ có thể đạt đến được. Nhưng khi họ ngừng thở có nghĩa là hơi thở rốt cục cũng chẳng có gì là quan trọng. Quý vị có thể sống không có nó.

Thật ra - nói thật quý vị nghe - hơi thở là không được đụng đến. Trong thân thể có hai luồng: một là cái mà chúng ta kêu bằng sức sống hay luồng "âm lưu" ("shabd"), cái kia gọi là luồng "động cơ" hay luồng sống. Luồng âm lưu là từ Thượng Ðế mà ra, rung động trong mọi sự sống, có hay không có hơi thở, di động hay bất động. Âm lưu là cái mà chúng ta nghe được. Luồng kia là luồng động cơ, chăm nom cho sự nóng, sự lạnh, bộ máy tiêu hóa, hô hấp, tất cả mọi thứ kể cả hơi thở, cái đó đã được điều hòa, không nên để ý đến làm gì. Chúng ta không nên làm nó ngắn hay dài, chặn nó lại hoặc điều khiển nó bằng bất cứ cách nào, bởi vì nó đã được chỉnh bởi Ðấng Tối Cao. Nếu chúng ta phá phách với bộ máy này, nó có thể bị hư. Khi nó bị trục trặc thì phải sửa chữa, chăm sóc cho nó; còn không thì đừng nên để ý đến, nếu không chúng ta có thể bấm lộn nút làm nó bị hư hại hoàn toàn.

Ðấng Cứu Thế Ðã Ðến!

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại California, Hoa Kỳ
Ngày 19 tháng 5, 1991
(Nguyên văn tiếng Anh)

V: Sư Phụ nghĩ thế nào về Kinh Cựu Ước và Ðạo Do Thái?

SP: Cái đó tốt, nhưng xin đừng có chờ Chúa Cứu Thế, bởi vì Ngài đến hoài hoài. Hãy cầu nguyện để quý vị sẽ nhận ra được vị Chúa Cứu Thế hiện giờ; đừng cầu nguyện và chờ đợi Vị Chúa Cứu Thế mà quý vị đang chờ. Ngài không bao giờ đến nếu quý vị cứ kỳ vọng Ngài theo lối của mình. Như khi Chúa Giê Su đến, họ cũng mong đợi Chúa Cứu Thế, rồi giết đi người mà họ đang có trong tay. Chúng ta làm toàn những chuyện dại dột như vậy.

Không phải là đạo Do Thái xấu xa, mà là chúng ta vô minh. Ngay Chúa Giê Su có hứa là sẽ gởi những người an ủi tới; như vậy có nghĩa là sau khi Ngài ra đi, sẽ có người khác đến. Người có thể an ủi chúng ta có nghĩa là người ngang với Ngài, nhưng đã hai ngàn năm rồi chúng ta vẫn còn chờ đợi. Nhiều Ðấng Cứu Thế đã đến và đi, thế mà chúng ta vẫn còn ở đây đợi người từ trên trời xuống. Ngài sẽ không bao giờ đến nếu chúng ta chờ đợi kiểu này.

Chúng ta nghe nói Chúa Giê Su sẽ xuất hiện lần nữa; quý vị nghĩ Ngài sẽ đến như thế nào? - Có cánh, bộ râu, hay với thập tự giá để cho chúng ta nhận ra Ngài? Làm sao chúng ta nhận ra được nếu Ngài đến? Thậm chí chúng ta còn không biết Giê Su trông như thế nào. Chúng ta không có ở đó; hay có thể là có ở đó, nhưng hai ngàn năm trước rồi, ai còn có trí nhớ tốt như vậy? (Mọi người cười)

Chúa Giê Su đến không phải qua hình dáng, mà là qua linh hồn. Chúa Giê Su có thể đến với bất kỳ ai có đủ tri giác nhận biết và mở đúng cửa để Ngài vào. Lúc đó chúng ta sẽ trở thành như Chúa Giê Su hay như Ðức Thánh Cha. Ðó là lúc Chúa Giê Su trở lại lần nữa. Ngài trở lại hoài hoài; khi nào chúng ta sẵn sàng là Ngài đến. Ngài đến qua bất cứ Minh Sư nào có khả năng chứa Ngài, có khả năng chứa đựng lực lượng vạn năng của Ngài. Người đó cũng là Chúa Giê Su - có thể kiểu tóc khác, hoặc đi giày cao gót, nhưng Ngài vẫn là Chúa Giê Su. (Mọi người cười và vỗ tay)

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Sydney, Úc Ðại Lợi
Ngày 17 tháng 3, 1993
(Nguyên văn tiếng Anh)

V: Ngài có tin là Ðấng Cứu Thế Tối Cao của vũ trụ - Chúa Giê Su, là người Con duy nhất mà Thượng Ðế sinh ra - phán rằng: "Ta là con đường, là Chân Lý, là sự sống. Không ai đến với Ðức Cha mà không qua Ta"; không ai có thể vào được thiên đàng, Nhà của Thượng Ðế, ngoại trừ qua Chúa Giê Su?

SP: Phải, điều đó đúng; mọi Minh Sư đều nói như vậy. "Giê Su" là tên của thân thể Ngài; "Ki Tô" là tước hiệu của Ngài. Mỗi Minh Sư đều phải có lực lượng Ki Tô này; thành ra, trong ý nghĩa đó, Chúa Giê Su không bao giờ chết. Chúa Giê Su làm việc qua tất cả Minh Sư, qua mọi thế kỷ, qua mọi thời đại, để giải thoát và khai ngộ chúng ta, là những kẻ vô minh còn ở lại. Một mình Chúa Giê Su không thể nào làm chúng ta khai ngộ, nếu Ngài đã ra đi. Dĩ nhiên là Ngài làm được, ở một mức độ nào đó, nhưng chúng ta là loài người, không thể tiếp xúc được với Ngài khi Ngài ở cảnh giới cao hơn. Do đó, một Minh Sư bằng thể xác là một điều cần thiết. Nhưng lực lượng Ki Tô làm việc qua bất kỳ Minh Sư trong xác phàm nào mà đã được chỉ định hay ủy thác vào thời đó. Vì vậy, khi Chúa Giê Su nói Ngài là con đường duy nhất, chỉ có một, Ngài đã nói một sự thật tuyệt đối đúng. Nhưng bất kỳ Minh Sư nào cũng nói như vậy khi Minh Sư đó còn sống.

Tôi biết dính chấp vào Thánh Kinh rắc rối lắm. Nhiều người theo Phật Giáo cũng vậy. Thánh Kinh và kinh điển là những bằng chứng rất tốt của các Minh Sư thời quá khứ, nhưng cũng gây rất nhiều trở ngại vì sự chấp nhất của chúng ta. Tôi biết nó rất là khó. Tôi chỉ biết chúc phúc quý vị và chỉ biết nhẫn nại chờ cho đến khi nào thời điểm đến thì quý vị sẽ hiểu. Thánh Kinh chỉ là một quyển ghi chép về một đại Minh Sư đã ban ơn xuống Ðịa Cầu chúng ta, nhưng còn con người trước và sau thời Chúa Giê Su thì sao? Những người đến sau thời Chúa Giê Su có thể sẽ nói rằng: "Chúng ta nghe tên Ngài và sẽ được cứu rỗi." Nhưng hằng tỷ, hằng ngàn tỷ năm trước Chúa Giê Su không có ai cứu rỗi họ hay sao? Chẳng lẽ Ðức Thánh Cha quá nhẫn tâm chỉ gởi một người con và chỉ gửi có một lần thôi sao? Ngài có keo kiệt như vậy không?

Nếu Chúa Giê Su thật sự cứu rỗi tất cả chúng ta, thì quý vị có thể trả lời cho tôi rằng tại sao chúng ta vẫn còn u minh? Có nhiều điều chúng ta không biết; thiên đàng, chúng ta không thể tiếp xúc. Có người tiếp xúc được khi họ hết lòng, thành tâm cầu nguyện Chúa Giê Su thì có thể Ngài sẽ hiện ra cho họ thấy và dạy dỗ một vài người, nhưng rất ít. Ngài không hiện đến cho tất cả chúng ta. Nhưng Ngài hiện ra cho đồng tu chúng tôi, vì chúng tôi biết cách tiếp xúc với Ngài. Chúng tôi có thể đi lên cảnh giới của Ngài để được Ngài trực tiếp dạy dỗ. Tôi không dạy gì khác. Nếu quý vị muốn thấy Chúa Giê Su và Thượng Ðế thì tôi sẽ giúp cho quý vị. Nếu quý vị muốn thấy Ðức Phật thì tôi cũng sẽ giúp cho quý vị, chỉ có vậy thôi - nhưng nếu quý vị tin tưởng, thay vì dính chấp vào những ghi chép quá khứ của một Ðại Minh Sư mà trong đó phần nhiều chúng ta không hiểu.

Chân Lý Trong
Các Học Thuyết Hồi Giáo

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Ðài Bắc, Formosa
Ngày 6 tháng 3, 1989
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Tôi đọc qua một câu rất ý nghĩa trong Kinh Koran. Nói rằng: "Hãy làm một người khách tốt trên Ðịa Cầu. Và hãy sống một cuộc đời phong phú." Câu này trong Kinh Koran của Hồi Giáo làm tôi rất khâm phục. Chúng ta thường nghĩ là chỉ có Phật Giáo mới nhấn mạnh đến sự vô thường của thế giới này, nơi mà chúng ta sống một thời gian rồi sẽ ra đi. Chúng ta không biết rằng Kinh Koran cũng nhắc đến cùng một tư tưởng y như vậy. Vậy tại sao chúng ta vẫn cứ tham gia vào những cuộc tranh luận sôi nổi về chuyện tôn giáo nào là hay hơn? Ðọc một câu này thấy nó rất là có ý nghĩa. Nó ngắn nhưng rất hay! Trong khi còn ở đây, chúng ta nên sống một cuộc đời tràn đầy ý nghĩa, tự do và phong phú.

Kinh Koran cũng đề cập đến Âm Thanh. Sư Phụ Mohammed của họ có đề cập đến, đệ tử của Ngài cũng nhắc đến. Khi nghe thấy tiếng sáo, trí huệ của họ mở ra và họ thông hiểu tất cả. Họ trở nên thảnh thơi, tự do, hạnh phúc và giải thoát! Không phải họ nói đến tiếng sáo ở thế giới bên ngoài. Chúng ta, những người tu Pháp Quán Âm đều biết cái đó có liên quan đến một cảnh giới cao. Tuy nhiên, giả thử như chúng ta là tín đồ Hồi Giáo nhưng chưa nghe thấy tiếng sáo bên trong thì chúng ta không thể nào hiểu được Kinh Koran muốn nói gì.

Trong Thánh Kinh, Chúa Giê Su có nói: "Các con nghe tiếng gió, không biết tiếng gió từ đâu đến và đi về đâu!" Âm thanh này tiêu biểu cho tính chất vô sở bất tại. Khi nghe âm thanh vô sở bất tại này của Thiên Ðàng, chúng ta nhận thức được một phần của Ðấng Vô Sở Bất Tại (Tathagata). Phần kia là ánh Sáng của Ngài; chúng ta cũng không biết nó từ đâu đến và đi về đâu. ánh sáng này cũng là một tính chất vô sở bất tại. Vô sở bất tại có nghĩa là không biết được nó từ đâu đến và đi về đâu.

Thấy Ðấng Vô Sở Bất Tại (Tathagata) không có nghĩa là chúng ta phải thật sự thấy một người nào đó " Phật A Di Ðà hay Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni tự gọi mình là "Tathagata" thì cũng đúng, nhưng Ngài cũng giải thích rằng Ngài chỉ là ngón tay chỉ về Chân Lý. Tathagata là một thể nghiệm bên trong, tính chất của vô sở bất tại. Khi nhìn thấy phẩm chất Vô Sở Bất Tại, trí huệ chúng ta được mở ra, mọi nghiệp chướng của chúng ta tan biến, chúng ta tuyệt đối được tự do, và có thể thông hiểu Guồng Máy Vũ Trụ và những bí ẩn của toàn thể Sáng Tạo. Cuối cùng chúng ta sẽ nhận thức được thế nào là đồng một thể với Tạo Hóa. Chúng ta sẽ biết được đẳng cấp của Lão Tử và có thể thật sự tán thán Ngài. Ðó là vì lúc đó chúng ta có cùng thể nghiệm và có thể minh chứng cho sự thật trong câu nói của Ngài: "Vạn vật đồng nhất thể!"

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Surabaya, Nam Dương
Ngày 1 tháng 3, 1993 (Nguyên văn tiếng Anh)

V: Nếu một người Hồi Giáo ăn chay nhưng trong tôn giáo của họ được biết là mỗi năm họ nên cúng tế...

SP: Cúng dường. Cúng dường không có nghĩa là cúng tế. Thật ra, nhiều khi thông dịch sai, chẳng hạn, một số người hiểu lầm giáo lý của Minh Sư. Không một Minh Sư nào muốn máu huyết của ai! Ðể làm gì? Có kiểu Minh Sư nào phụng sự vì máu của chúng sinh? Quý vị có tin được không? Quý vị có làm vậy không, dù không phải là Minh Sư?

Những gì mà người khác đã giết rồi thì có thể quý vị ăn; nhưng bảo quý vị tự giết gà, giết dê thì quý vị không thể nào làm được. Làm sao mà một Minh Sư có thể muốn đệ tử làm công việc đẩm máu như vậy? Ðó chỉ là một sự hiểu lầm. Nói quý vị biết tại sao.

Thí dụ, Minh Sư nào cũng nói quý vị phải cúng dường tất cả những gì quý vị có cho Ngài. Trong Kinh Bhagavad-Gita, nói rằng: "Hãy cho Ta tất cả; chỉ nhớ mình Ta thôi; chỉ yêu thương Ta thôi; chỉ hàng thuận một mình Ta và không ai khác ngoài Ta; hãy cho Ta tất cả những gì nhà ngươi có: cuộc sống, gia đình, của cải, cho Ta tất cả." Nhưng Khrishna có bao giờ lấy một xu nào của Arjuna không, cho dù Ngài cần hay không cần? Không, không bao giờ lấy! Cho nên, đó chỉ là câu nói của Minh Sư. "Hãy cho Ta con bò của nhà ngươi, cho Ta xe của nhà ngươi, cho Ta dê của ngươi, cho Ta vàng bạc, cho Ta vợ con của ngươi; hãy cho Ta tất cả. Ta sẽ chăm lo cho chúng." Nhưng Ngài không bao giờ đụng tới mấy thứ đó.

Ðó chỉ là tinh thần cống hiến tất cả mọi thứ dưới chân của Minh Sư để là một dấu hiệu sùng bái, hàng thuận, một dấu hiệu tin tưởng Minh Sư, dấu hiệu của sự vô ngã: "Rằng ta chẳng có gì, ngay cả chính thân ta; mọi thứ đều thuộc về Sư Phụ." Rồi bây giờ, nhiều thế kỷ, hằng ngàn năm về sau, con người phiên dịch một cách khác: "Ngươi phải tế con cừu non đầu tiên, cái gì cũng đầu tiên." Ai muốn loại cúng tế đẫm máu này? Có thể nào tin được, một con người không thôi, đừng nói chi tới Minh Sư, với lòng từ bi trung bình sẽ tự mình giết một con dê, uống máu hoặc ăn từ đó, rồi cảm thấy sung sướng? -ít khi như vậy lắm! Thời buổi này, người ta chỉ mua những thứ này trong chợ, không nhìn thấy giết chóc, không nhìn thấy đau khổ. Họ mua cũng giống như mua kẹo sô cô la, rồi ăn vào mà không cảm thấy gì nhiều về sự đau khổ của loài vật. Nhưng nếu một Minh Sư, một vị kêu bằng "Minh Sư" có tình thương đối với tất cả chúng sinh, đòi được cúng máu thì quý vị có tin không? Không ai tin được cả!

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Ba Lê, Pháp Quốc
Ngày 25 tháng 4, 1993
(Nguyên văn tiếng Pháp và tiếng Anh)

V: Câu hỏi này về các Thánh Kinh: Tôi thường hay nghi ngờ Thánh Kinh hoặc Kinh Koran. Trong Thánh Kinh nói: "Ta là một Thượng Ðế ganh tỵ", và Ðức Chúa nói: "Ta đến đây không phải là cho hòa bình, mà cho chiến tranh." Trong Kinh Koran nói rằng chúng ta có thể gây chiến tranh và có nhiều vợ. Có phải những điều này là nhầm lẫn không?

SP: Tôi bảo quý vị giữ ngũ giới: Không sát sanh, không tà dâm, ăn chay, không trộm cắp, không cờ bạc. Những cái đó rất là đơn giản cho đời sống; cứ việc theo như vậy, rồi thiền hai tiếng ruỡi đồng hồ. Mấy cuốn sách khác quý vị đọc, tôi không chịu trách nhiệm.

Nhưng nếu họ đã là người Hồi Giáo rồi, thí dụ như vậy, thì dĩ nhiên, tôi sẽ không bảo họ thay đổi đời sống. Chẳng hạn, nếu họ đã có mười người vợ theo truyền thống của họ trước khi biết tôi, thì chẳng lẽ tôi bảo họ ly thân vợ hay sao? Họ đang hòa thuận với nhau; mười bà vợ sống chung, và họ không làm hại gì ai.

Chúng ta không phải ở đây để thay đổi thế giới mà là để thay đổi chính mình. Nếu người Hồi Giáo như vậy thì hãy để họ yên như vậy. Bây giờ, họ không còn phải "faire la guerre" nữa; họ không còn phải gây chiến tranh nữa, nên họ có thể theo tôi. Nếu họ còn muốn duy trì thái độ hiếu chiến thì họ có thể ở ngoài vòng đai của chúng ta.

Không phải chỉ có người Hồi Giáo gây chiến tranh, mà người Cơ Ðốc Giáo, Phật Giáo, và những người khác cũng vậy, bởi vì họ hiểu lầm lý thuyết về nguồn gốc của họ. Ðức Phật không bao giờ tạo chiến tranh, nhưng một số Phật tử gây chiến. Ðức Chúa không nói là Ngài đến để làm chiến tranh. ý Ngài nói là Ngài không đến với hòa bình, mà với một thanh gươm. Ngài nói là Ngài sẽ làm cho con chống lại cha, v..v.. ý Ngài nói là sợi dây nghiệp chướng sẽ bị cắt đứt; rằng là Ngài đến với thanh gươm trí huệ; rằng ngay cả mọi ràng buộc gia đình sẽ thành như là không có. Vì vậy, cho dù người cha tin vào chuyện ăn thịt, người con sẽ ăn chay. Và lấy thí dụ, trước đó nếu gia đình ràng buộc, gắn bó nhau trong một tình thương rất hạn hẹp, thì sau khi Tâm Ấn họ sẽ thương yêu nhau như thương yêu những đồng tu khác - tất cả anh chị em. Ðó là điều Ngài muốn nói.

Như quý vị biết, trong nhóm chúng ta cũng xảy ra như vậy. Cho dù cha mẹ có dùng quyền uy của mình để bắt con cái ăn thịt, chúng cũng không ăn. Cho nên, đó là một loại "chống lại cha mẹ." Trong trường hợp đó, nó giống như vậy. Nhưng Chúa không bao giờ bênh vực cho chiến tranh. Ðó là lý do tại sao Ngài nói: "Hãy trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar," rồi khi bị người ta đóng đinh trên thập tự giá, Ngài không chống lại, dù Ngài có thể làm như vậy được. Ngài có sự hậu thuẫn của nhiều đệ tử, họ muốn tôn Ngài làm vua cho người Do Thái, nhưng Ngài không muốn. Ngài nói: "Vương quốc của Ta không phải ở Ðịa Cầu này." Cho nên quý vị thấy, Ðức Chúa là người của hòa bình. Chiến tranh mà Ngài nói đến đó là chiến tranh về tinh thần, đệ tử chúng ta phải chống lại ảo ảnh của Ma, những bịp bợm và cạm bẫy của Ma, lực lượng của Ma, những ảo ảnh, vua của sự đen tối, những cái cầm giữ chúng ta lại " chúng ta chống lại những thứ đó.

Bình thường, tôi không thích tranh luận đầu óc, nhưng tôi biết quý vị còn mới nên tôi cố gắng hết sức hạ xuống để đưa quý vị. Nếu không, tôi rất ghét tranh luận và đấu trí. Theo trong Kinh Koran thì người ta có thể tranh đấu, không phải tạo chiến tranh, mà là bảo vệ cho chính họ. Quý vị phải nghĩ tới thời điểm và hoàn cảnh mà vị Giáo Chủ Mohammed cũng như những đệ tử của Ngài đang gặp phải. Họ bị trừng trị vì lúc đó không có nhiều người hiểu Minh Sư tại thế là gì. Cũng cùng lý do đó mà họ giết Chúa Giê Su, phỉ báng và cố gắng ám hại Ðức Phật.

Thời buổi này cũng xảy ra như vậy. Một số người cũng phỉ báng tôi, gây rất nhiều chuyện phiền phức vì hiểu lầm. Họ không chịu bỏ thì giờ ra để học hỏi những gì tôi muốn dạy. Họ chỉ lấy một, hai câu có thể là bị in sai hoặc dịch sai, hay họ chỉ nghe lại những gì người khác nói rồi cố gắng gây rắc rối. Nhưng đây chỉ là một thiểu số rất ít so với số đông người tốt, như quý vị, nên không sao.

Nhưng khi Giáo Chủ Mohammed còn sống thì thật là khủng khiếp. Ở đâu họ cũng bị theo dõi, trừng trị, nên họ phải tự vệ. Và hậu quả tiếp theo cuộc chiến đó là họ phải lấy nhiều vợ. Bởi vì nhiều đàn ông chết trong trận chiến để lại nhiều góa phụ và con cái không có người chăm nom, nên vị Giáo Chủ hoặc người lãnh đạo nói: "Hãy nắm tay họ và chăm sóc cho những người yếu đuối và trẻ mồ côi. Hãy thương yêu họ như thương yêu vợ, con mình." Dĩ nhiên! Nhưng không phải lúc nào cũng là về thể xác.

Chẳng hạn, nhiều khi chồng của một đồng tu chết hay gì đó, hay người vợ chết, rồi để lại mấy đứa con, chúng ta cũng đem họ đến ở nhà của một đồng tu khác và săn sóc cho họ. Nhưng đó không phải là chuyện tiếp xúc về thể xác; mà chỉ là chăm lo cho họ như anh chị em, như con cái của mình, chồng vợ của mình. Vì vậy, vị Giáo Chủ nói: "Nếu ngươi đem nhiều bà vợ về nhà thì phải lo cho họ một cách đồng đều." Dưới điều kiện đó, quý vị có thể đem nhiều người về nhà. Chẳng hạn, nếu cho vợ mình một bộ nữ trang thì cũng phải có khả năng cho người kia giống vậy. Ðược vậy quý vị mới có thể ôm họ vào lòng và chăm sóc cho họ.

Ðó cũng giống như hệ thống bảo chứng thời này - rất là văn minh. Nếu muốn nhận một đứa con nuôi thì quý vị phải khai với chính phủ xem mình có đủ tiền trong nhà băng hay không, có bao nhiêu tài sản, để coi quý vị có lo được cho đứa trẻ hay không. Quý vị thấy đó, rất là văn minh, mặc dù vào thời ấy không có luật lệ bảo chứng gì cả. Người Hồi Giáo giống như vậy. Cho nên thật ra nếu muốn nghiên cứu một kinh điển tôn giáo nào, chúng ta nên nghiên cứu cho đến cùng, tới khi nào tuyệt đối không còn ngờ vực gì nữa. Nhưng nếu chỉ lấy một hay hai câu rồi nói: "Ðiều đó không tốt; người Hồi Giáo không tốt," là chúng ta sẽ có thành kiến.

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Ba Lê, Pháp Quốc
Ngày 24 tháng 4, 1993
(Nguyên văn tiếng Pháp)

V: Giáo lý của Ngài có thích hợp với Hồi Giáo không?

SP: Có chứ, tại sao không? Hồi Giáo dạy mọi người làm vị khách tốt trên Ðịa Cầu, và tìm kiếm Thiên Ðàng khi còn sống là điều cần thiết. Tôi cũng cống hiến cùng thứ. Tôi dặn quý vị giữ Ngũ Giới, nó cho chúng ta đức tính cao cả, trí huệ và hòa bình thế giới. Tôi cũng cống hiến quý vị con đường để tìm thấy được Thượng Ðế ngay tức khắc. Do đó, con đường của chúng tôi thích hợp với tất cả các tôn giáo tốt khác.


Tin Sức Khỏe [Top]

Phương Pháp Trị Liệu Bằng Ánh Sáng Và Âm Thanh Trong Y Khoa

Do Sư Huynh Shih-Hurng Loh, Ðài Bắc, Formosa
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa và tiếng Anh)

Như chúng ta đã biết, Pháp Môn Quán Âm gồm có hai phần: Quán ánh Sáng và quán Âm Thanh. Theo giáo lý của Sư Phụ thân yêu và theo vô số những thể nghiệm từ các đồng tu, chúng ta đều biết rằng ánh Sáng và Âm Thanh nội tại không những giúp chúng ta phát triển về mặt tâm linh, mà còn duy trì sức khỏe cho cơ thể. Nhiều phương pháp trị liệu bằng ánh Sáng và Âm Thanh gần đây trong y học cũng đã cung cấp một bằng chứng tương đương, làm cho chúng ta vững tin hơn, rằng ngay cả ánh sáng và âm thanh vật chất bên ngoài còn có hiệu lực trong việc chữa lành thân thể, huống chi là ánh Sáng và Âm Thanh bên trong mà chúng ta đang thiền quán hàng ngày. Những thành quả tốt hữu hình cũng như vô hình của ánh Sáng và Âm Thanh nội tại được thể hiện trong đời sống nhiều người. Trong khi khoa học hiện đại đang tiến bộ, sự thật về "Pháp Môn Quán Âm trị được tất cả bệnh tật" sẽ càng ngày càng rõ rệt, và sự thật về việc hành thiền là một hình thức cao nhất trong khoa học sẽ càng ngày càng hiển nhiên hơn nữa.

Phương Pháp Trị Liệu Bằng Ánh Sáng Cực Mạnh
Trong Việc Chữa Bệnh Ung Thư

Khoảng chừng 25 0ân số Hoa Kỳ sẽ được chẩn đoán là bị bệnh ung thư trong đời họ, với một triệu bệnh nhân ung thư mới được chẩn bệnh mỗi năm. Tiếc thay, khoa giải phẩu và ngành quang tuyến chỉ có thể chữa được dưới 1/4 tổng số bệnh nhân này. Hầu hết những người còn lại sẽ được điều trị bằng thuốc men trong thời gian bệnh hoạn. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, pháp trị liệu bằng thuốc sẽ chỉ làm cho bệnh trạng lùi lại, biến chứng và hoặc bịnh tái phát có thể đưa đến tử vong (1). Vì thế, khám phá ra một phương pháp trị liệu hay hơn cho việc chữa bệnh ung thư luôn luôn là mục đích của các khoa học gia về y-học.

Gần đây, phương pháp trị liệu bằng cách chụp hình dùng ánh sáng (Photodynamic Therapy), một phương pháp điều trị mới không thuốc men, đang được xử dụng để điều trị nhiều loại ung thư trầm trọng, chẳng hạn như giết các tế bào ung thư (2). Phương pháp này dùng sự tổng hợp của chất nhạy ánh sáng (silicon-pathalocyanine, Pc4) và một loại ánh sáng cực mạnh hữu hình. Trước tiên, loại hóa chất nhạy ánh sáng Pc4 được đặt vào trong các tế bào ung thư. Khi chất Pc4 được ánh sáng cực mạnh rọi vào, nó sẽ gia tăng sản xuất chất NO và những chất oxýt hóa khác như OH và O2 bên trong các tế bào khiến cho tế bào tan rã và chết (2). Phương pháp này được dùng để cải tiến hiệu quả của cách trị liệu bệnh ung thư và đã thu hút được nhiều sự chú ý trong việc xử dụng tại các phòng mạch.

Phương Pháp Trị Liệu Bằng ánh Sáng Cực Mạnh Cho Chứng Buồn Nản Khó Chịu Trước Kỳ Kinh Nguyệt.

Kích thích tố của nữ giới gồm có hai loại chính là Estrogen và Progesterone. Những thay đổi của hai loại kích thích tố này trong cơ thể đóng một vai trò trọng đại trong việc phát triển nữ tính, điều khiển sự thai nghén và chu kỳ kinh nguyệt, và sự chuyển điệu của nhiều biến thái khác (3). Những người với kích thích tố tăng giảm bất thường có khuynh hướng cảm thấy khó chịu về thể xác lẫn tâm thần. Bệnh tinh thần buồn nản trước kỳ kinh nguyệt (PMDD) là một triệu chứng thông thường nhất, đó là tánh tình mất thăng bằng trầm trọng trước kỳ kinh nguyệt, như buồn bực, căng thẳng, hồi hộp và thân thể không được thoải mái (4). Thông thường, các loại thuốc trị bệnh buồn và pháp trị liệu tâm thần theo lối cổ được dùng để điều trị cho các bệnh nhân bị tâm thần rối loạn trước ngày kinh nguyệt. Tuy nhiên, những tác dụng phụ trong việc dùng thuốc không thể tránh được, khiến cho bệnh nhân phải ngừng uống thuốc. May mắn thay, theo những nghiên cứu Y Khoa gần đây, Phương pháp trị liệu bằng ánh Sáng Cực Mạnh cho thấy thành quả trong việc chống lại những triệu chứng trước ngày kinh nguyệt và trong cách chuyển hóa sự rối loạn này. Nhiều dữ kiện nghiên cứu cho thấy rằng sau một tuần điều trị bằng ánh Sáng Cực Mạnh (6000 đơn vị ánh sáng trong 2 giờ vào buổi sáng và buổi chiều mỗi ngày), các người với chứng PMDD được thuyên giảm một cách đáng kể trong nhiều phương diện (4;5;6).

Phương Pháp Trị Liệu Bằng ánh Sáng
Trong Việc Ðiều Trị Triệu Chứng Triệt Thối
Của Bệnh Nghiện Rượu

Ước chừng 65 0ân số Hoa Kỳ uống rượu. Trong số này, hơn 10 triệu người bị nghiện rượu và 10 triệu người nữa vì uống rượu quá độ, đã mang ảnh hưởng xấu đến cho xã hội, như bị bắt tù, tai nạn xe cộ, hành vi bạo lực, tai nạn nghề nghiệp, và những hậu quả tai hại cho sức khỏe và khả năng làm việc. Những người nghiện rượu có lẽ cũng lạm dụng hệ thống y-tế, và tạo thành một con số lớn trong tổng số bệnh nhân. Hậu quả là uống rượu thái quá trở thành một vấn đề trầm trọng cho sức khỏe trong công chúng (7). Thêm vào đó, những người nghiện rượu kinh niên trở thành lệ thuộc vào rượu về thể xác lẫn tinh thần. Vì vậy, sau khi dùng rượu một thời gian, rất khó cho họ bỏ rượu được, bởi vì sự ngưng lại dẫn đến những triệu chứng triệt thối trầm trọng, như hồi hộp, mất ngủ kinh niên, run rẩy, bực tức, bệnh nhịn ăn, bối rối, và cử động quá độ.

Thông thường, các loại thuốc an thần được dùng cho những bệnh nhân này. Tuy nhiên, điều được khám phá ra gần đây trong các phòng thí nghiệm cho thấy rằng phương pháp trị liệu bằng ánh Sáng Cực Mạnh có thể cải tiến triệu chứng trong thời gian triệt thối của bệnh nghiện rượu. Trong cuộc thí nghiệm, ánh Sáng Cực Mạnh (cường độ: 3000 đơn vị ánh sáng; thời gian xử dụng: 2 giờ buổi sáng và 2 giờ buổi chiều mỗi ngày) đã được áp dụng cho mười bệnh nhân không được chữa trị bằng thuốc an thần. Kết quả của cuộc thí nghiệm này cho thấy rằng phương pháp trị liệu bằng ánh sáng đã cải tiến giấc ngủ và sự ổn định tinh thần của các bệnh nhân với những triệu chứng triệt thối nghiện rượu trầm trọng (8).

Phương Pháp Trị Liệu Bằng Ánh Sáng Cực Mạnh
Trong Việc Chữa Bệnh Parkinson

Bệnh Parkinson là chứng bệnh loạn thần kinh rất thông thường đứng vào hàng thứ tư trong giới người già, ảnh hưởng tới 5 triệu người Mỹ nói riêng. Hơn nữa, chứng bệnh có liên hệ tới tuổi già, với hơn 660ệnh nhân là ngoài 50 tuổi (9). Parkinson là một thứ bệnh phát triển không ngừng, rối loạn dây thần kinh vận chuyển bắp thịt, với đặc tính run lẩy bẩy, cứng bắp thịt, tư thế không vững, và cử động chậm chạp (10). Tính chất đặc biệt nhất của bệnh Parkinson là run rẩy nhiều hơn trong lúc nghỉ và run rẩy bớt đi khi cử động. Những người mắc bịnh này cũng không thể giữ được tư thế bình thường.

Bệnh Parkinson có thể được điều trị bởi thuốc men, thông thường nhất là L-dopa. Tuy nhiên, yếu điểm chính của L-dopa trong việc điều trị là nó chỉ hữu hiệu trong khoảng từ 3 tới 5 năm. Sau thời gian dùng thuốc này, bệnh nhân có thể bị hiện tượng lúc có lúc không (đôi khi thuốc có công hiệu và đôi khi không). Ngoài ra, dùng thuốc này dài hạn sẽ đưa đến tình trạng suy nhược thần kinh (9;10).

Gần đây, 40 bệnh nhân mắc bệnh Parkinson được điều trị bằng một loại ánh sáng nhân tạo màu trắng cực mạnh (cường độ: 3300 đơn vị ánh sáng) với "ngày nghỉ thuốc" hoàn toàn hay một phần. Ðiều trị này cho thấy phương pháp trị liệu bằng ánh Sáng Cực Mạnh đã làm cho bệnh nhân dễ dàng trải qua những "ngày nghỉ thuốc". Nó cũng có kết quả trong việc làm giảm bớt sự trầm trọng của chứng cứng bắp thịt và chứng chậm chạp (nhưng không giúp cho chứng run rẩy), giảm bớt chứng buồn và cải tiến động cơ (11).

Những phương thức trị liệu khác dùng "ánh Sáng" gồm có phương pháp trị liệu bằng ánh Sáng Hữu Hình dùng trong cách điều trị bệnh phong ngứa, bệnh nổi bứu, bệnh viêm da, bệnh vàng da trong trẻ sơ sinh; Tia Tử Ngoại dùng vào việc tẩy uế và diệt trùng; Tia Laser dùng trong các cuộc giải phẩu, pháp trị hơi nóng, pháp trị áp xuất photon và châm cứu; pháp trị photochemical cho các bệnh về da, v.v... (12).

Các Phương Pháp Trị Liệu Có
Liên Quan Tới "Âm Thanh"

Phương pháp trị liệu Siêu Âm dùng 20,000Hz hay âm thanh cao để gia tăng tốc độ trong các tế bào và làm mềm các mô, nhiệm vụ giống như một "tiểu đấm bóp". Nó cũng tạo sức nóng trên mặt của các mô để gia tăng tính thẩm thấu (hút). Phương pháp này được dùng để trị chứng viêm hệ thần kinh, màng gân và các tuyến trong vú, trặc bắp thịt, sẹo, cứng da, hậu quả của bệnh ngập máu và các bệnh về võng mô và thần kinh thị giác. Những phương pháp trị liệu khác dùng sự phối hợp của dòng cơ năng và siêu âm để trị các mô và chứng đau thần kinh (12).

Từ những hiệu quả của các phương pháp trị liệu dùng ánh sáng và âm thanh vật chất, chúng ta có thể kết luận rằng sự thiền quán ánh Sáng và Âm Thanh Nội Tại không những quan trọng cho sự phát triển tâm linh, mà còn có kết quả lớn lao về thể xác và tinh thần của chúng ta, bao gồm: Tăng gia chức năng của tế bào, loại trừ những tế bào không khỏe mạnh, củng cố và bảo vệ hệ thần kinh không bị suy đồi, chữa các bệnh hồi hộp, và kích thích những điểm acupressure. Nó cũng có thể làm ta ngủ ngon hơn, trị được bệnh buồn và chứng hồi hộp. Chúng tôi tin rằng ánh sáng và âm thanh còn có nhiều chức năng hơn, đang chờ các khoa học gia khám phá. Khi thiền ánh Sáng và Âm Thanh Nội Tại, giống như chúng ta đang được chữa trị bởi một loại "thuốc hay nhất" trong vũ trụ " một pháp trị liệu để sửa chữa, bồi dưỡng thể xác, tinh thần và linh hồn của chúng ta. Sư Phụ đã nhấn mạnh rằng chúng ta nên ngồi thiền 2 tiếng rưỡi mỗi ngày và duy trì tỷ lệ thích hợp giữa thiền ánh Sáng và thiền Âm Thanh. Nó cũng giống như toa bác sĩ, và chúng ta phải theo đúng "liều" mới có kết quả tốt.

Tài liệu tham khảo:


  1. Harvey RA. & Champe RC. (1998). Lippincott's illustrated reviews pharmacology. 2ed. J.B. Loppoincott Company. Chapter 38:373.

  2. Cupta S., Ahmad N. & Mukhtar H. (1998). Involvement of nitric oxide during phthalocyanine (Pc4) photodynamic therapy-mediated apoptosis. Cancer Research. 58:1785-8.

  3. Brody TM., Larner J. & Minneman KP. (1998). Human Pharmacology. 3rd edition. Chapter 38:p499-506.

  4. Parry BL., Berga SL., Mostofi N., Klauber MT. & Resnick A. (1997). Plasma melatonin circadian rhythms during the menstrual cycle and after light therapy in premenstrual dysphoric disorder and normal control subjects. Journal of Biological Rrhythms. 12:47-64.

  5. Lenzinger E. Diamant K. Vytiska-Binstorfer E. & Kasper S. (1997). Premenstrual dysphoric disorder. An overview of diagnosis, epidemiology and therapeutic approaches. Nervenartz. 68: 708-18.

  6. Parry BL., Udell C., Elliott JA., Berga SL. Klauber MR., Mostofi N., LeVeau B. & Gillin JC. (1997). Blunted phase-shift responses to morning bright light in premenstrual dysphoric disorder. Journal of Bilogical Rhythms. 12:443-56.

  7. Brody TM., Larner J. & Minneman KP. (1998). Human Pharmacology. 3 edition. Chapter 23:p435-437.
  8. Schmitz M., Frey R., Pichler P., Ropke H., Anderer P., Saletu B. & Rudas S. (1997). Sleep quality during alcohol withdrawal with bright light therapy. Progress in Neuro-Psychopharmacology & Biological Psychiatry. 21:965-77.

  9. Harvey RA. & Champe RC. (1998). Lippincott's illustrated reviews pharmacology. 2 edition. J.B. Loppoincott Company. Chapter 29:385-7.

  10. Brody TM., Larner J. & Minneman KP. (1998). Human Pharmacology. 3rd edition. Mosby Ltd. Chapter 25:p339-40.

  11. Artemenko AR. & Levin IaI. (1996). The phototherapy of parkinsonism patients. Zhurnal Nevropatholgii I Psikhiartrii Imeni S-S-Korsakova. 96:63-6.

  12. http://www.jiexiang.com.cn/index5_2.htm


Bạn Có Biết [Top]

Ý Nghĩa Thật của Thánh Ðường, Ðền Thờ,
Chùa Chiền và Kim Tự Tháp

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Tân Gia Ba
Ngày 9 tháng 3, 1993
(Nguyên văn Tiếng Anh)

Nhà thờ, giáo đường bên ngoài, đền thờ, và chùa chiền đều là dấu hiệu tượng trưng cho Thiên Quốc bên trong chúng ta, được cất lên để nhắc nhở chúng ta đến đền thờ của riêng mình mà Chúa Giê Su đã nói: "Hãy biết các con là ngôi đền của Thượng Ðế và Ðức Thánh Cha đang ngự trong con."

Tôi nghĩ nhà thờ, chùa chiền là những vật vô cùng thiêng liêng, thần thánh, tượng trưng cho tấm lòng sùng bái của chúng ta đối với Thượng Ðế. Mỗi khi đi ngang qua các giáo đường, đền thờ, hay ngôi chùa của bất cứ đạo nào thì chúng ta nên thật tình nhắc nhở chính mình tới lòng tôn kính của chúng ta đối với các vật biểu hiện cho sự thờ phụng này. Có lẽ tốt hơn cho những người đi chùa, nhà thờ, hay các đền đài này là họ thật sự tìm được Thượng Ðế bên trong, bên trong ngôi đền của họ nữa, không phải chỉ có bên trong ngôi chùa gạch mà còn bên trong ngôi chùa thật sự của Thượng Ðế.

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Thái Lan
Ngày 7 tháng 12, 1994
(Nguyên văn tiếng Anh)

Ngồi đâu cũng được - trên xe buýt, trong công viên, trong phòng khách, nhắm mắt lại và tọa thiền. Quan trọng hơn nữa là cộng tu mỗi tuần. Chúng ta có thể sắp xếp những ngày khác nhau để tiện cho nhiều người, như một buổi vào ngày Thứ Tư, một buổi Thứ Sáu hoặc một buổi Thứ Bảy và một buổi vào ngày Chủ Nhật. Khi nào có lễ lạc thì chúng ta có thể cùng nhau họp mặt ở một nơi. Nếu nơi đó không đủ rộng thì có thể tìm một nơi khác rộng hơn. Ðừng có nghĩ đến chuyện xây nhà thờ cho tôi, chỉ cần một nhà kho hay gì đó là được rồi. Cho nên, bây giờ quý vị biết là chùa chiền, giáo đường, và nhà thờ là xuất phát từ đâu - từ cộng tu!

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Mã Lai Ał
Ngày 4 tháng 6, 1993
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Ðạo tràng Phật Giáo vốn là một nơi dùng để cộng tu cho những người đã thọ Tâm Ấn. Ðó là mục đích nguyên thủy của nó, giống như Trung Tâm cộng tu của chúng ta. Sau khi thọ Tấm Ấn, họ tập trung lại với nhau để ngồi thiền mỗi tuần một lần hay hai tuần một lần. Họ nghe giáo lý của vị Sư Phụ và đặt câu hỏi. Vị Minh Sư sau đó sẽ gởi một vài đệ tử tới để trả lời các câu hỏi của họ. Nhờ vậy, họ khuyến khích lẫn nhau tu hành tinh tấn. Trong lúc cộng tu, lực gia trì rất là lớn, và họ có thể tiến bộ nhanh hơn. Ðây là mục đích nguyên thủy của đạo tràng Phật Giáo.

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Tây Hồ, Formosa
Ngày 4 tháng 6, 1995
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Kim tự tháp không phải được cất lên để làm lăng tẩm. Sau này họ tìm ra đó không phải là mục đích. Tôi nghĩ họ xây kim tự tháp là để cho việc tu hành. Tôi vừa mới bảo quý vị rằng lấy được "Cẩm Nang Trí Huệ" vào thời xưa là một điều hết sức khó khăn. Ðây là một trong những lý do tại sao họ xây kim tự tháp. Là vì vào thời xưa tu hành rất khó khăn vì sợ bị người khác biết. Ngồi ở đâu được một khi cộng tu ngoài sa mạc? (Cười) Cho dù có hộ pháp chung quanh, người ta vẫn nhìn thấy được.

...Ngoài sa mạc hoang vu, quý vị sẽ bị nướng đến chết nếu ngồi ở đó ban ngày, còn ban đêm thì đông đến chết. Nhiệt độ ngoài sa mạc hết sức nóng vào ban ngày và hết sức lạnh vào ban đêm. Hai thái cực " đó là lý do tại sao họ xây kim tự tháp. Bên trong rất, rất là yên tĩnh. Về sau này người ta tìm lối vào rất khó.

....Chỉ có người của họ mới biết được lối vào. Bên trong rất rộng và hoàn toàn trống rỗng. Dĩ nhiên là không có gì cả; chúng được xây lên để cho mọi người ngồi thiền ở bên trong, để truyền Tâm Ấn, v.v..., mà không bị người ngoài trông thấy.

.....Một nơi thật sự dành cho việc tu hành là nơi chỉ để cho người ta đến thiền. Bên trong không có gì cả; hay nhiều lắm cũng là một tượng Phật hay hình Ðức Phật. Trước kia họ dùng tượng Phật, nhưng bây giờ chụp hình hay dùng hình có lẽ nhanh hơn. Nó trống là vì người ta cần ngồi trong đó, giống như chỗ của chúng ta ở đây.


Chuyện Thế Giới [Top]

Lợi Ích của Việc Cộng Tu

Do sư tỷ Rashida Harris, Seattle, Washington, Hoa Kỳ
(Nguyên văn tiếng Anh)

Một trong những khó khăn lớn nhất của tôi
hồi trước là việc đi cộng tu. Sau những lần đình hoãn do phản ứng chống cự mãnh liệt trong tôi về việc cộng tu, tôi đã quyết định cầu nguyện Sư Phụ giúp đỡ. Trong lúc thiền, tôi xin Ngài giúp tôi vượt qua trở ngại này và nhận biết nguyên nhân nào đã gây ra chướng ngại đó.

Cuối cùng, sau khi hành thiền thật nhiều và chịu khổ sở vì sự thiếu cương quyết và thiếu niềm tin, tôi đã quyết định đi gặp Sư Phụ. Ngài đã đáp lại lời cầu nguyện của tôi bằng cách cho phép tôi tham dự thiền bế quan quốc tế ở Anh. (Qua nhiều phép lạ, tôi đã được đi vào phút cuối). Lúc đó tôi không hiểu tại sao tôi cảm thấy một sự thúc giục mạnh mẽ bảo tôi đi dự thiền như thế, nhưng bây giờ tôi hiểu. Trong lúc ở đó, Sư Phụ ban rải cho tôi một tình thương bao la không sao kể xiết, đến nỗi tôi đã khóc như một đứa bé vừa mới được cứu thoát ra khỏi nanh vuốt quỷ thần. Tôi cảm thấy vô cùng an toàn, trong sạch, hạnh phúc, và hứa với Sư Phụ tôi sẽ đi cộng tu, bất chấp điều gì. Thông điệp của Sư Phụ ban cho tôi vô cùng rõ ràng, minh bạch, tràn ngập yêu thương, đến nỗi tôi không thể viện lý do nào được nữa.

Sự không chịu đi cộng tu của tôi là một trong những bài học bên trong mà tôi cần phải học. Nhờ Tình Thương Thánh Thiện mà Sư Phụ ban cho mỗi chúng ta mà tôi đã học được bài học này một cách vô cùng tuyệt diệu. Ði cộng tu không còn là một sự cố gắng cực khổ nữa. Lái xe một trăm dặm cũng không còn là một gánh nặng. Bây giờ tôi đã nhận thức được rằng sự gia trì và phước báu có được qua những lần đi cộng tu thật đáng công lao. Sự chống cự như một hòn sỏi đè nghẻn tim tôi trước kia, nay đã được nhấc ra. Nhờ sự nhấc ra này mà nó không được phép to dần và trở thành cục đá. Cảm ơn Sư Phụ đã giúp cho con!

Khi Sư Phụ bảo việc gì quan trọng chúng ta phải làm, tức là việc đó quan trọng. Ngài không nói chúng ta những gì mà không có ích cho chúng ta. Luôn luôn có sự gia trì trên bước đường tu học trưởng thành. Ngay cả bài học chúng ta phải học cũng là một sự gia trì, và sự gia trì này sẽ gia tăng gấp bội khi chúng ta tiến bộ hơn trong việc tu hành. Chúng ta vô cùng có phước được làm đệ tử của Vô Thượng Sư Thanh Hải. Ði cộng tu không những có ích cho chúng ta mà còn có ích cho các bạn đồng tu nữa. Ðối với những ai có cùng chướng ngại, tôi hy vọng bài viết này có thể giúp họ thêm hứng khởi, vượt qua.

Hãy Tin!

Sư huynh Wessel van Leeuwen, Cape Town, Nam Phi Châu
(Nguyên văn tiếng Anh)

Vợ chồng tôi mới từ Hemanus, Nam Phi, trở
về sau chuyến viếng thăm con trai chúng tôi ở Làng Camphill, một cộng đồng chuyên trồng trọt bằng phương pháp thiên nhiên cho những người bị bệnh tâm thần. Những đồng tu tham dự kỳ Thiền Quốc Tế tại Cape Town vào tháng 12, 1999, tại khu vực cắm trại Habonim gần đấy, có thể vẫn còn nhớ mùi vị bánh mì nướng của Camphill.

Sau đây là vài điều tôi được biết trong chuyến viếng thăm Camphill, tuy không có gì lạ đối với chúng ta, nhưng nó xác nhận một lần nữa những gì Sư Phụ thân yêu luôn luôn dạy dỗ.

Rạng sáng, người phụ nữ coi sóc Camphill không có ở nhà khi chúng tôi đến thăm, nhưng cậu con trai trưởng, Marc (18 tuổi), của bà có mặt. Tôi hỏi cậu ấy đã có ai đến thăm Habonim không, thì cậu trả lời: "Có, nhưng không phải cùng loại người." Trí tò mò nổi dậy, tôi yêu cầu cậu giải thích câu nói trên. Ðây là những gì cậu ấy nói.

Cậu nói rằng mặc dầu mẹ cậu biết có nhiều ngàn người đang tham dự Thiền Bế Quan ở đó, nhưng bà cảm thấy như không quá một trăm, bởi vì "các người" rất yên lặng, lịch sự, và tỏa ra một từ trường rất an lành. Ðêm cũng như ngày không nghe thấy tiếng la hét ồn ào. Cái thật sự đã làm cho Marc sững sốt khi trở về nhà đó là khung cảnh khu vực cắm trại sau khi Thiền Bế Quan chấm dứt! Nó rất gọn gàng, sạch sẽ và ngăn nắp. Chưa hết!

Marc nói: "Bầu không khí nói chung... Làm sao tôi có thể giải thích được? Có thể nói là nó có một từ trường rất tốt, một cảm giác an lành, hòa bình và thanh tịnh... Tôi không biết diễn tả như thế nào. Rất là dễ chịu. Ðáng tiếc là bây giờ không còn được như thế nữa. Tôi chỉ muốn nói là trong khoảng sáu tuần lễ, chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc, yên tịnh và mãn túc. Mấy con chó của chúng tôi cũng hiền hơn và biết nghe lời hơn. Chúng tôi ngủ để cửa ra vào và cửa sổ mở toang, tôi cảm thấy rất an toàn, bảo đảm. Mấy tuần đó mẹ tôi đã không ăn một chút thịt nào và giảm hút thuốc ít nhất là một phần ba. Bà vẫn còn hút thuốc ít hơn, và chỉ lâu lâu mới ăn một chút thịt gà. Chúng tôi đều có đọc sách Sư Phụ; vâng, nó khác, rất là khác. Chúng tôi cảm thấy."

Các bạn có tin câu chuyện này không? Tin! Không những nó có thật, mà nó còn cho thấy một cách rất rõ ràng những gì Sư Phụ kính yêu thường hay nói: "Chúng ta có thể thay đổi thế giới bằng hành thiền tập trung và chăm chỉ.


Giáo Lý Chọn Lọc [Top]

Cộng Tu Là Cho Toàn Cầu

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Laguna Beach, CA, Hoa Kỳ
Ngày 6 tháng 11, 1993 (Nguyên văn tiếng Anh)

Mỗi đồng tu Quán Âm đều chia xẻ trách nhiệm làm sạch tinh cầu ở một mức độ nào đó.
Do đó, khi ngồi thiền với nhau trong một nhóm, không phải chúng ta thiền cho chính mình, hay để được năm đời giải thoát, hay cho nước Mỹ, hay cho gia đình mình thôi. Mà là thiền cho toàn thể tinh cầu. Và càng nhiều người thiền chừng nào thì càng tốt chừng đó.


Trên Ðường Tu Học [Top]

Pháp Quán Âm Ðã Biến Ðổi Tôi

Do Sư Huynh Yang Guang, Trung Quốc

Trước khi tu Pháp Môn Quán Âm, tôi đã bỏ hết tất cả năng lực để thỏa mãn cho bằng được những ham muốn của tôi về tiền tài danh vọng. Tôi nắm lấy mọi cơ hội có thể được để quảng cáo cho chính mình hoặc để được "nổi" hơn người khác. Dù chỉ là một lợi ích nhỏ trong công việc hay trong đời sống bên ngoài, tôi cũng cố gắng lấy lòng những người ở địa vị cao để được nổi bật và đem danh dự về cho tổ tiên dòng họ. Tuy nhiên, hành hạ đầu óc hàng ngày như thế để đeo đuổi sự thành công, đã trở thành một gánh nặng trong cuộc đời. Không những vậy, tôi lại còn ham phái nữ. Khi còn trẻ tôi đã thích nhìn gái đẹp và thường hay chìm đắm trong những chuyện tình tưởng tượng. Ðôi khi trí tưởng tượng của tôi trở thành ngông cuồng, điên dại và tôi không thể ngưng lại được. Tôi vẫn biết rằng điều đó là không tốt, và nó đã thành mối đe dọa đối với hạnh phúc gia đình. Nhưng tôi không thể bỏ được.

Một lần tôi về thăm gia đình, cha mẹ tôi nói với tôi rằng có một vị Sư tên là Thanh Hải, dạy Pháp Môn Vô Thượng có thể giải thoát con người và mang họ lên quả vị Thánh Nhân. Ðiều này làm tôi phải ngạc nhiên. Qua ảnh hưởng của cha mẹ tôi từ thuở nhỏ, tôi có đọc một vài quyển kinh Phật Giáo và đã có tập các loại Khí Công. Nhưng tôi chưa hề nghe đến một pháp môn nào có cái tên "Vô Thượng", huống chi là một vị Thầy gọi là "Vô Thượng".

Với kiến thức hẹp hòi, tôi đã đấu trí với cha mẹ tôi. Dù rằng không tin, không biết chắc chắn, nhưng tôi cũng tò mò và bắt đầu đọc quyển "Tức Khắc Khai Ngộ", vì tôi muốn biết Thanh Hải Vô Thượng Sư đã nói gì trong sách. Khi bắt đầu đọc, tôi không thể nào bỏ xuống, vì giáo lý của Ngài đã bắt đầu làm tôi ngộ ra trong rất nhiều khía cạnh. Sau cùng, tôi đã nhận thức được rằng dù cho địa vị có cao như thế nào, tiền bạc có nhiều bao nhiêu, sau khi chết chúng ta cũng chỉ còn một nắm xương tàn trong mộ. Sau một cuộc đời ngắn ngủi, chúng ta cũng không thật sự biết mình là ai, tại sao đến đây, và rồi sẽ về đâu. Chúng ta bỏ cả một cuộc đời và năng lực vào việc theo đuổi tiền tài, danh vọng hoặc để được "nổi" trên các đồng nghiệp, rồi cuối cùng, khám phá ra rằng chúng ta đã uổng phí cả một đời người cho những việc không tồn tại hoặc thậm chí không bao giờ hiện hữu. Thật sự, mục đích chính của cuộc đời là để tìm một con đường đưa đến sự vĩnh hằng, để thể nghiệm được thế giới của Chân Lý thánh thiện, và để được giải thoát.

Giáo Lý của Thanh Hải Vô Thượng Sư đã làm cho tôi khai ngộ, trí huệ của Ngài đã làm cho tôi vững lòng tin, và tôi quyết định tu Pháp Quán Âm. Nhưng buổi đầu tôi đã do dự vì giới luật chỉ định rằng một người phải trường chay thì mới được thọ pháp. Tôi lo rằng việc ăn chay sẽ gây khó khăn cho tôi trong vấn đề giao thiệp với người khác, và làm cho tôi mất nhiều cơ hội có tiền và địa vị cao. Vì vậy quý bạn có thể tượng tượng là tôi phải phấn đấu như thế nào! Tuy nhiên, sự dằn vặc trong tôi ngày càng thuyên giảm. Sau cùng tôi đã quyết định ăn chay suốt đời và tu Pháp Quán Âm.

Từ khi thọ Pháp Môn Quán Âm, tôi trở thành một con người hoàn toàn khác hẳn. Một nhân vật khao khát tiền tài danh lợi đã biến mất. Ước vọng quảng cáo chính mình và được vượt lên tất cả mọi người cũng không còn nữa. Tánh mê phái nữ của tôi cũng đã giảm thiểu rất nhiều, điều này đã làm cho hôn nhân của tôi bền vững và mang lại sự êm đềm, hạnh phúc trong gia đình. Mới đầu những đổi thay này đã làm cho tôi rất ngạc nhiên. Lực lượng nào đã biến đổi tôi như vậy? Những cải biến tính tình tuy đột ngột nhưng rất tự nhiên. Bây giờ tôi đã biết được rằng đó là nhờ lực lượng của Sư Phụ và Tình Thương của Thượng Ðế. Chỉ có qua việc tu Pháp Môn Quán Âm và câu thông với lực lượng vạn năng của Thượng Ðế, những tánh tình nhu nhược và những thói quen tật xấu của chúng ta mới có thể được cải biến một cách tốt đẹp.

Quan trọng hơn nữa, Pháp Môn Quán Âm còn có thể giải thoát chúng ta ra khỏi vòng sanh tử, và cho chúng ta trí huệ tột cùng. Không cái gì - dù là danh vọng, giàu sang hay người khác phái - có thể thay thế được cảm giác mãn nguyện, hoan hỷ và niềm tĩnh lặng có được qua Pháp Thiền Quán Âm. Phần thưởng lớn nhất mà tôi có được trong đời là biết Thanh Hải Vô Thượng Sư và tu Pháp Quán Âm. Cuộc đời tôi bây giờ tràn đầy ý nghĩa, thay vì uổng phí. Có một thành ngữ nói rằng: "Ta có thể thay sông đổi núi, nhưng không thể thay đổi được lòng người." Nhưng tu Pháp Môn Quán Âm, chúng ta có thể cải biến được tính nết của mình. Hơn nữa, qua pháp môn này, chúng ta còn có thể đạt được khai ngộ, và giải thoát ra khỏi vòng sanh tử. Một kho tàng không bao giờ hết!

Áo Giáp Thiêng Liêng

Người kể: Sư tỷ Xiao Chao, Ðài Trung, Formosa
Người viết: Sư tỷ Chen Guiju, Ðài Trung, Formosa

Sư Tỷ Xiao Chao năm nay 25 tuổi, nhưng đã lớn lên trong một gia đình thiếu tình thương. Năm lên 6 tuổi, cô tình cờ biết được cha cô đã ngoại tình. Gia đình đang đầm ấm bỗng trở nên rối loạn khổ đau khi những cuộc cãi vã giữa cha mẹ cô trở nên thường nhật. Anh chị cô cũng bắt đầu gây gỗ nhau. Ngay cả những bữa cơm gia đình cũng mang bầu không khí bất an vì không ai biết cha họ sẽ nổi nóng lúc nào.

Suốt thời thơ ấu, Xiao Chao đã trải qua rất nhiều chuyện đau lòng đến nỗi nhiều lần cô đã có ý tưởng tự vận. Tuy nhiên, vào những giây phút khủng hoảng đó, cô cảm thấy có một năng lực vô hình giống như một tấm che từ trên trời bay xuống bao bọc cô, một linh hồn tuyệt vọng. Cô tò mò dùng mấy ngón tay nhỏ bé sờ thử và cảm thấy đó là một bức tường chắc nhưng trong suốt vây quanh. Tấm giáp âm thanh này bao chung quanh cô cho tới khi cô không buồn nữa.

Tuy nhiên vì quá thiếu tình thương gia đình, những thái độ không tốt đối với mọi người và xã hội đã nẩy mần trong cô, và bắt đầu hiển lộ khi cô lớn lên. Khi lên trung học, cô bắt đầu tìm kiếm những khoái lạc trần gian qua thuốc lá, rượu, và hay gây lộn. Cô cũng trốn nhà đi. Khẩu hiệu của cô lúc bấy giờ là "Nếu tôi thích thì không có gì là tôi không dám làm." Quan niệm này làm cho cô càng can đảm thử qua đủ mọi điều cấm đoán, và không bao giờ nghĩ lại những gì mình đã làm. Bãi tha ma trở thành nơi lý tưởng vào đêm để cô hút thuốc và suy ngẫm. Ðể che đậy nỗi tuyệt vọng trong lòng, cô tuyên bố một cách giả tạo sự ương nghạnh không sợ hãi của mình: "Có gì đâu mà phải sợ? Ta chỉ có một cuộc đời. Lấy đi cũng chẳng sao!" Ngay cả lúc ở hồ tắm, cô cố leo lên chỗ cao nhất rồi lao đầu xuống nước để được nếm mùi tự vận. Cô không thể lấp đầy khoảng trống trong tim, và thường nghĩ đến vấn đề tự vận. Khi cô đi khám bệnh năm 21 tuổi, bác sĩ cho biết cô có rất nhiều bệnh, gồm bệnh sưng gan, chứng đau khớp xương và bệnh bạch cầu. Thế là Xiao Chao lại càng thêm tuyệt vọng.

Một thời gian sau, khi một người đồng nghiệp giới thiệu cho cô Pháp Môn Quán Âm, cô lập tức tỏ thái độ khinh bỉ: "Mấy người này bộ điên rồi sao, còn trẻ như vậy mà đã ăn chay?" Cũng như những người bình thường khác, cô đã không nhìn thấu qua được "hình dáng bên ngoài" của Sư Phụ, và cũng không muốn che dấu thái độ chỉ trích vô lễ của mình. Tuy nhiên, không bao lâu sau cô đã bị lôi cuốn bởi từ trường vô tư, thanh tịnh và tự tại của các đồng tu mà cô đã gặp. Cô bắt đầu tìm hiểu về Chân lý, nghiên cứu giáo lý Sư Phụ qua những cuốn Bản Tin hàng tháng, băng thuyết pháp, và bộ sách Tức Khắc Khai Ngộ. Từ từ, những người chung quanh nhận thấy cô thay đổi; cô trở nên sáng và thanh nhã. Khi được hỏi về sự biến đổi này, Xiao Chao nói: "Tôi chưa bao giờ thấy một vị Minh Sư nào thành thật, thẳng thắn và tự nhiên như vậy. Ngài thật khác hẳn những vị Minh Sư khác. Tôi thấy mấy tôn phái khác chỉ muốn thay đổi vận mạng của tín đồ hoặc dạy người ta bái lạy, niệm bùa chú, đốt hương khói ngộp phòng, và làm nhiều nghi lễ mâu thuẫn và phi lý."

Không lâu sau, cô thọ Tâm ấn. Lúc đó Xiao Chao mới tìm ra câu trả lời cho sự bí ẩn xưa kia, cái đã bảo hộ cô trong những giây phút đen tối của thời thơ ấu. Ðó là "dòng âm lưu" đã che chở cô. Ðó chính là Sư Phụ luôn luôn bảo hộ cô từ trước tới nay, ngay cả những khi cô lạc bước thật xa! Bây giờ, Xiao Chao mỗi ngày vui sướng hưởng thụ dòng âm lưu sưởi ấm linh hồn, xóa sạch dần dần những vết tích của một quá khứ không vui, và trong lòng tràn đầy thanh tịnh.

Trước đó, đầu óc cô thường hay bị khó chịu bởi những tư tưởng xấu, nặng nề, đến nỗi cô muốn đi mổ óc cho xong. Bây giờ với thái độ bình tĩnh và vững chãi, cô nói: "Qua sự thiền định và giúp việc cho Trung Tâm, tôi trở nên nhạy cảm hơn. Tôi đã vô tình để cho những tư tưởng xấu của tôi trong quá khứ làm ô nhiễm bầu không khí chung quanh. Bây giờ, mỗi khi những tư tưởng này đến, tôi phải bỏ nó qua một bên thật lẹ, để không còn bị Ma Vương lường gạt".

Cô cũng nhận thức rằng chăm chú vào chuyện tốt là một điều rất là cần thiết. "Chúng ta cần phải thận trọng hơn về thân, khẩu, ý của mình trong lúc làm việc. Luôn luôn tập trung. Khi đầu óc lường gạt chúng ta bằng cách đưa ra những ý tưởng như là 'Tôi mệt quá - nghỉ một chút cũng được', hoặc là 'Mấy hôm nay tôi ngủ không đủ', nó sẽ ảnh hưởng đến khuynh hướng và sự tham gia công việc của chúng ta. Chúng ta phải nhanh chóng phục hồi năng lực tâm linh, tập trung hết sức sống của mình để khởi đầu một nhiệm vụ khác, mà không bị quấy phá bởi Ma. Mỗi lần hoàn tất xong một công việc là chúng ta đã đạt được một thắng lợi to lớn đối với bản thân. Khi khả năng 'đề kháng' mạnh hơn, chúng ta sẽ vững vàng, cương quyết trước những thử thách mới. Chúng ta cũng có thể cười Ma mỗi khi nó cố lường gạt chúng ta với những ý tưởng như 'Tôi mệt quá', 'Sẽ có người khác làm thế ', hoặc 'Càng làm nhiều thì càng bị lỗi'. Thắng chính mình tức là đánh bại được Ma, bởi vì nó chỉ lẻn vào khi chúng ta yếu đuối. Tham gia vào công việc của Trung Tâm là nền tảng tiến bộ tâm linh trong chúng ta. Nếu muốn tiến bộ chúng ta không nên sợ cọ sát, mài dũa; càng được mài dũa, chúng ta sẽ càng chói sáng."

Chưa đầy một năm sau khi thọ pháp, Xiao Chao đi khám sức khỏe lần nữa. Cơ thể cô không còn một dấu hiệu gì của triệu chứng đau nhức khớp xương như hồi trước; cô cũng không còn bị chứng đau buốt mà lúc đó các bác sĩ không tìm được nguyên do. Tình trạng dị ứng lúc trước thỉnh thoảng làm mắt cô sưng húp cũng biến mất sau khi cô trường chay. Và những cơn xuyễn thường suyển vì hút thuốc càng thêm trầm trọng khiến cô đã nhiều lần bị đưa vào bệnh viện cấp cứu, nay đã bớt hẳn. Thêm vào đó, từ lúc tu Pháp Phương Tiện, cô dần dần qua được bệnh nghiện thuốc lá và rượu. "Nhiều lần thèm thuốc lá quá làm tôi muốn nổi khùng. Cảm giác ngây ngất đó cứ len lỏi vào đầu tôi, làm tôi phải lén hút một điếu. Nhưng khi vừa mới hút vào một hơi, tôi thấy hối hận. Ma đã dùng những cảm giác ảo tưởng này để gạt tôi."

Một thời gian sau khi thọ Tâm Ấm, Xiao Chao vẫn còn bị những cơn suyển hoành hành vào những buổi tối trước khi cô đi dự thiền bế quan. Cô phải ngồi suốt đêm dài trong tư thế bán kiết già vừa niệm Hồng Danh. Tuy vậy, cô tin tưởng mãnh liệt là cô sẽ vượt qua, vì cô tin chắc rằng Sư Phụ đang rửa nghiệp cho cô. Mặc dầu cô luôn đem theo thuốc đến nơi bế quan, nhưng khi bế quan vừa bắt đầu là cơn suyển của cô cũng hết. Sau một vài đợt rửa nghiệp, bệnh suyển của cô lành hẳn và không còn phải lệ thuộc vào thuốc men nữa. Cô đã nhận thức được một sự thật thần diệu, đó là Pháp Môn Quán Âm có thể trị mọi thứ bệnh. Bây giờ cô có một cái nhìn khác về thời thơ ấu kém may mắn của cô. "Nhìn lại thì tôi thấy rằng tất cả những kinh nghiệm bên ngoài này thật tình đã làm cho niềm tin của tôi trở nên vững vàng hơn trên con đường duy nhất đưa đến bờ giải thoát."

Sống Lại Qua Bàn Tay Linh Diệu của Thượng Ðế

Do đồng tu Phạm Thị Lan ở Warsaw, Ba Lan
(Nguyên văn tiếng Âu Lạc)

Khoảng hơn hai năm trước, tôi tưởng chừng
như đã đặt chân đến đường hầm cuối cùng của cuộc sống, và tôi nghĩ rằng cuộc đời tôi đã kết thúc tại đây. Nhưng tôi xin sơ qua vài nét về số phận của tôi trước khi tôi bước chân đến cửa đường hầm này.

Ðầu năm 1981, tôi vào bệnh viện cắt hai phần ba dạ dày vì dạ dày tôi bị loét quá nhiều. Không may tôi bị nhiễm trùng rất nặng và sinh mạng như "ngàn cân treo sợi tóc." Không hiểu vì sao tôi không chết, nhưng chỉ còn lại với tấm da bọc xương và dạ dày vẫn lở. Từ đó bệnh tình vẫn bám theo tôi dai dẳng. Tôi đã lang thang nhiều bệnh viện, tìm gặp nhiều bác sĩ Ðông, Tây Y và rất nhiều thầy lang nổi tiếng. Tôi đã uống hàng vạn viên thuốc đủ các loại và hàng ngàn thang thuốc bắc, song không một y sĩ hay thầy lang nào có thể chữa khỏi bệnh cho tôi. Vì thế, bản thân tôi và gia đình luôn sống trong sự nghèo khổ, lo âu và phiền não.

Cuối năm 1992, tôi ra nước ngoài nhằm thay đổi môi trường sống với hy vọng may ra bệnh tình thuyên giảm. Song dù có thay đổi vị trí trên quả địa cầu, định mệnh vẫn là định mệnh. Nhiều đêm vợ chồng tôi không ngủ được vì những cơn đau đớn của tôi. Cơn bệnh dày vò làm tôi vật vả đến kiệt sức. Chồng tôi cũng cố gắng làm hết cách cho tôi đỡ đau, nhưng vô hiệu quả. Tôi nghĩ rằng tôi đã không làm tròn bổn phận của một người con, một người vợ và một người mẹ, còn nói chi có thể giúp ích cho đời.

Nhiều đêm tôi cầu xin Trời Phật rủ lòng thương sớm cho tôi được trở về cùng cát bụi. Tôi đã đề nghị chồng tôi mua vé máy bay cho tôi trở về để được chết tại quê nhà. Nghĩa là lúc ấy tôi ở trong tâm trạng chới với của một người mỗi ngày một lún sâu xuống vực thẳm mà không ai có thể cứu nổi mình. Nhưng cũng vào thời điểm này, do sự tình cờ hay sự sắp đặt của Tạo hóa, tôi đã có được một Bản Tin và một cuốn khai thị của Sư Phụ mang tên "Tức Khắc Khai Ngộ, Hiện Ðời Giải Thoát." Cuốn sách như có một lực lượng vô hình cuốn hút tôi rất mạnh.

Ngay sau khi đọc sách của Sư Phụ, trong cơn đau đớn tôi liền niệm danh hiệu của Ngài. Kỳ lạ thay, ngay lập tức tôi thấy có sự linh ứng tuyệt vời. Cơn đau đang vò xé tưởng chừng như có ai đâm hoặc xát muối vào những vết thương, hoặc có lúc như có người cầm ruột của tôi mà rút, nhưng chỉ cần tôi thầm niệm danh hiệu của Ngài và cầu nguyện thì cơn đau từ từ dịu xuống và nhẹ bỗng. Tôi nghe và cảm nhận được trong tôi có một sự chuyển động thần kỳ. Cứ như thế những ngày kế tiếp, hằng ngày hằng đêm, mỗi khi cơn đau trổi dậy là tôi niệm tên Ngài, và cơn đau từ từ biến mất. Cơ thể tôi là nơi thể nghiệm quá nhiều loại thuốc, nhưng tôi chưa từng thấy có thứ thuốc nào linh nghiệm dường này. Ðó là sự thật 100%. Chỉ cần tôi thật sự thành tâm niệm danh hiệu của Ngài thì ngay lập tức tôi nhận ra rằng tất cả những gì mà cả cuộc đời tôi hằng khao khát ước mơ mà tôi không tìm thấy được lại chính là ở nơi Ngài.

Ngay từ khi còn rất trẻ, tức là ở tuổi thiếu thời, và khi bước chân vào đại học, tôi đã ước mơ có một người Thầy với tất cả sự toàn thiện toàn mỹ có thể dạy dỗ và giải đáp toàn bộ những câu hỏi của tôi trong cuộc sống. Nhưng tôi đã không thể nào tìm ra một người Thầy như tôi hằng mong ước.

Giờ đây tôi đã tìm được vị Thầy nói lên tất cả những nguyện ước của lòng tôi. Hơn thế nữa, tôi còn cảm nhận được rằng linh hồn nhỏ bé đáng thương của tôi đã tìm được nơi dừng chân vĩnh cửu. Ðó là tấm lòng từ bi vô lượng của Ngài, là sự giải thoát mãi mãi cho linh hồn tôi khỏi nơi cõi trần chật hẹp. Như sóng gặp biển, như đứa con lạc Mẹ quá lâu ngày nay tìm lại được Mẹ hiền, lòng tôi sung sướng không sao tả xiết. Tôi đã làm những vần thơ nhỏ bé nói lên nỗi niềm hân hoan và những biến động trong tôi:

Hồn con cả một vùng đất vắng
Trời quên mưa, hạn hán mấy ngàn năm
Người bỗng mang trận mưa rào sấm động,
Tưới xuống hồn con sỏi đá vụt lên mầm.

Tôi đã thực sự tái sinh và sống lại hàng ngày qua những cuốn băng sách của Sư Phụ. Tôi nhớ lại những ngày trước đó nước mắt tôi dường như đã cạn vì khóc thương cho số phận mình. Giờ đây tôi mới hiểu rằng thì ra chỉ vì bức màn vô minh che phủ mà tôi phải sống trong khổ đau phiền não. Sư Phụ đã chỉ cho tôi ngọn nguồn của những khổ đau và làm cách nào để thoát ra khỏi chúng. Những lời chỉ dạy của Ngài hoàn toàn phù hợp với tâm linh của tôi mà trước đó tôi chưa từng được nghe ai nói qua về những vấn đề này. Sư Phụ nói rằng hầu hết những tai nạn, bệnh tật, chiến tranh, thiên tai đều do bầu không khí thù hận của việc sát sanh gây ra. Sư Phụ đánh thức tôi qua băng thu hình: "Vài ba miếng thịt trong tô phở thay bằng vài ba miếng tàu hủ có gì mà khó. Ăn chi xương máu của chúng sinh để rồi mai mốt vay nợ máu phải trả bằng máu. Mình không muốn ai lóc da xẻ thịt mình, thì tại sao mình lại đi lóc da xẻ thịt người ta mà mình biết rằng nó rất đau khổ chứ không phải không biết." Nghe tới đây , tôi ớn lạnh cả người và vô cùng ân hận vì mình đã gây quá nhiều tội ác với những con vật đáng thương. Tôi nghĩ tôi phải hành động gấp để chuộc lại lỗi lầm. Tôi quyết định ăn chay bằng bất cứ giá nào, và nguyện với lòng mình không bao giờ còn ăn thịt nữa.

Từ khi ăn chay, thân tâm tôi dần dần thanh thản, mọi phiền não cũng từ từ rời khỏi. Trước khi tu Pháp Quán Âm, dù chưa ăn chay, tôi đã được Sư Phụ âm thầm chăm sóc. Trong nhiều giấc mơ của tôi (và cả con gái tôi nữa), Ngài đã đến chỉ dạy, an ủi vỗ về tôi bằng nhiều phương cách khác nhau. Có lần Ngài đã đến bên giường tôi nằm, vẽ cho tôi xem bức tranh có hồ nước và hoa sen nở. Những giây phút xem tranh và được ở bên Ngài tôi không bao giờ quên được. Tôi mơ thấy Ngài trong nhiều dáng vẻ khác nhau vô cùng dịu hiền và đẹp đẽ, Ngài xoa đầu tôi, nắm tay tôi và ôm tôi, ban cho tôi tình thương vô cùng ngọt ngào và đầm ấm. Sau khi tu hành Pháp Môn Quán Âm, cuộc đời tôi hoàn toàn đổi khác. Mọi xiềng xích trói buộc tôi vào cõi đời này đều như đã tan ra nát vụn. Tôi như người đã trút đi được gánh nặng ngàn cân. Sư Phụ chăm sóc gia đình tôi cả trong vô hình cũng như hữu hình, cả về tâm linh lẫn vật chất. Ngài lo cho gia đình tôi từ việc nhỏ đến việc lớn. Có những việc mà nếu không tu Pháp Môn Quán Âm thì chắc chúng tôi đã khó vượt qua. Những mong muốn hàng ngày của tôi đều được Ngài đáp ứng và dường như có một sự sắp xếp vô cùng kỳ diệu. Những điều này tôi chỉ có thể cảm nhận được mà không thể dùng bút viết ra.

Những thể nghiệm bên ngoài nếu để tâm chú ý thì không sao kể hết. Còn những thể nghiệm bên trong thì các bạn đồng tu đều đã rõ, không ai có thể dùng bút viết thành lời. Có lần trong trạng thái nửa ngủ nửa nhập định của ca thiền, tôi thấy ở nơi mắt trí huệ hiện ra muôn vàn giọt sao nhỏ li ti chuyển động. Lúc đầu nó như một mặt sàng hay một tấm đan, sau chuyển thành hình phểu sâu hút kéo dài về phía xa vô tận. Ðó là cả hàng ngàn triệu ức tỉ những giọt sao lấp lánh. Tôi đã bay trong vòm trời đầy sao ấy với cảm xúc lâng lâng vô cùng dễ chịu.

Trong một vài giấc mơ thường sau ca thiền buổi sáng, Sư Phụ đã dẫn tôi bay tới những vùng trời có cả trăng sao. Bên dưới tôi là cả một thế giới xanh tươi, tôi bay trong cảm giác vô cùng dễ chịu và sung sướng.

Có một lần tôi mơ thấy chúng sinh vô hình đến quấy nhiễu làm tôi khổ sở kêu thét và ngủ không yên. Tôi cảm thấy nặng nề và khó chịu vô cùng, tôi khóc, nước mắt đầm đìa và trở dậy ngồi thiền. Thiền xong tôi thiếp đi, và một lần nữa Sư Phụ đưa tôi bay tới một nơi có những cây cổ thụ to lớn. Tôi không biết đó là nơi đâu. Sư Phụ ôm chặt tôi vào lòng và Ngài khóc thương tôi nhiều lắm. Tôi cũng ôm Ngài và khóc ròng, trong lúc ôm Ngài tôi đã thốt lên được câu nói từ đáy lòng: "Con thương Sư Phụ lắm."

Lúc đó tôi còn cảm nhận được cả mùi thơm tinh khiết tỏa ra từ kim thân của Ngài, một mùi thơm đặc biệt không sao diễn tả. Tôi đã mở to mắt để nhìn Ngài cho rõ thì Ngài đã đi mất làm cho tôi bàng hoàng ngơ ngẩn. Tỉnh dậy, tôi vẫn đang trong tư thế ôm Ngài, và mùi thơm của Ngài vẫn còn phảng phất. Lúc đó tôi vẫn chưa tin rằng đó chỉ là giấc mơ. Một cảm giác yêu thương vô tận tràn ngập cả linh hồn và thể xác tôi, khi tôi ở bên Ngài.

Dù rằng mới đang tập ngồi thiền, nhưng hàng ngày tôi vẫn được Sư Phụ từ bi đem đến cho tôi những niềm chân phúc lớn lao của Âm Thanh và ánh Sáng Thiên Ðàng. Dù tôi chỉ mới đặt chân vào ngưỡng cửa con đường Ðạo, nhưng tôi thật tình đã thấy choáng ngộp bởi sự hấp dẫn vô biên của khu rừng giàu có, đầy bí ẩn này. Những thú ham vật chất của thế gian, những sung sướng về địa vị hay tiền bạc giàu sang đều không thể nào so sánh với niềm phúc lạc mà pháp thiền Quán Âm đã mang lại. Nó nuôi dưỡng tâm linh tôi ngày càng an nhiên tự tại.


Giáo Lý Chọn Lọc [Top]

Bố Thí Chân Chính

Thanh Hải Vô Thượng Sư Giảng tại Ðài Bắc, Formosa
Ngày 23 tháng 5, 1994
(Nguyên văn tiếng Anh)

Nếu quý vị bố thí ai cái gì thì bố thí rồi quên đi. Ðừng bao giờ tiếc rẻ, bởi vì nếu cho rồi tiếc rẻ, quý vị sẽ không được gì cả. Quý vị mất cả tiền bạc, phước báu và uổng phí thời gian. Cho nên, tốt hơn hết là cho, rồi quên đi. Ðó là lý do tại sao Chúa Giê Su nói rằng: "Nếu cho người thứ gì tay trái thì đừng để tay phải biết." Ngoài ra, Ðức Phật còn dạy rằng bố thí mà giống như là không bố thí mới thật là bố thí. ý Ngài nói rằng khi quý vị bố thí, đừng có dính mắc vào chuyện bố thí đó. Bố thí giống như không bao giờ bố thí gì cả, giống như là chuyện đó chưa bao giờ xảy ra. Ðó là bố thí chân chính, bố thí mà không có sự chấp nhất. Nếu không, chúng ta vẫn còn nghĩ là mình vĩ đại, nếu cho ai cái gì. Chúng ta nghĩ là mình hay hơn người kia bởi vì chúng ta ở một chức vị có quyền năng, nếu chúng ta cho người đó.

Vì vậy mà tôi thường dặn quý vị rằng bất kỳ làm điều gì, phải biết đó là làm cho chính quý vị, thật vậy, không phải là làm cho người nhận. Như vậy tốt hơn, vì nó có nghĩa là quý vị bố thí cho chính sự khôn lớn của mình trong khía cạnh từ bi, yêu thương, quảng đại.

Những Gì Chúng Ta Có Là Ðể Phân Cho Người Khác

Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Ðài Bắc, Formosa
Ngày 23 tháng 5, 1994
(Nguyên văn tiếng Anh)

Tôi không sinh ra đời với vàng bạc, cho nên sẽ không lìa đời với vàng bạc. Những gì tôi có là của quý vị, của thế giới, như là lấy ở chỗ này đem đi cho chỗ kia. Mỗi người trong chúng ta cũng tương tự như vậy. Chúng ta lấy nước dưới sông, đổ vào trong bồn, rồi bồn phân phối nước đi khắp cả làng hay khắp phố. Chúng ta nên sống ở đời giống như bồn nước. Những gì chúng ta có là để phân chia cho người khác. Chúng ta chỉ là người tiếp nhận. Do đó, tôi có thể có rất nhiều tiền, nhưng không bao giờ nghĩ là tôi có tiền. Cách này rất là thoải mái. Quý vị không lo lắng vì không nghĩ rằng đó là của mình, thành ra, dù nó có ở đó hay không có ở đó đi nữa cũng chẳng hề gì.


Nâng Cao Tâm Thức [Top]

Băng Thâu Âm Mới Nhất Của Thanh Hải Vô Thượng Sư

E73 (6 Băng)
<Tiếng Anh + tiếng Phần Lan>
Chân Lực Lượng Của Chúa (1) & (2)
Thuyết Pháp tại Helsinki, Phần Lan
Ngày 30 tháng 5, 1999
<Tiếng Anh + Tiếng Thụy Ðiển>
Trở Lại Sự Ngây Thơ Của Thời Thơ Ấu (1) & (2)
Thuyết Pháp tại Stockholm, Thụy Ðiển
Ngày 31 tháng 5, 1999
<Tiếng Anh + Tiếng Na Uy>
Sống Ðồng Thể với Thượng Ðế (1) & (2)
Thuyết Pháp tại Oslo, Na Uy
Ngày 2 tháng 6, 1999

Những Ấn Bản của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư

Ðể nâng cao tâm linh của chúng ta và tạo niềm hứng khởi trong cuộc sống thường nhật, một loạt đủ các loại sách của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được dịch ra bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau (xin xem danh mục phía dưới). Các ấn bản có sẵn tại các Trung Tâm địa phương hay tại trụ sở chính ở Formosa (P.O. Box 9, Tây Hồ, Miaoli, Formosa, Trung Hoa Dân Quốc). Ngoài ra còn có sưu tập rộng lớn gồm những bài thuyết giảng của Vô Thượng Sư Thanh Hải được thâu trên băng thâu âm và thâu hình, cũng như các bức chân dung đủ mọi kích thước của Ngài. Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư là một nguồn vô giá tràn đầy hứng khởi, và những tin tức đương thời, có sẵn trên mười thứ tiếng: Tiếng Anh, Trung Hoa, Thái, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ðại Hàn, Nam Dương, Nhật Bản và Âu Lạc.

Cầm lên đọc một trong những quyển sách của Vô Thượng Sư trong một ngày bận bịu rất có thể mang lại nhiều lợi ích! Lời của Ngài là một sự nhắn nhủ rõ ràng về bản lai diện mục của chính chúng ta. Dù đọc những lời thuyết giảng mang đầy những dữ kiện về tâm linh (Bộ sách Tức Khắc Khai Ngộ), những áng thơ chứa chan lòng nhân từ bác ái (Giọt Lệ Âm Thầm), hay những chuyện ngụ ngôn tràn đầy thông điệp (Sư Phụ Kể Chuyện), tới những lời pháp cam lồ luôn luôn thể hiện. Một số đồng tu còn dùng các quyển sách chẳng hạn như cuốn Lời Pháp Cam Lồ để làm cẩm nang cho câu hỏi của mình, lật một trang ra, rồi áp dụng quan điểm của Vô Thượng Sư trong trang ấy cho tình trạng đương thời của họ.

Quyển sách biếu "Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ" đã được phiên dịch ra khoảng 40 thứ tiếng và được phân phát rộng rãi. Hiện đang có sẵn những sách biếu bằng tiếng Anh, Trung Hoa, Âu Lạc, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Pháp, Ðức, Hòa Lan, ý, Hy Lạp, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ní, Crôxia, Tiệp, Slô-vác, Slô-vê-nia, Thụy Ðiển, Phần Lan, Na Uy, Nga, Yu-krê-nia, á Rập, Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, Zu-lu, Ðại Hàn, Nhật Bản, Thái, Nam Dương, Mông Cổ, Ấn Ðộ, Nê-pan, Băng-gan, Miến Ðiện, Cam-pu-chia, Phi Luật Tân và Tây Tạng.

Muốn nhận các sách, băng thâu âm, thâu hình hoặc những thứ khác, xin liên lạc với Trung Tâm địa phương hoặc liên lạc viên. Khu vực triển lãm tại các kỳ thiền quốc tế cũng là một nơi rất tốt để duyệt qua lần đầu những sách, băng, hình ảnh, họa phẩm và trang sức của Vô Thượng Sư. Hơn nữa, nhiều số Bản Tin cũng thông tin về những sách và băng mới nhất. Tất cả các ấn bản đều được bán với giá gần bằng giá vốn. Nếu cần, quý vị có thể đặt mua trực tiếp từ trụ sở chính tại Formosa; những quyển mục lục tổng kê chi tiết về các ấn phẩm cũng sẽ được cung cấp nếu muốn.

<Bằng Tiếng Anh>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1~5)
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Thiền Thất Quốc Tế 1992: (1 tập)
Hoàng Pháp Toàn Cầu 1993: (6 quyển)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)
Sư Phụ Kể Chuyện: (1 tập)
Giọt Lệ Âm Thầm: (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (1 tập)
Vô Thượng Gia Chánh: (Tập 1~2)
Sách

<Bằng Tiếng Tây Ban Nha>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1~3)
Thư Tín Thầy Trò: (Quyển 1)
Sư Phụ Kể Chuyện: (1 tập)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (2 tập)

<Bằng Tiếng Bồ Ðào Nha>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1~2)
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (1 tập)

<Bằng Tiếng Pháp>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1)
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (1 tập)
<Bằng Tiếng Ðức>
Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1~2)
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (1 tập)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)

<Bằng Tiếng Ba Lan>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1)
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)
<Bằng Tiếng Hung Gia Lợi>
Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1)
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)

<Bằng Tiếng Tiệp>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Vấn Ðáp: (Quyển 1)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)

<Bằng Tiếng Thụy Ðiển>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1)

<Bằng Tiếng Ý Ðại Lợi, Nga,
Bảo Gia Lợi, và Hy Lạp>

Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)

<Bằng Tiếng Trung Hoa>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1~8)
Vấn Ðáp: (Quyển 1~2)
Thư Tín Thầy Trò: (Quyển 1~2)
Thể Nghiệm Thần Kỳ Của Tôi Với Sư Phụ: (Quyển 1~2)
Ấn Bản Ðặc Biệt / Hoàng Pháp Toàn Cầu 1993: (6 tập)
Sư Phụ Kể Chuyện: (1 tập)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)
Thơ Vô Tử: (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (1 tập)
Vô Thượng Gia Chánh: (Tập 1~2)

<Bằng Tiếng Âu Lạc>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1~9)
Vấn Ðáp: (Quyển 1~4)
Thư Tín Thầy Trò: (Quyển 1~2)
Thể Nghiệm Thần Kỳ Của Tôi Với Sư Phụ: (Quyển 1-2)
Ấn Bản Ðặc Biệt/Thiền Thất Quốc Tế năm 1992: (1 tập)
Sư Phụ Kể Chuyện: (1 tập)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)

<Bằng Tiếng Ðại Hàn>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1-11)
Vấn Ðáp: (Quyển 1-3)
Sư Phụ Kể Chuyện: (1 tập)
Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)
Lời Pháp Cam Lồ: (1 tập)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)

<Bằng Tiếng Nam Dương>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1-5)
Vấn Ðáp: (Quyển 1-3)
Ta Ðến Ðể Ðưa Con Về: (1 tập)

<Bằng Tiếng Nhật Bản>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1-2)

<Bằng Tiếng Thái>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 1-6)
Sư Phụ Kể Chuyện: (1 tập)

<Bằng Tiếng Mông Cổ>

Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ:
Thuyết Pháp: (Quyển 4 & 6)

<Bằng Tiếng Phi Luật Tân>

Giọt Lệ Âm Thầm (1 tập)


Nhận Xét Tu Hành [Top]

Nhận Thức Sâu Sắc Về Tượng Nữ Thần Tự Do

Do sư tỷ Wang Chi-chun, Ðài Bắc, Formosa

Gần đây, tôi có đọc một bài viết về Tượng Nữ Thần Tự Do, lòng tôi chan chứa với bao tia hy vọng. Tượng Nữ Thần Tự Do là một tiêu biểu cho sự tự do, công bình và tình thương vũ trụ; tia sáng vô tận của nó xuyên qua bức màn đen tối của sự vô minh và tội lỗi để mang đến cho con người một đời sống mới. ý nghĩa tâm linh của nó nhắc nhở chúng ta về Sư Phụ và số đệ tử đang gia tăng tại Hoa Kỳ. Tôi tin chắc rằng dân chúng Hoa Kỳ, với bản tính tự tin và hay lý luận, sẽ ngày càng nhận ra trí huệ cao đẳng, tinh thần an hòa và bất khuất của Sư Phụ, giống như vị Nữ Thần Tự Do, đưa con người lạc lõng trong đại dương đen tối đến bờ vinh quang.

Ðiêu khắc gia người Pháp, ông Frederic Auguste Bartholdi, đã mất 10 năm mới khắc xong tượng Nữ Thần Tự Do. Vẻ đẹp cổ điển của nó đã làm cho con người hồi tưởng lại đức tin thời cổ. Bảy tia trên vương miện của bức tượng tiêu biểu cho bảy đại dương và bảy châu trên thế giới. Ngọn đuốc cầm bên tay phải là ngọn hải đăng hướng dẫn tàu bè qua lại trong đêm, còn bài vị cầm bên tay trái mang hàng số (La Mã) "Ngày 4 tháng 7, 1776." Dày nát dưới chân bức tượng là xiềng xích của chế độ bạo ngược, cho thấy rất rõ ràng mọi gông cùm trói buộc tự do sẽ bị phá tan.

Bức tượng, mới đầu mang tên là Tự Do Khai Sáng Thế Giới, là một món quà của nước Pháp tặng Hoa Kỳ để kỷ niệm trăm năm độc lập, và để tượng trưng cho tình hữu nghị lâu bền giữa dân chúng của miền đất nước. ý nghĩa cao đẹp đó đã làm cho bức tượng ngay từ lúc ban đầu mang vẻ thiêng liêng nhưng gần gũi đối với đa số mọi người. Nhiều người tôn bức tượng như Người Mẹ của những kẻ lưu vong, hay với ý nghĩa khác, là Người Mẹ của Hy Vọng cho những ai bị áp bức. Một nữ thi sĩ ở Nữu Ước, cô Emma Lazarus, đã viết tặng cho bức tượng một bài thơ 14 câu với nhan đề "Bức Tượng Vĩ Ðại Mới", cũng rất thích với hình ảnh của Sư Phụ.

"Bức Tượng Vĩ Ðại Mới"

Khác với tượng đồng khổng lồ danh tiếng bên Hy Lạp,
Với tay chân dang rộng từ đất này sang đất khác;
Nơi đây bên bờ đại dương, cửa hoàng hôn đứng sững
Một phụ nữ hào hùng với ngọn đuốc,
Mà ngọn lửa là ánh sét giam cầm,
Tên của người là Mẹ Của Những Kẻ Lưu Vong.
ánh đèn trên tay người rực sáng đón chào thế giới;
Ðôi mắt dịu hiền chỉ huy hải cảng cầu treo giữa hai thành phố,
"Hãy giữ mảnh đất xưa, lịch sử hoa lệ!",
Người kêu gọi với bờ môi lặng lẽ,
"Hãy cho ta những kẻ mệt nhoài, nghèo khó,
Ðám đông hỗn tạp mong hít thở bầu không khí tự do,
Những kẻ khốn cùng bị chối từ nơi bờ đại dương đông đảo.
Hãy gửi những người này đến với ta,
Những kẻ không nhà, bị giông tố đẩy đưa,
Ta sẽ rọi ánh đèn bên cổng hoàng kim!"
[Trích từ: Bộ Thơ của Emma Lazarus, cuốn 1 (1889), 2]

Tâm hồn cao thượng và lòng nhẫn nại thể hiện trong bài thơ này đã cho tôi một hình ảnh rõ ràng về tinh thần của người Hoa Kỳ khi lập quốc, và làm thế nào mà lục địa mới này về sau trở thành một thiên đường lôi cuốn hàng triệu người di dân từ khắp nơi trên thế giới. Với tình thương thánh thiện và vô điều kiện, và với ý nguyện đại từ bi để độ tất cả những linh hồn đang đau khổ, Sư Phụ đúng là Vị Nữ Thần Tự Do sống!


Sư Phụ Kể Chuyện [Top]

Ðức Tin Vô Giá

Thanh Hải Vô Thượng Sư kể tại Tây Hồ, Formosa
Ngày 1 tháng 1, 1995
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa)

Tựa đề của câu chuyện này là "Guru Bhakti". Guru, tiếng Phạn, có nghĩa là Minh Sư, một vị Thầy khai ngộ. Bhakti có nghĩa là sùng bái, tuyệt đối nghe lời Minh Sư, chỉ nghĩ đến vị đó và cống hiến tất cả thân khẩu ý cho Ngài. Bất kỳ vị Thầy hay Minh Sư Khai Ngộ răn bảo gì, chúng ta chỉ một lòng nghe theo, không hề tranh cãi. Ðó được gọi là "Guru Bhakti" trong tiếng Phạn.

Thuở xưa thật xưa, có một người thành tâm cầu đạo. Mỗi lần nghe nói có một vị Minh Sư vĩ đại nào đang thuyết pháp hoặc một người đạo đức nào đang giảng dạy, ông liền đến chỗ đó với vợ. Ông học được từ những giảng sư rằng một người phải được sự gia trì của một vị Minh Sư Khai Ngộ thì mới đạt được Chân Lý hay quả vị thánh nhân, và trở thành đồng nhất thể với Thượng Ðế. Nên ông bắt đầu đi tìm một vị Minh Sư toàn hảo. Ông đi đến nhiều nơi, gặp hết Minh Sư này đến Minh Sư khác, nhưng lúc nào cũng tìm thấy khuyết điểm làm họ không được toàn hảo theo con mắt của ông. Do đó, ông không thể nào tìm ra được một vị Chân Sư.

Những Minh Sư đó không đủ tốt đối với ông bởi vì trong đầu ông có những quan niệm sai lầm. Ông đọc qua quá nhiều sách vở, bao gồm tất cả các kinh điển khiến cho ông vô cùng ngạo mạn, lúc nào cũng để ý tìm tòi những khuyết điểm nơi người khác. Chẳng hạn, ông không hài lòng khi thấy một Minh Sư rất khai ngộ nhưng lại mù chữ, không biết đọc và không biết nhiều về kinh sách. Vị Minh Sư nào không tranh luận nỗi với ông hay không biết một đoạn kinh nào được trích ra từ quyển kinh nào, đều bị ông bỏ. Vì vậy ông không thể tìm được một vị Minh Sư Khai Ngộ. Nếu như chúng ta vẫn còn thái độ phê bình, chỉ trích và tư tưởng ngạo mạn này thì chắc chắn không thể nào chúng ta tìm ra được Tự Tánh của mình. Cho dù một vị Minh Sư Ðắc Ðạo có đứng trước mắt đi nữa, chúng ta vẫn không trông thấy.

Một hôm ở nhà, ông cảm thấy rất bực bội và chán nản, nghĩ rằng mình không còn hy vọng tìm ra được một vị Minh Sư đủ giỏi để xứng với lòng sùng bái của mình. Khi vợ ông đến an ủi thì ông trút hết tất cả nỗi băn khoăn trong lòng. Ông nói rằng vì chưa tìm ra được một Minh Sư có khả năng giải thoát cho ông, nên ông rất lo mình sẽ chết mà chưa khai ngộ. Nhờ có đầu óc đơn thuần hơn và không được học nhiều như vậy, vợ ông an ủi nói: "Tại sao mình không vào rừng rồi ngồi thiền? Mình sẽ cầu nguyện, niệm danh hiệu của các vị thánh và Thượng Ðế rồi xin Ngài gởi Minh Sư đến. Chúng ta sẽ tôn người đầu tiên Thượng Ðế gởi đến làm Minh Sư của chúng ta." Không nghĩ ra cách nào hay hơn nên người chồng đành đồng ý. Ngày hôm sau họ đi vào rừng rồi ngồi bên một con đường mòn cầu nguyện.

Ðúng lúc đó, một tên cướp đang tẩu thoát với đồ đạc quý giá vừa cướp được đi ngang. Hai vợ chồng lập tức chạy đến lạy trước mặt ông, nài nỉ xin cho họ làm đệ tử. (Cười) Họ khẩn cầu ông ta dạy cho họ cách thiền và gia trì cho mấy câu thần chú. Ở Ấn Ðộ, các Minh Sư hay những người tu hành cao thường hay để râu dài, mặc áo cà sa rồi ngồi ở đó để mọi người lạy bái như là đệ tử của họ. Mặc dù người Ấn Ðộ rất quen thuộc với các câu thần chú như "Ôm Ma Ni Bát Mê Hồng" hay "Nam... Nam... Nam", nhưng Minh Sư vẫn gia trì cho những câu thần chú này vào giờ phút cống hiến, làm câu chú của họ được linh ứng kể từ ngày đó trở đi. Ðiều này được gọi là gia trì thần chú. Mặc dầu họ vẫn niệm cùng một câu chú, nhưng hình như nó linh nghiệm hơn sau khi họ trở thành đệ tử của một Minh Sư. Cho nên, nhiều Minh Sư ở Ấn Ðộ làm lễ này.

Cặp vợ chồng ép buộc tên cướp làm thầy của họ, và như mọi người khác, họ cũng yêu cầu ông ta gia trì cho câu thần chú. Lúc đó, họ không biết ông ta là tên cướp. Không thể nào thoát khỏi hai người này, tên cướp vừa ngạc nhiên vừa sợ. Rồi hai vợ chồng kể cho ông nghe về sự thất bại của họ trong việc tìm kiếm một Minh Sư Khai Ngộ, nên họ nguyện ngồi trong rừng hôm đó và sẽ làm đệ tử của người đầu tiên bước chân đến. Họ giục tên cướp đừng bỏ chạy vì ông là Minh Sư của họ. Lời nói của họ động tới Thượng Ðế Tánh tiềm ẩn sâu trong lòng tên cướp. Ông ta cảm thấy không thể gạt họ, nhưng khi cố gắng tiết lộ danh tánh, con người thật của mình thì cặp vợ chồng chẳng thèm nghe. Nếu ông ta từ chối không nhận họ làm đệ tử và dạy cho họ các câu thần chú linh thiêng thì chắc chắn họ sẽ không để ông đi. Họ không cần biết ông ta là ai, mà tin chắc rằng người này là Minh Sư của họ.

Lúc đầu, tên cướp hết sức cảm động, nhưng không lâu sau ông ta bắt đầu sợ và hồi hộp. Nếu họ cứ bám như vầy thì ông sẽ bị vô cùng rắc rối nếu cảnh sát bắt được. Trong cơn tuyệt vọng muốn bỏ thoát, ông ta hứa sẽ dạy họ và bảo họ quỳ xuống. Cặp vợ chồng quỳ xuống lạy trong một nghi thức trang nghiêm sùng kính. Sau đó ông ta dặn họ: "Bây giờ quý vị ngồi ở đây, lấy hai tay bịt tai lại, nhắm mắt rồi ngồi yên. Nếu cử động thì Thượng Ðế sẽ bỏ đi. Tiếp tục vị thế này và đừng đứng dậy nếu không có chỉ thị của ta. Thì quý vị chắc chắn sẽ thấy được Thượng Ðế." Ông ta ra lệnh cho hai người làm như vậy để có thể bỏ đi, vì hai tay họ nắm chặt hai chân của ông và từ chối không để ông đi.

Cặp vợ chồng biết ơn ngồi yên, ngoan ngoãn để hai tay lên tai. Cả ngày lẫn đêm, họ ngồi yên chỗ đó không ăn uống gì cả. Họ không dám cử động hay mở mắt để nhìn xem thầy của mình còn đó hay không. Sau một hồi lâu, chân họ bị tê, thân thể bị đau, hai tay nhức nhối. Tuy nhiên, họ không có ý nghĩ gì khác ngoài lòng thành tâm muốn thấy được Thượng Ðế. Họ tiếp tục ngồi ở đó với tất cả tấm lòng thành.

Thần Vishnu và Lakshmi vô cùng cảm động. Ðối với người Ấn Ðộ, Vishnu là một trong những vị Thần hiển linh. Theo nghĩa âm dương thì Vishnu là dương còn Lakshmi là âm, tiêu biểu cho tấm lòng của nữ phái. Vô cùng xúc động, Lakshmi bèn yêu cầu Vishnu hiện ra cho cặp vợ chồng thấy. Cảm động trước tấm lòng thành của họ và thấy họ vẫn ngồi thật lâu, mặc dầu đã bị lừa gạt, Thần Vishnu xuất hiện. Cặp vợ chồng mừng rỡ nhưng không dám mở mắt hay đứng dậy để cúng bái Ngài. Họ không dám làm gì cả vì thầy của họ bảo họ không được đứng dậy hay mở mắt nếu không có sự cho phép của ông.

Thần Vishnu nói với họ: "Bây giờ hai người biết Ta đã đến, hai người có thể đứng lên và đừng khổ lụy nhiều nữa." Nhưng họ vẫn không dám đứng lên. Họ rất biết ơn Ngài đã đến thăm họ, nhưng không thể nào làm trái lại lời thầy để tuân theo lời của vị này. Thật xấu hổ! Tên cướp còn vĩ đại hơn cả Thượng Ðế. (Cười) Thần Vishnu không thể chịu nỗi cảnh hai người bị khổ, bèn đến cung điện và hiện ra cho nhà vua thấy trong mơ. Vào lúc đó thì tên cướp đã bị cảnh sát bắt bỏ vào nhà tù hoàng gia. Tội ông quá nghiêm trọng không thể nhốt trong nhà tù bình thường. Khi hiện ra cho nhà vua thấy trong giấc mơ, thần Vishnu chỉ thị nhà vua hãy thả tên cướp ngay lập tức. Tuy nhiên, nhà vua vì nghiệp chướng nặng nề và thường hay bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng, tưởng đó chỉ là một giấc mơ xấu khác nên không để ý tới vị này. Thần Vishnu một lần nữa đến trong giấc mơ nhà vua, nhưng nhà vua vẫn không hiểu. Chỉ khi nằm mơ lần thứ ba, ông mới nhận thấy chắc là có điều gì đó không hay.

Trong khi ấy, Thần Vishnu cũng hiện ra trong giấc mơ của tên cướp và bảo hãy giải thoát cho cặp vợ chồng kia trong rừng ngay sau khi được phóng giam. Ngài bảo tên cướp là hai người vẫn còn ngồi bịt tai ở đó và nhiều ngày rồi mà vẫn chưa ăn một miếng gì hay uống một giọt nước nào cả. Họ sắp chết và Thượng Ðế không thể nào chịu nỗi. Khi nhà vua thả tên cướp ra sau giấc mơ lần thứ ba, tên cướp bèn chạy vội vào rừng như đã được dặn trong mơ. Ông ta ra lệnh cho cặp vợ chồng đứng dậy, mở mắt ra, và bỏ tay ra khỏi tai. Vừa làm xong, cặp vợ chồng liền tỏ lòng biết ơn sâu xa đến người "thầy" của họ, vì nhờ ân điển của người này mà Thượng Ðế đã hiện ra cho họ thấy. Nghe xong, tên cướp bèn kể cho họ nghe chuyện anh gặp Thượng Ðế trong mơ.

Bỗng nhiên, họ nghe một giọng nói từ trên trời nói với họ: "Ta rất cảm động và sung sướng trước tấm lòng cống hiến tuyệt đối của nhà ngươi đối với thầy mà không hề có một dấu vết nghi ngờ nào cả. Ta hứa sẽ đến gặp ngươi một lần nữa. Kể từ nay trở đi, các ngươi sẽ tiếp tục niệm Hồng Danh, thờ Thượng Ðế và ngồi thiền hai tiếng rưỡi mỗi ngày. Ðừng quên ăn chay và giữ ngũ giới một cách chặt chẽ. Chắc chắn Ta sẽ đưa nhà ngươi đến bờ giải thoát sau khi chết." Kể từ hôm đó, tên cướp chuyển sang một chương khác của cuộc đời và cùng tu hành với cặp vợ chồng đó. Hay quá! (Vỗ tay)

Có một lời bàn trong cuốn sách nói rằng: "Khi chúng ta thật sự tin tưởng vào một vị Minh Sư, cho dù người đó không phải là Minh Sư Khai Ngộ thật đi nữa, nó vẫn kiến hiệu. Tuy nhiên, nếu có một đức tin như vậy đối với một tên cướp thì chắc chắn có nghĩa là vị Minh Sư của chính mình đã đến, trí huệ của chúng ta đã mở và chúng ta không còn kỳ thị người khác nữa. Như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được kết quả, nhưng không phải vì Minh Sư hay vì pháp môn." Ðó là người Ấn Ðộ nghĩ như vậy. Nhưng đừng quên là Thần Vishnu này chỉ ở cảnh giới thứ hai mà thôi. Thấy được Thượng Ðế cao nhất không phải là chuyện dễ. Cho dù như vậy đi nữa, đối với một người bình thường, thấy được vị Thần của cảnh giới thứ hai ngay sau khi tôn một tên cướp làm thầy là một chuyện vô cùng phi thường!

Lòng tin của quý vị nơi tôi đã làm cho tôi vô cùng cảm động, và tôi cũng sẽ cầu Thượng Ðế giúp đỡ quý vị. Quý vị chắc chắn sẽ được giải thoát sau khi chết. (Vỗ tay) Ðiểm chính yếu là quý vị nên thiền tinh tấn và có lòng tin vững chắc, quên tôi là một con người, thì quý vị chắc chắn sẽ có thành quả tu hành. Khi quý vị thực sự có đức tin và lòng sùng kính vào một Minh Sư thì ngay Thượng Ðế cũng đến. Khi ngồi thiền, quý vị sẽ thấy được Hào Quang rực rỡ và nghe được âm nhạc thiên đàng. Quý vị sẽ có nhiều sự linh ứng. Ðiều này cho thấy có đức tin là đủ; không cần biết Minh Sư tốt hay không. Tôi tốt hay không thì khi chết quý vị sẽ biết.


Tình Thầy Trò [Top]

Người Duy Nhất Của Tôi

Do sư tỷ đồng tu
Wonwilai Rakkandee, Ðức Quốc
(Nguyên văn tiếng Anh)

Thế giới của tôi, một kịch trường vĩ đại,
Người đã cho tôi tất cả để gia trì.
Tôi tranh đấu nơi đây với nụ cười dịu ngọt (như Người)
Và không bao giờ, sẽ không bao giờ trở lại.
Bầu không gian, tình cảm, khắp nơi nơi
Vào tản sáng, ban trưa, khi chiều tối,
Mọi thứ đều làm tôi ngã lòng, chán nản.
Biết ngỏ cùng ai nỗi lòng trắc ẩn?
Ôi, người duy nhất của tôi, Vô Thượng Sư
Hay một Ðóa Hoa đẹp của tâm hồn
Xin hãy chỉ dạy tôi sống đời dũng cảm
Làm Vô Thượng Sư của chính tim tôi.
Tôi hiểu Người cũng gian nan lưu lại,
Nhưng hai ta sẽ vượt qua cho tới khi đến đích.
Người khổ cùng tôi, vui sướng cùng tôi.
Khi ra đi, ta sẽ bên nhau, không bao giờ cách biệt.
Sẽ cùng nhau ta gia trì thế giới
Gặp Ngài, Người duy nhất trong Tình Thương rực rỡ
"Người duy nhất": Tình Thương trong cuộc sống, tâm hồn.


Thần Kỳ Cảm Ứng [Top]

Lúc Mẹ Tôi Qua Ðời

Do sư tỷ Tsai Ming-e, Ðài Bắc, Formosa

Mẹ tôi mắc bệnh ung thư gan một thời gian khá lâu vào tháng Giêng 1999, khi đó bà bị
cảm lạnh và đi vào hôn mê. Bà được đưa vào bệnh viện rồi tỉnh lại sau hai ngày. Nhưng không bao lâu bác sĩ khám phá ra bà mắc bệnh viêm gan và chứng nhiễm trùng trong máu, khiến bà qua đời. Trong suốt thời gian này, cả gia đình tôi đã chứng kiến tình thương và lực lượng vô biên của Sư Phụ dìu dắt một đồng tu qua cửa tử.

Từ thời kỳ đầu trong căn bệnh của mẹ tôi, chúng tôi đã không dám cầu Sư Phụ giữ bà ở lại thế giới này. Chúng tôi không muốn kéo dài sự đau khổ của bà, mà chỉ cầu Sư Phụ làm những gì tốt nhất cho mẹ chúng tôi. Sau khi bà nhập viện, những thân nhân trong gia đình nghe thấy Hồng Danh vang vọng trong đầu. Trong khi chúng tôi ngồi thiền phía ngoài phòng hồi sinh, âm vang của Hồng Danh chan hòa không gian, bao bọc tất cả chúng tôi. Hành lang sáng hào quang, trong khi đó Hồng Danh lay chuyển tôi tới tận cùng xương tủy. Các anh chị em của tôi cũng cho biết họ có những thể nghiệm bên trong rất tốt.

Sau đó, khi mẹ chúng tôi được dời từ phòng hồi sinh đến khu vực dành cho người bệnh bình thường, chúng tôi nghĩ rằng bà sắp trút hơi thở cuối cùng. Khuôn mặt bà xạm lại và đôi mắt phồng lên. Bà quả là một con người gan lì với ý chí mạnh mẽ, trước những chịu đựng khổ đau như vậy. Không chịu nỗi cảnh bà đau khổ, chúng tôi mật niệm Hồng Danh. Một lúc sau, tôi cảm thấy ngây dại, nhưng vẫn còn nghe tiếng Hồng Danh âm vang trong phòng vừa cao vừa thấp. Tôi cũng nghe được (trong vô hình) tiếng chuông và tiếng khánh. Lúc 11 giờ tối, một trong những người anh lớn, vì thấy mọi người buồn bã, bèn kể chúng tôi nghe rằng anh vừa mới lên thiên đàng với mẹ, một nơi có những kiến trúc sáng ngời và đẹp. Một sư huynh đồng tu đã đến để thiền cùng với chúng tôi, anh cũng tiết lộ rằng anh thấy Sư Phụ đang đưa mẹ tôi lên thiên đàng, chỉ để lại sợi giây nối liền với thân thể của bà. Ðây có lẽ là vì bà hãy còn lo lắng cho ba tôi đang ở nhà lúc đó.

Ngày hôm sau, bác sĩ bảo rằng mẹ tôi có thể ra đi vào bất cứ lúc nào. Mắt bà hơi hé, dường như đang chờ đợi một cái gì. Cho đến lúc nhận thấy cơ thể của bà hoàn toàn không tiếp nhận được "nước biển" nữa, chúng tôi nghĩ bà muốn rời bệnh viện về nhà. Chúng tôi đem bà về rồi quây quần xung quanh tụng kinh tán Phật. Sau đó bà ra đi một cách bình yên như rơi vào giấc điệp, một giấc ngủ êm đềm. Thậm chí trông bà đẹp hơn bao giờ hết. Trong nhiều ngày sau đó, tôi cảm thấy được gia trì rất nhiều. Sức chú ý của tôi tập trung trên mắt trí huệ, trong lúc tiếng kinh tán Phật vẫn vang vọng trong đầu, và năng lực từ phía bên phải của tôi trở nên to lớn. Ôi Sư Phụ! Ngài thật đúng là "biển tình thương", là "suối mát cuộc đời" như Ngài đã hát.

Lúc đầu, chúng tôi tưởng mình có thể giúp "gia trì" cho mẹ để bà thoát khỏi khổ đau và đừng lưu luyến chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã lầm. Khi lực gia trì của Sư Phụ thật mạnh, thì chúng tôi là người được gia trì và thăng hoa. Khi còn trẻ, mẹ tôi đã từng muốn xuất gia. Bà đã làm một tấm gương sống cho chúng tôi noi theo trong những ngày còn sống cũng như đã chết, và qua tấm lòng can đảm của bà, bỏ thân xác này để được sinh vào một thế giới khác bên kia. Bà cũng cho chúng tôi thấy rằng lực lượng yêu thương của Sư Phụ là bao la, vô tận. Ngay cả trong giờ phút ra đi, mẹ tôi vẫn tiếp tục giúp đem lại cho chúng tôi thật nhiều phước báu.

Sáu ngày sau khi chết, mẹ tôi được hỏa táng và để lại hài cốt màu sắc giữa đám tro, nhắc nhở chúng tôi tới ánh sáng rực rỡ của thiên đàng. Chúng tôi chia hài cốt của mẹ cho mọi người trong gia đình để mang về. Hai ngày sau khi những người bà con của tôi tại Ðài Bắc đã xem hài cốt, phần di hài của tôi đổi thành màu kem. Khi cô em gái tôi trở về Mã Lai hơn 10 ngày sau, cô đưa cho chồng con xem di hài của mẹ tôi và nói họ biết rằng Sư Phụ đã đưa mẹ về Quê ở Thiên Ðàng. Hài cốt chỉ đổi màu hai ngày sau khi được gia đình cô xem. Ba người con chưa thọ Tâm Ấn của chị tôi (bây giờ đã thọ Tâm Ấn) không cầm lòng nỗi, reo lên: "Mẹ ơi! Pháp Môn Quán Âm này hay quá!" Trong năm qua, di hài của mẹ tôi đã trở nên to hơn trước. Sự hiện hữu của nó không quan trọng vì chúng tôi tin Sư Phụ đã đưa mẹ tôi qua khỏi vòng tam giới, nhưng tôi nghĩ bà đã cố tình để chúng lại cho hơn 20 người vừa con vừa cháu đã thọ pháp để làm một bằng chứng cho con đường Ðạo, và làm nguồn khích lệ cho chúng tôi tiếp tục tu hành tiến bộ.

Sự qua đời của mẹ tôi cũng cho tôi một thể nghiệm gia trì khác từ Sư Phụ. Trong lúc ở bệnh viện, tôi có than phiền với người anh cả: "Anh ở đây để coi mẹ! Tại sao lại đi ngắm cửa hàng ngoài kia?" Ðây cũng là một thói xấu của tôi: phê bình người khác. Người chị lớn lập tức chận tôi lại. Vào sáng hôm sau, trong khi đang nhìn cặp mắt hé của mẹ tôi, tôi đã sám hối Sư Phụ trong lòng. Bỗng nhiên tim tôi đau nhói, cảm thấy một lực rất mạnh lay chuyển tôi hết lần này đến lần khác ở bên phía tai bên phải và toàn thân. Lời nói chạy qua trong đầu tôi, câu này sang câu khác: Cô thương mẹ nhiều như thế nào? Cô có quyền gì mà phê bình người khác? Cô là đồng tu. Cô có Sư Phụ để dựa vào. Còn anh cả của cô dựa vào ai? Cô khinh ông, nhưng ông cũng là con của mẹ cô kia mà! Mẹ là người duy nhất hoàn toàn thương yêu và chấp nhận ông. Sau khi mẹ chết, ai sẽ thương ông vô điều kiện? Ông là người độc nhất trong gia đình chưa thọ Tâm Ấn. Ông đã rán hết sức để cộng tác với cô rồi. Ai hiểu được nỗi đau của ông?

Ðây là hóa thân của Sư Phụ đang dạy dỗ tôi! Tôi cảm thấy chấn động lực rất mạnh và một năng lực hùng hậu. Nước mắt tôi tuôn trào! Khi anh cả vừa mới bước vào phòng, tôi liền đến ôm anh xin lỗi! ồ, Sư Phụ, tình thương mạnh mẽ của Ngài đã làm tôi thức tỉnh! Mặc dù đôi khi tôi vẫn còn hay bực tức đối với người khác, nhưng bây giờ mỗi khi nhớ đến thể nghiệm ấy, tôi liền bình tĩnh lại. Như Chúa Giê Su đã nói: "Ðừng phê bình người khác." Chỉ có tình thương bao la của Sư Phụ mới có thể làm tan biến tất cả mọi trở ngại, và làm thức tỉnh được một người đệ tử cứng đầu và lười biếng như tôi.

Tôi thọ Tâm Ấn chín năm về trước. Mặc dầu thời gian đầu tôi tu hành không được tinh tấn cho lắm, không có thể nghiệm ánh sáng lẫn âm thanh, nhưng Sư Phụ không bao giờ bỏ tôi. Ngài tiếp tục tìm cách nâng tôi lên. Trong năm đầu từ ngày mẹ chết, tôi thay đổi rất nhiều. Bây giờ tôi thấy rằng những chuyện coi như là bực mình, thất bại ở đời chính là những cơ hội cho tôi cải thiện về phương diện tâm linh. Trong năm qua, sau khi ổn định cuộc sống, các thể nghiệm trong tôi đã cho thấy một cách rõ rệt là quyền năng vĩ đại của Sư Phụ đang chăm sóc đời tôi. Tôi chỉ còn biết cám ơn - không gì khác ngoài sự biết ơn. Xin cám ơn Sư Phụ đã cho tôi những phước báu lớn lao như vậy! Nếu không có các thể nghiệm cá nhân này, những câu chuyện do người khác kể thường có vẻ quá xa vời đối với tôi. Bây giờ những câu chuyện trong cuốn Bản Tin thường hay làm tôi cảm động, bởi vì tôi biết nó là có thật, qua kinh nghiệm riêng tôi.

Nếu Cần Giúp,
Hãy Gọi
Tên Sư Phụ

Do sư huynh Shahid Mahmood,
Luân Ðôn, Anh Quốc
(Nguyên Văn Tiếng Anh)

Mẹ tôi đau nặng suốt một tháng trời. Bà đã cả tuần không ngủ, sau khi nằm mơ thấy mình ở trong một khu rừng âm u, hoang vắng. Bà thấy có người ở đó, bà tiến lại gần, nhưng khi đến gần thì ông ta biến thành một cái khác, giống như một giống vật nào đó. Ông ta tiếp tục biến hóa rồi cắn cánh tay phải của bà hai lần; tay bà bắt đầu chảy máu và sưng lên một cách dễ sợ. Mẹ tôi kinh hoàng sợ hãi.

Sáng hôm sau thức dậy, bà ngạc nhiên thấy hai tay của mình vẫn còn nguyên vẹn, bởi vì giấc mơ đó giống y như thật. Một tuần đã qua và bà quên hẳn chuyện này. Một tối nọ bà bỗng nhớ lại và thật tâm muốn biết ý nghĩa của giấc mơ. Bà hỏi cha tôi. Ông bảo bà hãy đọc lời cầu nguyện ngắn trong kinh Koran.

Tôi giải thích với mẹ tôi rằng có hai điều bà cần phải làm: Thứ nhất là bà cần phải ngưng ăn máu thịt súc vật; thứ nhì là bà cần Sư Phụ giúp bà vượt qua khỏi nơi đó. Tôi giải thích rằng bà vẫn có thể giữ đạo mà bà đang theo, chỉ cần dùng lực lượng này bổ sung cho tôn giáo ấy mà thôi. Mẹ tôi có vẻ rất thông hiểu.

Tôi giải thích rằng Sư Phụ từ thế giới thứ năm xuống đây để cứu giúp chúng ta, lực lượng của Ngài thật là ngoài sức tưởng tượng, và chính tôi đã được Ngài giúp đỡ nhiều lần. Bà nhận xét rằng đã có rất nhiều người theo Sư Phụ. Tôi cũng chỉ cho bà thấy những việc làm từ thiện của Sư Phụ. Tôi cho mẹ tôi xem tấm ảnh của Sư Phụ trên Bản Tin và dặn bà hãy niệm danh Sư Phụ. Tôi giải thích rằng trước hết bà có thể cầu bất cứ Thượng Ðế hay vị Minh Sư nào mà bà tin tưởng, nhưng nếu không có hiệu quả thì hãy cầu Sư Phụ.

Mẹ tôi đồng ý và vui vẻ đi ngủ. Sáng hôm sau khi thức dậy, bà bị bệnh dữ dội, nhưng đã ngủ được đêm đó. Tôi giải thích đây là một cách để thân thể được thanh lọc. Ðêm kế tiếp bà cũng ngủ được, nhưng khi thức giấc, bà bị đau quằn quại và tiêu chảy trầm trọng, một trạng thái kinh hoàng. Tôi hỏi mẹ tôi rằng bà có gọi tên Sư Phụ không, và ngạc nhiên khi bà nói rằng "không". Tôi nói với bà những lời nói của một đứa con: "Mẹ ơi, mẹ không nên chịu đựng một mình như vậy. Xin mẹ hãy gọi tên Sư Phụ; Ngài có lực lượng vạn năng và sẽ cứu Mẹ." Bà nói rằng bà sẽ niệm danh Sư Phụ khi đi ngủ.

Ðêm đó sau khi thiền, tôi đi ngủ và thấy có nhiều hóa thân trong mơ. Họ trông giống như những thiên thần, và tất cả đang đến thăm mẹ tôi. Họ giải phẩu cho mẹ tôi, sửa chữa và làm mẹ tôi lành bệnh; một lực lượng thương yêu dịu dàng tràn ngập khắp mọi nơi. Sáng ra, tôi điện thoại cho mẹ và được biết bà đã khỏe, lành bệnh một cách thần kỳ. Tôi nói rằng tôi biết đó là nhờ lực lượng của Sư Phụ đã đến viếng bà tối qua. Giọng mẹ tôi tràn đầy lòng biết ơn Thượng Ðế. Tôi nói rằng bất cứ lúc nào bà cần giúp đỡ, chỉ cần gọi đến Lực Lượng này; nó có thể đem bà về Quê Hương, băng qua hằng hà sa số cảnh giới, qua tất cả tương lai.

Tôi cũng giải thích rằng khi khỏi bệnh, điều tốt nhất là không nên ăn thịt súc vật nữa. Mẹ tôi đồng ý rằng đó là lý do chính đã làm cho bà bệnh hoạn, và bà sẽ không bao giờ đụng tới thịt nữa.

Sáng nay tôi cảm thấy tri ân Sư Phụ thật nhiều về tấm lòng từ bi vô lượng của Ngài. Xin Thượng Ðế gia trì cho Ngài trong tất cả tương lai. Tôi nhận thấy rằng nếu ai muốn được giúp đỡ, chỉ cần gọi tên Sư Phụ và thỉnh Ngài đến cứu. Một khi thấy Lực Lượng này hiển lộ, ta sẽ vô cùng kinh ngạc!


Những Giọt Nước Trong Biển Tình Thương [Top]

Trên Ðường Tu Học Với Cha Mẹ Tôi!

Do Tun Xin

Bấy giờ là mùa hái trà. Tôi theo cha tôi lên đồn điền của gia đình trên núi để cùng hái trà. Tới giờ trưa, một nữ nhân công nghĩ tôi không đem cơm theo nên có ý muốn chia phần cơm chay của cô cho tôi. Thật ra, tôi có đem cơm. Vì cô không phải là người ăn chay hoàn toàn, nên cha tôi không đợi tôi trả lời, một cách hãnh diện nói rằng: "ồ! Nó không nhận thức ăn của cô đâu! Nó ăn chay còn kỹ hơn cô nữa!"

Tôi bật cười, nhớ lại hồi đó tôi và chị tôi đã phải làm cách mạng với gia đình, khi hai chúng tôi muốn ăn chay, tu hành. Thế mà bây giờ, cha mẹ tôi đã thay đổi hoàn toàn như vậy. Mặc dầu họ vẫn chưa muốn tu hành, thậm chí đôi khi vẫn còn thốt ra những lời khinh miệt để chọc tức chúng tôi, nhưng tôi có thể cảm nhận được tình thương bao la của họ. Những sự hiểu lầm của họ trước kia cũng chỉ vì thái độ của chúng tôi lúc đó hãy còn quá cứng, một điều mà chúng tôi cần phải xem xét, kiểm thảo chính mình.

Mỗi lần chúng tôi về nhà ăn Tết hay để chung vui vào những ngày lễ khác, cha mẹ chúng tôi thường hay tỏ vẻ lo lắng cho chúng tôi không đủ dinh dưỡng, và đã đề nghị đặt mua thật nhiều món chay cho cả nhà ăn. Khi chúng tôi tận tình nấu một vài món chay giản dị cho họ, họ luôn luôn ăn một cách ngon lành và còn nhắc nhở chúng tôi đừng ăn những món chay đã bị chế biến quá nhiều. Mẹ tôi đặc biệt đáng yêu; mặc dầu chúng tôi không bao giờ ép ai ăn chay, nhưng bà luôn ăn chay với chúng tôi trong những ngày chúng tôi ở lại nhà.

Chúng tôi thường kể cho bà nghe những mẫu chuyện vui tươi, ấm áp về cuộc sống trong nhóm chúng tôi, và cách chúng tôi làm để gia tăng vẻ đẹp của Trung Tâm. Tôi có thể cảm nhận được trong bà một sự thay đổi nhẹ nhàng. Mẹ tôi bây giờ bắt đầu lưu tâm nhiều hơn đến nghệ thuật sống và thẩm mỹ. Bà dành thời giờ để trồng hoa, trồng cỏ quanh nhà, tạo nên một bầu không khí tươi vui chào đón. Bà cũng để dành những trái cây to, ngon ngọt cho người nào mang quà đến cho bà. Có khi chúng tôi nửa đùa nửa thật nói bà hãy ăn chay giống như chúng tôi, bà mỉm cười thơ ngây.

Thấy cha mẹ hết lòng hy sinh cho chúng tôi, những người con yêu của họ, mà không đòi hỏi đền đáp, tôi tự hỏi lòng mình: "Trên đường tu học tôi cũng có thể làm như vậy được không, có thể cống hiến và hy sinh như vậy?" Ðịa vị, danh vọng, tiền tài, và những vật chất thế gian " tôi không thể đền đáp ơn nghĩa cha mẹ bằng những thứ này. Tôi chỉ có thể thúc giục mình thật thành tâm trong việc tu hành, và lợi dụng thân thể con người quý báu này để phục vụ cho đại chúng, đó cũng là một cách mở rộng tấm lòng hy sinh của cha mẹ tôi sang người khác.


Lời Pháp Cam Lồ [Top]

Lời của Thanh Hải Vô Thượng Sư
Tây Hồ, Formosa Ngày 6 tháng 6, 1995
(Nguyên văn tiếng Anh)

Luôn luôn, lúc nào cũng phải chú ý; nếu không thì rất dễ dàng để một ngày trôi qua, hai ngày trôi qua, ba ngày trôi qua, cả cuộc đời trôi qua trong ảo ảnh, trong các thói quen tật xấu mà không lên được cảnh giới cao hơn, không hiểu được ý nghĩa thâm sâu của đời sống tu hành.

Nếu chúng ta thật sự thành thật trong lòng và muốn cải biến hoặc huấn luyện mình nhạy cảm hơn đối với những đau khổ và hạnh phúc của kẻ khác cũng như đối với sự trong sạch và hạnh phúc của chính mình, thì chúng ta phải luôn luôn thận trọng.


Chuyện Lành Mạnh [Top]

Ðồng Tu và Ma Ðói

Do sư huynh Low Chip Khoon, Tân Gia Ba
(Nguyên văn tiếng Anh)

Một đồng tu nọ bị một con ma đói bắt.

Con ma muốn ăn thịt ông.

Vị đồng tu không phản đối gì cả, chỉ nói:

"Xin cho phép tôi được nhớ tới Thượng Ðế trước khi ngươi ăn thịt tôi,

Vì tôi đã nói với Thượng Ðế là trước khi chết, tôi muốn được tưởng nhớ tới Ngài."

Rồi ông ngồi xuống; những kỷ niệm về Sư Phụ tràn ngập trong đầu:

Những giờ phút vui tươi bên Sư Phụ

Những lúc cùng với anh em đồng tu,

Thời gian làm việc cho Sư Phụ.

Ông cũng nhớ lại những điều tốt đẹp mà Thượng Ðế từ bi đã ban cho ông:

Một cuộc sống đơn giản,

Một con tim nhân hậu,

Một tình thương đơn thuần, trong sạch mà ông cảm thấy những lúc tràn đầy hỷ lạc,

Sự hiền hòa, thương mến của Thiên Nhiên.

Ông nhớ hết tất cả những chuyện này, và tâm hồn ông được bình an.
Khi mở mắt ra, ông nói với con ma:

"Tôi hài lòng rồi.
Bây giờ ngươi có thể ăn thịt tôi."

Nhưng ông ngạc nhiên thấy mắt của con ma đang ưá lệ.

Hình như nó có quyền thuật thấy được lòng người,

Và nó đã cảm động trước những gì nó thấy.

"Hãy đi đi, với phước lành của tôi,"

"Cám ơn đã nhắc nhở tôi đến Thượng Ðế..." con ma nói xong biến mất,

Tất cả chúng sinh đều có cái tốt bên trong.


Thông Ðiệp Ngắn [Top]

Kính Gởi Ðộc Giả Bản Tin,

Trong những năm vừa qua, chúng tôi đã được danh dự chia xẻ Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư với quý vị. Thức ăn tâm linh quý giá này mà quý vị nhận được qua ân điển của Sư Phụ chúng tôi không những nuôi dưỡng khía cạnh tâm linh của cuộc đời, mà còn giúp nâng cao tâm thức của toàn thể hành tinh. Chúng tôi đang cập nhật hóa các hồ sơ, để cần xác nhận xem quý vị có muốn tiếp tục nhận cuốn Bản Tin vào những ngày sắp tới, và xin chân thành yêu cầu quý vị điền vào mẫu đơn dưới đây. Xin vui lòng sửa đổi lại tên họ hay địa chỉ nếu cần thiết.

Quý vị có thể gởi lại mẫu đơn qua điện thư, fax, hay thư từ thông thường đến Trung Tâm địa phương hay đến:

Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư
Ðiện Thư <lovehai@Godsdirectcontact.org>
Fax: 1-801-740-9196 (Hoa Kỳ)
Ðịa chỉ: PO Box 730247, San Jose CA 95173-0247 USA / PO Box 9, Hsihu, Miaoli, Formosa

Nếu chúng tôi không nhận được thư trả lời vào hạn cuối ngày 30 tháng 7, 2000, tên của quý vị sẽ được lấy ra khỏi danh sách gởi thư của chúng tôi. Chúng tôi xin cảm tạ sự cộng tác của quý vị trong công việc này.

<Mẫu Thẩm Vấn>

Tôi muốn tiếp tục nhận Bản Tin bằng Bưu Ðiện.
Xin hủy bỏ đơn nhận Bản Tin của tôi; Tôi sẽ:
(lấy tại Trung Tâm địa phương; 1 đọc từ internet hay tin điện tử)
Xin hủy bỏ đơn nhận Bản Tin của tôi.
Ðổi Tên Ðổi Ðịa Chỉ
Xin vui lòng gởi một cuốn sách biếu và Bản Tin đến: (Người nhận phải thật sự thích đọc)

Ðã Tâm Ấn (ngày thọ Tâm Ấn: / / )

* Xin vui lòng gởi lại nhãn hiệu trên phong bì khi chúng tôi gởi Bản Tin cho qúy vị, hoặc điền vào nhãn hiệu theo mẫu dưới đây để việc sửa đổi được dễ dàng hơn.

Tên: _________________________________________________________________________
Ðịa Chỉ Cũ: ____________________________________________________________________
Ðịa Chỉ Mới: ___________________________________________________________________
Ðiện Thư: _____________________________________________________________________

*** Nếu quý vị muốn đặt cuốn Bản Tin qua hình thức điện tử và nhận Bản Tin qua điện thư (e-mail), xin vui lòng ghi danh tại một trong những địa điểm mạng lưới sau đây:

http://www.Godsdirectcontact.org.tw/ch/service/service.htm (Tiếng Trung Hoa)
http://www.Godsdirectcontact.org.tw/eng/service/service.htm (Tiếng Anh)
http://www.Godsdirectcontact.org/au/service/service.htm (Tiếng Âu Lạc)
http://www.Godsdirectcontact.com/english/service.htm (Tiếng Anh)
http://www.Godsdirectcontact.com/spanish/service.htm (Tiếng Tây Ban Nha)
http://www.Godsdirectcontact.com/chinese/jian/service.htm (Tiếng Trung Hoa, đơn giản)
http://www.Godsdirectcontact.com/chinese/fan/service.htm (Tiếng Trung Hoa, cổ truyền)


Trên Mạng Lưới Quán Âm [Top]

http://www.Godsdirectcontact.org.tw (Formosa; tiếng Trung Hoa, tiếng Anh)
http://www.smchbooks.com/ (Formosa; tiếng Trung Hoa, tiệm sách SMCH)
http://www.Godsimmediatecontact.com (Tân Gia Ba; tiếng Anh)
http://www.GodsImmediateContact.co.kr (Ðại Hàn; tiếng Ðại Hàn)
http://www.Godsdirectcontact.co.kr (Ðại Hàn; tiếng Ðại Hàn)
http://www.GodsImmediateContact.org (Nhật Bản; tiếng Nhật)
http://www.Godsdirectkontak.org (Nam Dương; tiếng Nam Dương)
http://www.Spiritual-Discovery.org (Mỹ Quốc; tiếng Anh, tiếng Trung Hoa, tiếng Ðại Hàn, tiếng Âu Lạc)

http://mason.gmu.edu/~lduan/Godsdirectcontact (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://members.tripod.com/~Godsdirectcontact/ (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.Godsdirectcontact.com (Mỹ Quốc; tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Hoa)

http://www.spiritweb.org/Spirit/media.html?who=Suma%20Ching%20Hai (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.Godsimmediatecontact.net/ (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.godsimmediatecontact.net/aulac (Mỹ Quốc; tiếng Âu Lạc)
http://www.Godsimmediatecontact.org/video/ (Mỹ Quốc; có phát hình và phát thanh)
http://www.members.xoom.com/meditations/GodsDirectContact.html (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.GodsImmediateContact.tripod.com (Mỹ Quốc; tiếng Anh)
http://www.contactDirectAvecDieu.org (Pháp Quốc; tiếng Pháp)
http://www.chinghai.cz (Cộng Hòa Tiệp Khắc; tiếng Tiệp Khắc)
http://www.Godsdirectcontact.org (Gia Nã Ðại với âm thanh; tiếng Anh, tiếng Âu Lạc)
http://www.telecom.at/chinghai (Ało Quốc; tiếng Ðức)
http://members.xoom.com/ifaybish/Godsdirectcontact.html (Bỉ Quốc; tiếng Anh)
http://ourworld.compuserve.com/homepages/quanyin (Anh Quốc; tiếng Anh)
http://www.extra.hu/kozvetlen_kapcsolat_Istennel (Hung Gia Lợi; tiếng Hung Gia Lợi)
http://Godsdirectcontact.bizland.com/ (Thụy Ðiển; tiếng Thụy Ðiển)
http://www.Godsdirectcontact.com/IhavecometotakeyouHome (tiếng Anh)
(Ðặt sách - I Have Come To Take You Home)
Ban báo chí: lovesrc@Godsdirectcontact.org

Trên Mạng Lưới Quán Âm

Ðịa Chỉ Trên Mạng Lưới về Bản Tin Thanh Hải Vô Thượng Sư:

Bản Tin tiếng Trung Hoa 111:
http://www.Godsdirectcontact.org.tw/ch/index.htm (Formosa)
http://www.Godsdirectcontact.com/eNews/chinese/111/ (Hoa Kỳ)
Bản Tin tiếng Anh 111:
http://www.Godsdirectcontact.org/eng/news/111/ (Hoa Kỳ)
http://www.Godsimmediatecontact.net/news/news111/ (Hoa Kỳ)
http://www.Godsdirectcontact.com/eNews/english/111/ (Hoa Kỳ)
http://www.Godsdirectcontact.org.tw/eng/index.htm (Formosa)
Bản Tin tiếng Âu Lạc 111:
http://Godsimmediatecontact.net/aulac/n111/ (VNI font)
http://www.Godsdirectcontact.org/auvnu/news/111/ (VNU font)
http://www.Godsdirectcontact.org/auviscii/news/111/ (VISCII font)
http://www.Godsdirectcontact.org/auvni/news/111/ (VNI font)
http://www.Godsdirectcontact.org/auvps/news/111/ (VPS font)
Bản Tin tiếng Tây Ban Nha:
http://Godsdirectcontact.com/eNews/spanish/
Bản Tin tiếng Nhật Bản:
http://www.Godsimmediatecontact.org/kannon/news/newsindex.htm
Bản Tin tiếng Pháp:
http://www.contactdirectavecdieu.org/News/index.html


Sư Phụ Kể Chuyện Vui [Top]

- Câu chuyện sống - tại Florida, sau buổi ăn tối cùng nhau
Ðồng tu kể, Thanh Hải Vô Thượng Sư phỏng dịch
Florida, Hoa Kỳ Ngày 9 tháng 10, 1999
(Nguyên văn tiếng Trung Hoa và tiếng Anh)

Luôn Luôn Chia Xẻ

Một cặp vợ chồng già nọ đi vào nhà hàng gọi thức ăn: Một ly cô ca cô la và một phần khoai tây chiên. Ông già ngồi xuống còn bà vợ thì ngồi đối diện, rồi ông bắt đầu chia cô ca cô la ra làm hai ly, một nửa cho mình còn nửa kia cho vợ. Ông chia cả gói khoai ra làm hai. Ông đưa một nửa cho bà vợ còn giữ nửa kia cho mình. Rồi ông bắt đầu ăn và uống, còn bà vợ thì chỉ uống chứ không ăn. Có một người thanh niên trẻ tuổi đang đứng cạnh bàn không hiểu sao cái gì ông già cũng chia ra làm hai, nên nghĩ có lẽ họ không đủ tiền. Anh bèn hỏi cặp vợ chồng già: "Cháu có thể mua cho hai bác thêm một phần nữa; hai bác không cần phải chia ra như vậy." Ông già mới giải thích: "Không, không, không, chúng tôi lấy nhau bốn mươi năm rồi, cái gì chúng tôi cũng luôn luôn chia xẻ cho nhau. Có cái gì chúng tôi cũng chia hai. Ðừng bận tâm, cám ơn anh lắm." Nhưng một lát sau, anh chàng thanh niên thấy bà vợ không ăn mà chỉ có ông già ăn, nên hỏi: "Tại sao bác không ăn?" Bà vợ đáp: "Hôm nay tới phiên ổng dùng bộ răng giả."

Lửa Cháy Trong Bếp Tôi

Có một người nhà đang cháy. Ông ta hốt hoảng, gọi sở cứu hỏa gấp: "Khẩn cấp, khẩn cấp, làm ơn lẹ lên, lửa cháy, lửa cháy! Ðến lẹ lên, dập lửa!" Viên trưởng ty cứu hỏa hỏi ông: "Nhưng lửa cháy ở đâu? Lửa bắt cháy chỗ nào?" Ông đáp: "Trong nhà tôi, khẩn cấp lắm! Ở trong nhà tôi! Hãy đến lẹ lên!" "Vâng, tôi biết nó ở trong nhà ông. Nhưng ở đâu?" Ông trả lời: "Trong bếp tôi!" Viên trưởng ty cứu hỏa không còn kiên nhẫn được nữa, liền nói: "Nghe đây, tôi biết rồi! Nhưng làm sao tôi đến nhà ông đây? Ông có hiểu tôi nói không? Làm sao tôi đến nhà ông?" Ông kia nói : "Bộ ông không có xe sao?"

Thiếu Một Cái

Tàu Titanic số 2 đang chìm, đang chìm, chìm rất nhanh; ông thuyền trưởng hỏi: "Ở đây có ai biết cầu nguyện không?" Có người đáp: "Tôi biết." Thế là ông thuyền trưởng bảo: "Vậy anh quỳ xuống đó, cầu nguyện cho tất cả chúng tôi; mọi người khác hãy đeo phao cấp cứu vào!" Trên tàu thiếu một cái phao.


Thơ [Top]

Nhàn Vui

Do sư tỷ Sheng Lihong, Tân Gia Ba

Xa xa, bụi tre vui xào xạc,
Nơi đây, suối cười đùa róc rách,
Tôi hỏi thầm chú chim bên cửa:
Em có biết chăng âm nhạc nhiệm mầu
trong tim?


Liên Lạc Viên Của Chúng Ta Trên Toàn Thế Giới [Top]

P.O. Box 9, Hsihu, Miaoli, Formosa, R.O.C.
P.O. Box 730247, San Jose, CA 95173-0247, Hoa Kỳ

***AFRICA***

R.S.Africa:
Cape Town Mr. Christopher Luccarda 27-21-789-2033
Mobile:27-21-83-231-5340
1love@earthling.net
Durban Mr. Suresh Patel 27-31-262-5111
sureshp@intekom.co.za
Ms. Edith Lonsdale 27-31-201-3347
pnlons@iafrica.com
East London Mr. Anthony Sabbagh 27-437-352575
sabbagh@iafrica.com
Johannesburg Mr.&Mrs. Chen Tai Lin 27-11-6404806
smch@global.co.za
Ms. Sonya Gusson 27-11-6229455
sonya_usa@hotmail.com
Pretoria Mr. Daniel Pierre de Villiers 27-12-8045766
pdv@pixie.co.za
Maruitius
Port Louis Mr. Liang Dong Sheng 230-208-1758
230-253-5699
smmaurice@email.com
Ms. Josiane Chan She Ping 230-242-0462
Togo Center 228-222864
smtogo@yahoo.com
Mr. David Chine 228-215551

***AMERICA***

Argentina:
Buenos Aires Ms. Hui-Ling Ling 54-11-4-951-8130
Ms. Mabel Alicia Kaplan 54-11-4-545-4640
mak@sminter.com.ar
Mr. Norberto Bellino 54-11-4209-1493
Bolivia:
Trinidad Mr. Wu Chao Shien 591-4625964
Brazil:
San Paulo Center 55-11-228-7029/884-3155
Liaison Office 55-11-227-4690/570-1180
brcenter@hotmail.com
Belem Mr. Wei Cheng Wu 55-91-223-9414
Chile:
Santiago Santiago Center 56-2-6385901
chinghai@chilesat.net
Liaison Office 56-2-6389229
La Serena Mr. Esteban Zapata Guzman 56-51-295992
ezapata@entelchile.net
Colombia:
Bogota Mr. & Mrs. Jose Guzman Alons 57-1-2261245
Costa Rica:
San Jose Costa Rica Center 506-268-8666
juanbta@solracsa.co.cr
Ms. Santa Morales 506-259-5993
Ms. Laura Chen 506-220-0753
Honduras:
Tegucigalpa Ms. Edith Sagrario Ochoa 504-2250120
Mexico:
Mexico State Liaison Office 52-5-852-1256
tecenter@ragnatela.net.mx
Guanajuato Mr. & Mrs. Jose Luis Sanchez Vargas 52-4-7436120
Mexicali Ms. Sylvia Lagrange 52-65-684575
quanyin@telnor.net
Monterrey Mr. Roque Antonio Ledl Suffo 52-8-3778387
mtycenter@starmedia.com
Panama: Ms. Maritza E.R. de Leone 507-260-5021
gleone@sinfo.net
Paraguay
C.D. East Mr. Zhi-Lu Tsao 595-61-502034
jscmike@fnn.net
Peru:
Lima Center 51-1-4716472
lvalencia@terra.com.pe
Mr. Edgar Nadal &
Ms. Teresa de Nadal 51-1-4667737
Mr. Victor Carrera 51-1-2657429
Cusco Mr. Varovski Velarde 51-84-246256
varovski@mixmail.com
cuscocentro@yahoo.com
Ms. Peruzk Camargo 51-84-231436
Puno Ms. Mercedes Rodriguez 51-54-353039
Trujillo Mr. Luis Rebaza 51-44-260871
Salvador Mr. & Mrs. Ming-Sen Lu 503-2746282
Mr. Roger Rodriguez Molina 503-2840279
rogerrod@es.com.sv
Canada:
Edmonton Mr. Brian Hokanson 1-780-444-6568
Mr.Mrs. Dang Van Sang 1-780-963 5240
xdang@powersurfr.com
Kingston Mr. Quang Thanh Le 1-613-384-3295
London Ms. Wei Zhong 1-519-438-3702
wzhong2@julian.uwo.ca
Montreal Montreal Center 1-514- 277-4655
Ms. Euchariste Pierre 1-514-277-2717
Mr. Hung The Nguyen 1-514-494-7511
thehungnguyen@iprimus.ca
Mr. & Mrs. Nai-Chi Hsu 1-450-647-4871
Ottawa Mr. Le Lam 1-613-260-1698
lamle@sprint.ca
Mr. Armand Laplante 1-613-745-6050
Toronto Toronto Center 1-416-503-0515
Ms. Diep Hoa 1-905-897-0650
Mr. & Mrs. Lenh Van Pham 1-416-282-5297
hiepham@home.com
Vancouver Ms. Li-Hwa Liao 1-604-541-1530
jsung@aicompro.com
Ms. Sheila Coodin 1-604-739-6758 sheila@prismnet.bc.ca
Ms. Nguyen Thi Yen 1-604-581-7230
USA:
Arizona: Center 1-623-581-0725
ArizonaCtr@aol.com
Mr. & Mrs. Kenny Ngo 1-602-404-5341
Vegetarian House 1-602-264-3480
Arkansas: Mr. Robert Jeffreys 1-501-253-8287
arcenter@juno.com
California:
*Los Angeles Los Angeles Center 1-909-674-7814
Mr. & Mrs. Tsung-Liang Lin 1-626-914-4127
tllin54@hotmail.com
Mr. & Mrs. Dong Phung 1-626-284-9994
SanGabriel99@hotmail.com
Ms. Tena Polny Normandin 1-714-968-3359
qin-na.polny@mindspring.com
*Sacramento Mr. & Mrs. Hieu De Tu 1-916-682-9540
saccenter.ca@usa.com
*San Diego San Diego Center 1-619-280-7982
quanyinsd@juno.com
Mr. & Mrs. Tran Van Luu 1-619-475-9891
Mr. & Mrs. Tang Thi 1-619-268-8651
*San Jose Ms. Sophie Lapaire 1-650-988-6500
sophieandpam@earthlink.net
Mr. & Mrs. Edgar Shyuan 1-408-463-0297
Edgar-Teresa@worldnet.att.net
Mr. Loc Petrus 1-510-276-4631
Cellular:1-510-303-1323
petrusl@attglobal.net
Mr. Jim Su 1-408-253-8516
sumajim@aol.com
*San Francisco Center KHOALUONG@aol.com
Mr. &Mrs. Khoa Dang Luong 1-415-753-2922
Mr.&Mrs. Dan Hoang 1-415-333-9119
sfcenter@hotmail.com
Colorado: Ms. Victoria Singson 1-303-986-1248
torahi@juno.com
Florida:
*Cape Coreal Mr. & Mrs. Thai Dinh Nguyen 1-941-458-2639
Ms. Trina L. Stokes 1-941-482-7542
tls77@ao1.com
*Orlando Mr. & Mrs. Tze-Chen Chen 1-407-321-8297
1-407-771-8895
tze-chen.chen@convergys.com
Georgia: Georgia Center/Bhiksuni Chan Mo
1-770-936-9926
GeorgiaCnt@aol.com
Mr. James Collins 1-770-934-2098
Kim Dung Thi Nguyen 1-404-292-7952
Hawaii: Hawaii Center 1-808-735-9180
hawaiictr@hotmail.com
Ms. Andrea Seu Chow Lee 1-808-599-4339
andreasmch@hotmail.com
Illinois: Mr. & Mrs. Julian L. Chen 1-630-416-3821
yyvonne123@aol.com
Indiana: Mr. & Mrs. Duc Vu 1-317-293-5303
duchanh@aol.com
Kentucky: Mr. & Mrs. Nguyen Minh Hung 1-502-695-7257
FNGUYEN@MAIL.STATE.KY.US
Massachusetts:
*Boston Boston Center 1-978-436-9982
shinemound@earthlink.net
Ms. Gan Mai-Ky 1-508-791-7316
Mr. & Mrs. Huan-Chung Li 1-978-957-7021
yyfb48a@prodigy.com
Ms. Cynthia A. Lombardo 1-508-388-4306
Maryland: Mr. Nguyen Van Hieu 1-301-933-5490
HunghMDCenter@yahoo.com
Mr. Robert Ectman 1-301-972-5654
bce94@hotmail.com
Michigan: Susan Manturuk 1-616-588-6341
manturuk@torchlake.com
Minnesota: Ms. Quach Ngoc 1-612-722-7328
quach001@juno.com
Missouri:
*Rolla Mr. Genda Chen 1-573-368-2679
gchen@umr.edu
*Jefferson Ms. Mary E. Steck 1-573-761-9969
MSteck5208@aol.com
Nebraska: Ms. Celine Robertson 1-402-483-4067
ctrobert@yoda.unl.edu
Nevada:
*Las Vegas Ms. Helen Wong 1-702-242-5688
New Jersey: New Jersey Center 1-973-209-1651
c_newjersey@yahoo.com
Mr. & Mrs. Nghiem The Trung 1-609-667-3829
albert_nghiem@hotmail.com Mr. Chang-Sheng Chou 1-973-335-5336
JohnChou@ymlusa.com
New York: Mr. & Mrs. Zhihua Tung 1-718-837-4884
dong@phys.columbia.eduv
*Rochester Ms. Debra Couch 1-716-256-3961
success@coachdebra.com
North Carolina Mr. & Mrs. Huynh Thien Tan 1-704-599-6473
Ohio: Mr. & Mrs. Vu Van Phuong 1-513-887-8597
von@swoca.net
Mr.Gilbert Rivera 1-513-381-4554
wisdmeye@aol.com
Oklahoma: Mr. & Mrs. Tran Kim Lam 1-405-632-1598
LTRAN2292@aol.com
Oregon:
*Portland Ms.Vera Looijenga 1-503-234-1416
Mr. & Mrs. Minh Tran 1-503-614-0147
orcenter@hotmail.com
Mr. & Mrs. Alister Phuoc Minh Pham
1-503-642-1252
AlisterPhuocPham1@juno.com
Pennsylvania: Mr. & Mrs. Diep Tam Nguyen 1-610-626-5546
Diep.Ngu.PA@juno.com
Mr. Shi-Tao Yeh 1-610-640-0463
smchpa@juno.com
Texas:
*Austin Austin Center 1-512-396-3471
jwu1@austin.rr.com
Mr. Dean Duong Tran 1-512-989-6113
tranduongdean@yahoo.com
*Dallas Dallas Center 1-214-339-9004
DallasCenter@yahoo.com
DallasCenter@hotmail.com
Mr. Tim Mecha 1-972-395-0225 mechat@email.msn.com
Mr. Weidong Duan 1-214-528-9178
water96@yahoo.com
Mr. Jimmy Nguyen 1-972-946-3398
*Houston Houston Center 1-281-893-8300
Ms. Carolyn Adamson 1-713-6652659
caroltex@interserv.com
Mr. & Mrs. Charles Le Nguyen 1-281-370-3898
DNguyen376@aol.com
Mr. & Mrs.Wayne Cheng 1-281-8708081
joycheng@earthlink.net
*San Antonio Mr. Khoi Kim Le 1-210-558-6088
Virginia: Mr. David R. Craig 1-703-573-2760
justmeditate@hotmail.com
*Richmand Mr. David Young 1-757-5872458
davidkyoung@hotmail.com
Washington:
*Seattle Mr. Ben Tran 1-425-643-3649
benptran007@hotmail.com
Mr. Edward Tan 1-206-228-8988
edtan@usa.com
Puerto Rico Mrs. Disnalda Hernandez Morales 1-787-262-1874
San Juan Ms. Shanti Ragyi 1-787-723-7138
shantiragyi@hotmail.com
Camuy Mrs.Disnalda Hernanadez Morales 1-787-262-1874
Trinidad Island Mr. Ray Aliboucus 1-868-637-1054
alobocus@tstt.net.tt

***ASIA***

Burma: Mr. Sai San Aik 951-667427
Formosa:
Taipei Taipei Center 886-2-23757527
Mr.Chuan-Ping Yang 886-2-23756784
Mr.Chiu Min Fen 886-2-23890885
Miaoli Mr. & Mrs. Chen Tsan Gin 886-37-221618
Mr.Chu Chen Pei 886-37-724726
Kaohsiung Mr. & Mrs. Yao-Jong Chang 886-7-745-4062
Mr.Fei Lung Wu 886-8-7211692
Mr.Yuan Hua Wu 886-8-7562020
Hong Kong: Hong Kong Center 852-27495534
Liaison office 852-26378257
lovequanyin@yahoo.com
lovequanyin@hotmail.com
India:
Bombay Mr. Suneel Ramaney 91-22-282-0190
Calcutta Mr. Ashok Sinha 91-33-655-6741
Indonesia:
Surabaya Mr. Rong-Tser Teng 62-31-5678962
smch-sby@idola.net.id
Jakarta Center 62-21-6319066
smch-jkt@dnet.net.id
Mr. Tai Eng Chew 62-21-6319061
Ms. Lie Ik Chin 62-21-6510218
financel@ueii.com
Ms. Murniati Kamarga 62-21-3840845
hai@cbn.net.id
Mr.I Ketut P.Swastika 62-21-7364470
Japan:
Tokyo Ms. Yukiko Sugihara 81-90-2628-8646 smjapan@livedoor.com
Mr. Yoshie Takeda 81-90-3963-0755
Gunma Ms. Hiroko Ichiba 81-27-9961022
truelove@mth.biglobe.ne.jp
Kumamoto Ms. Mochinaga Eiko 81-96-346-2928
genesis@mb.infobears.ne.jp
Osaka Mr. Ryu Norithito 81-6-6782-9643
Korea:
Seoul Seoul Center 82-2-5772158
sunchair@hitel.net
Mr. Jong-Cheol Oh 82-2-575-5080
Mr. Kim Young-cheol 82-2-2298-1822
Mr. Yoo Tae In 82-2-795-3927
Mr. Jung Chang Yul 82-2-2203-8186
Pusan Pusan Center 82-51-581-9200
smpusan@unitel.co.kr
Mr. Lee Sang Sik 82-51-783-5399
Mr. Song Ho Joon 82-51-957-4552
Mr. Hwang Sang Won 82-51-805-7283
Mr. Lee Won Suk 82-51-894-6645
Chon Ju Chon Ju Center 82-652-274-7553
Mr. Ji-Hwan Lin 82-652-272-9087
Inchon Inchon Center 82-32-5795351
Mr. Yong-Je Baeg 82-32-888-0110
Taegu Taegu Center 82-53-743-4450
Mr. Kim Ik Hyeon 82-53-9572858
Mr. Ryoo Jin Ho 82-53-8568509
Mr. Chang Ik Hyun 82-53-7535264
Taejon Taejon Center 82-42-625-4801
Mr. Kim Soo Dong 82-42-2547309
Kwangju Kwangju Center 82-62-2329613
Ms. So-Yeon Kim 82-62-2325630
Cheju Island Cheju Center 82-64-99-6113
Andong Andong Center 82-751-821-3043
Mr. Kim Sam Tae 82-575-8734961
Youngdong Youngdong Center 82-582-5325821
houmri@unitel.co.kr
Chungok Chungok Center 82-573-6731399
chinghai@unitel.co.kr
Macau: Macau Center 853-532231
macau_center@email.com
Liaison Office 853-532995
alzuz@macau.ctm.net
Malaysia:
Alor Setar Mr. Chiao-Shui Yu 60-4-7877453
Johor Bahru Mr. & Mrs. Chi-Liang Chen 607-3516075
supreme2@tm.net.my
Penang Penang Center 60-4-8279903
smchpg@tm.net.my
Mr. & Mrs. Lin Wah Soon 60-4-6420370
Kuala Lumpur Kuala Lumpur Center 60-3-9873904
klsmch@tm.net.my
Mr. Lau Woh Kwong 60-3-2213610
Ms. Mei-Huon Pan 60-12-2786098
Nepal:
Kathmandu Center 977-1-282575/977-1-521928
tashi@htp.com.np
Pokhara Center 977-61-28144
Philippines: Palawan Center 63-48-4339248
veghouse@hotmail.com
Singapore: Singapore Center 65-741-7001
chinghai@singnet.com.sg
Liaison office 65-846-9237
Thailand:
Bangkok Center 662-682-01389
Ms. Laddawan Na Ranong 662-5914571
edasnlad@samsorn.stou.ac.th
Mr. Wu Peir Yuan 66-1-8248294
Chiang Mai Chiang Mai Center 66-53-217080
Ms. Siriwan Supatrchamnian 66-53-387126
Had Yai Had Yai Center 66-74-368329-30
(c/o155)
Khon Kaen Khon Kaen Center 66-43-261-878
Mr. Paisal Chuangcham 66-43-241718

***EUROPE***

Armenia: Mr. Armen Hovhannisyan 374-2-227303
porrera@hotmail.com
Austria: Vienna Center 43-664-3909200
ChinghaiVienna@hotmail.com
Mr. & Mrs. Nguyen Van Dinh 43-2955-70535
Mr. Shih-Tsung Lu 43-2266-80399
sound@gmx.at
Belgium:
Brussels Mr. Hugo Berton 3216-405030
kim.luu@cfwb.be
Bulgaria
Mr. Ruslan Staykov T/F:3592-575358
oldruslan @yahoo.com
Czech:
Prague Center 42-02-90058578
prague_center@hotmail.com
Croatia: Mr.Zeljko Starcevic 385- 51- 251081
zeljko@mindless.com
Denmark: Liaison office 45-66-190459
vianne_@hotmail.com
Finland:
Helsinki Mr. Luong Hoang Hanh 358-9-8537455
fin_con_hhanh@artic.net
Ms. Anne Nystrom 358-9-793902
anne.nystrom@iobox.fi
France:
Paris Paris Center 33-1-4308-0559
Ms. Lancelot Isabelle 33-1-4030-1174
newsfrance@claranet.fr
Vaires/Marne Mr. Abdul Alim Pascal &
Ms. Ngo Thi Huong 33-1-60200014
tngo@free.fr
Montpellier Mr. Nguyen Tich Hung 33-4-67413257
Ardeche Ms. Reynet Jeanine 33-4-75376232
Germany:
Berlin Mr. Phan Duy Phuong 49-30-3470-9262
berlincenter@hotmail.com
Hamburg Liaison office 49-581- 15491
Munchen Ms. Kang Cheng 49-89-3616347
Ms. Johanna Hoening 49-8170-997050
ChingHai@aol.com
Duesseldorf Liaison office 49- 5232-68564
49-211-5144785
ngoc-thao.nguyen@uni-bielefeld.de
dusseldorfcenter@hotmail.com
Greece:
Athens Mr. Constantine Manos 30-61-278106
constantinem@hotmail.com
Holland:
Amsterdam Mr. Nguyen Ngoc Trung 31-294-41-9783
vothuong5@cs.com
Mr. Marcel Mannaart 31-72-5070236
Hungary:
Budapest Budapest Center 361-363-3896
heaven.bud@mail.matav.hu
Mr. Lux Tamas 36-309-611994
Ms. Dora Seres 36-1386-2741
Ireland:
Dublin Mr. & Mrs. Bernard Leech 353-1-6249050
Norway:
Oslo Mr. Nguyen Ngoc Tai 47-22-612939
tnguyen1@chello.no
Poland:
Cieszyn Mr. Liang Ziming 48-033-514988
Szczecin Mrs. Grazyna Plocinizak 48-091-4874953
Warsaw Mrs. To Soszynska 48-22-6593897
master_chinghai@poczta.onet.pl
mintra@polbox.com
minhtrang4@yahoo.com
Slovenia: Mr. Rastislav Alfonz Kovacic 386-63-814981
dbk@siol.net
Spain:
Madrid Madrid Center 34-91-5470366
Ms.Lidia Kong 34-91-6410275
Malaga Mr. Wang Ya-King 34-95-2351521
Valencia Ms.Xi-Chun Wang & Xin-Lan Yang
34-96-3336208
Vegetarian House 34-96-3744361
Mr. Yu Xi-Qi 34-96-3715269
Sweden:
Malmo Mr. & Mrs. John Wu 46-40-973452
Stockholm Mr. Mats Gigard 46-8-882207
mats@sirfield.nu
Uppsala Ms. Premila Perera Ivarsson 46-18-302029
Premila.perera@pharmacog.uu.se
Angelholm Mrs. Luu Thi Dung 46-431-26151
Are Ms. Viveka Widlund 46-647-32097
widlund@hem.utfors.se
Switzerland:
Geneva Ms. Feng-Li Liu 41-22-7973789
Ms. Klein Ursula 41-22-3691550
United Kingdom:
England:
London London Center 44-208-3742743
Liaison office 44-207-4731421
pnl@matters19.freeserve.co.uk
Surrey Mr. Hu Tchang Rong 44-1293-416698
Chester Mrs. Janet Weuer 44-1782-414989
Scotland:2
Edinburgh Mrs. Annette Lillig 44-131-6660319
lillig@btinternet.com
Glasgow MR. Robert Jackson 44-141-637-7255
Robert.Jackson@classicfm.net
Russia:
Moscow Mr. Rupasiri Perera 7-095-2424953
perera-rupasiri@mtu-net.ru

***OCEANIA***

Australia:
Ade Laide Mr. Leon Liensavanh 618-83326192
Brisbane Brisbane Center 617-3374-3339
briscentre@hotmail.com
Mr. Gerry Bisshop 61-7-3847-1646
Mrs. Tieng Thi Minh Chau 617-37157230
ctieng@dme.qld.gov.au
Mr. & Mrs. Yun-Lung Chen 617-33442519
Canberra Mr. & Mrs. Khanh Huu Hoang 61-2-62591993
smcanbra@cyberone.com.au
Sydney Sydney Center 61-2-9724-4997
Mr. Eino Laidsaar 61-2-9477-5459
einoforquanyinsydney@yahoo.com
Mr.& Mrs. Lam Anh Tuan 61-2-96044589
smsydney@bigpond.com
Mr. Hong Bo 61-2-97887588
hongbo_huang@hotmail.com
Melbourne Liaison Office 61-3-93961877
Melbourne Center 61-3-98900320
nang@eisa.net.au
Mrs. Rosemary Nagtegaal 61-3-9585-7871
Mr. & Mrs. Nguyen Luong Nang
61-3-9331-2991
Mr. Alan Khor 61-3-98574239
Perth Perth Center 61-8-9242-1189
Mr. David Robert Brooks 61-8-9418-6125
daveb@iinet.net.au
Mr. Ly Van Tri 61-8-9244-7661
Tasmania Mr. Peter John Boatfield 61-3-62293878
New Zealand:
Auckland Ms. Sharllen Lee 649- 4839454
shale@ihug.co.nz
Ms. Amy Ma 649-4802839
Tauranga Ms. Joy Daniels 64-7-5445268
Christchurch Mr. Michael Lin T:64-3-3436918/F:3436928
chaomin@hotmail.com
Hamilton Ms. Pi-Yu Ha 64-7-8562368
jadeha22@hotmail.com
Nếu không có liên lạc viên trong vùng, xin vui lòng liên lạc với liên lạc viên trong thành phố hoặc nơi

quốc gia gần quý vị nhất.


Báo Chí Ðó Ðây [Top]

Tờ "Thẩm Mỹ", Gia Nã Ðại
Ngày 15 tháng 12, 1999
(Nguyên văn tiếng Âu Lạc)

"Mẹ Việt Nam", Hoa Kỳ
Ngày 30 tháng 12, 1999
(Nguyên văn tiếng Âu Lạc)

Vị Nữ Lưu của Thế Kỷ

Người Âu Lạc được thế giới biết đến qua cuộc chiến tranh Ðiện Biên Phủ và cuộc chiến tranh 1965-1975. Nhất là sau khi miền Nam thất thủ, hàng triệu người Âu Lạc đã rời đất mẹ, tỵ nạn khắp nơi trên hoàn cầu. Việc bỏ nước ra đi vĩ đại này đã gây chấn động trên thế giới.

Sau khi ổn định cuộc sống, người Việt tại hải ngoại là một cộng đồng gây nhiều thiện cảm và được sự mến phục của các quốc gia nơi họ định cư như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Pháp, Ðức, Úc, Nhật, Anh, ý, v.v... Cộng đồng người Âu Lạc hải ngoại liên tiếp làm rạng danh và mang lại vinh dự nơi xứ sở họ đang cư ngụ qua các thành quả khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, v.v....

Ðặc biệt có một vị phụ nữ bôn ba, hiện diện khắp nơi trên hoàn cầu. Nơi nào có khổ đau, có thiên tai, có đói khát thì có sự góp mặt của vị nữ lưu này. Vị này mang tình thương yêu đến để an ủi, vỗ về, đã vô cùng đại lượng cứu trợ các trại tỵ nạn Âu Lạc, nạn nhân thiên tai bão lụt ở quê nhà, ở Cam Bốt, Thái Lan, Phi Luật Tân và khắp năm châu bốn bể. Vị nữ lưu danh tiếng từ thiện này chính là Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Ngoài nước Âu Lạc, nơi Thanh Hải Vô Thượng Sư sinh trưởng, và Hoa Kỳ, nơi Ngài từng sinh hoạt, Thanh Hải Vô Thượng Sư còn được nhiều quốc gia khác trên thế giới biết đến. Thanh Hải Vô Thượng Sư là một nhà từ thiện và nhà nghệ thuật lừng danh. Tình thương và sự giúp đỡ của Ngài vượt trên mọi biên giới về văn hóa và chủng tộc để đến cùng hàng triệu người trên thế giới. Lòng nhân ái là bản chất đặc thù của người phụ nữ này và Hội Từ Thiện Quốc Tế được thành lập theo gương Ngài.

Thanh Hải Vô Thượng Sư sinh quán tại miền Trung Âu Lạc. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã giúp đỡ bệnh nhân tại bệnh viện, nơi địa phương Ngài cư ngụ và săn sóc cho những người nghèo khó. Khi trưởng thành, Ngài xuất dương du học tại Âu Châu, tiếp tục làm việc tình nguyện tại đây trong khả năng y tá và thông dịch viên cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Hầu như nơi nào trên địa cầu có đau thương và thống khổ, nơi đó có Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Các sáng tác về hội họa, âm nhạc, thi ca, thiết kế trang sức và y phục của Ngài đều nổi tiếng, cũng như phản ảnh văn hóa những quốc gia dân tộc mà Ngài đã đi qua và tiếp xúc. Năm 1995, các y phục thời trang do Thanh Hải Vô Thượng Sư vẽ kiểu đã được trình diễn và được nồng nhiệt hưởng ứng tại các thủ đô, thành phố lừng danh như Luân Ðôn, Ba Lê, Milan, Nữu Ước, Ðài Loan, Hồng Kông, Tân Gia Ba... Số lợi tức thâu được từ các sáng tác nghệ thuật cho Ngài một nguồn tài chánh độc lập để giúp đỡ tha nhân trong các công tác cứu trợ.

Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được các chính quyền và các cơ quan trao tặng nhiều giải thưởng, trong đó có Giải Hòa Bình Thế Giới, Nhà Lãnh Ðạo Tâm Linh Thế Giới, và Giải Công Dân Nhân Ðạo Của Thế Giới. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã ba lần được mời đến Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước và Thụy Sĩ để thuyết giảng.

Thanh Hải Vô Thượng Sư qua các hoạt động từ thiện đã được nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới vinh danh, từ đương kim Tổng Thống Hoa Kỳ Clinton, cựu Tổng Thống Georges Bush, cựu tổng thống Ronald Reagan, Thượng nghị sĩ Bob Dole, Thượng nghị sĩ Daniel Akala, Thống Ðốc John Waihee, sáu vị Thống Ðốc miền trung-tây Hoa Kỳ, Thống Ðốc Terry E. Branstad tại tiểu bang Iowa, Thống Ðốc Jim Edgar tại tiểu bang Illinois, Thống Ðốc Arme Calson tại tiểu bang Minnesota, Thống Ðốc Mel Carnahan tại tiểu bang Missouri, Thống Ðốc Tommy G. Thompson tại tiểu bang Wisconsin, v Thống Ðốc Joan D. Finney tại tiểu bang Kansas; cựu Tổng Thống Phi Luật Tân Aquino; Vua Sihanouk và Hoàng Tử Ranarridh tại Cam Bốt; cựu Thị Trưởng Honolulu, Frank Fasi, và thị trưởng Hán Thành, Cho Soon; Thị trưởng Anhee sur Meusse tại Bỉ; Ông Souren Abrahamyan, Thị Trưởng Yerevan tại Armenia; Thị Trưởng của Manila, Phi Luật Tân, Ông Nimitr Ajchariyakitisakoul, Tổng thư ký bộ ngoại giao Thái Lan; Ông Peter Spalding, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân; và một trong bảy vị Thánh vĩ đại nhất ở Ấn Ðộ là Giáo Chủ Dada J. P. Waswani.

Riêng tại Québec, Gia Nã Ðại, sau trận bão băng tuyết vào mùa Ðông, Thị Trưởng thành phố Ste-Hyacinthe, Claude Bernier, Thị Trưởng thành phố St-Jean-sur-Richelieu, Myroslaw Smereka, Thị Trưởng Granby, Michel Duchesneau, và Thị Trưởng Ate-Athamase, Maurice Bergeron đã viết thư cảm tạ lòng quảng đại của Thanh Hải Vô Thượng Sư đã cứu trợ nạn nhân trận bão tuyết vào mùa Ðông 1997.

Về hoạt động nghệ thuật, đêm thơ nhạc "Những Vết Tiền Thân và Tình Ca Quê Hương" đã được tổ chức vào cuối năm 1996 tại Ðại hý viện Terrace Theater, Long Beach, quy tụ hầu hết ca nhạc sĩ và nghệ sĩ tài danh Âu Lạc tại hải ngoại như các nhạc sĩ Phạm Duy, Thu Hồ, Lê Uyên Phương, Nhật Ngân, Duy Khánh, Nguyễn Ðình Nghĩa, Phượng Vũ... cùng các nam nữ ca sĩ và nghệ sĩ nổi tiếng như Khánh Ly, Lệ Thu, Mai Hương, Thái Hiền, Thái Thảo, Lê Uyên, Mai Phương, Kiều Loan, Mỹ Huyền, Bích Thuận, Nguyễn Ðình Nghĩa cùng gia đình, Trần Văn Ân, Xuân Phát, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Ðan Hùng, Trần Quang, v.v... Mục đích của đêm ca nhạc này là để giúp đỡ và tri ân các văn nghệ sĩ đã cống hiến những tác phẩm lừng danh hiện đang sống khó khăn tại quê nhà.

Cuối năm 1997, Ðêm ca nhạc Ðường Vào Nhạc Tâm Linh và Tình Yêu được tổ chức tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, với sự góp mặt của rất nhiều ca nhạc sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ và Âu Lạc: David Arkenstone, Tom Mahieu, Larry Bohnert, Arielle Feinberg, Catherine Dubas, Jean Louis Beydon, Phạm Duy, Trần Quang HảI, Bạch Yến, Andy Quang Lê, Duy Quang, Joseph Hiếu, Lê Uyên Phương, Thái Hiền, ý Lan, Dalena, Henry Chúc, Quỳnh Hương, Kiều Hưng, ái Vân, Thanh Lan, Như Nguyện, Ban Nhạc cổ truyền của gia đình nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa, Ban nhạc The Tranz, .v.v... và với một số lượng khán giả khổng lồ hơn 4 ngàn người. Mục đích đêm ca nhạc này là để vinh danh Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ bị tàn tật trong cuộc chiến Âu Lạc (Số tiền là 100,000 mỹ kim) cũng như để đóng góp cho Hội Thiếu Nhi Việt Nam do Nữ tài tử Kiều Chinh dùng để xây trường học và bệnh xá tại Âu Lạc.

Ðặc biệt, cuối năm 1998, đêm ca nhạc "Một Thế Giới Hòa Bình Qua Âm Nhạc" được long trọng tổ chức tại Ðại Hý Viện lừng danh thế giới, Shrine Auditorium, nơi hàng năm phát giải Oscar, với sự hiện diện của hơn 6.000 khán giả và ca nhạc sĩ nổi tiếng Hoa Kỳ và thế giới: nhạc sĩ Bill Conti (đã từng đoạt giải Oscar và Emmy) là nhạc sĩ có tên trên đường phố Hollywood, nhạc trưởng trong các chương trình trao giải Oscar; nhạc sĩ Fred Karlin (đã từng đoạt giải Oscar và Emmy); nhạc sĩ Peter Boyer (5 lần đoạt giải âm nhạc toàn quốc Hoa Kỳ, đã sáng tác một tác phẩm từ bài thơ Titanic), nhạc sĩ George Thatcher (tác giả nhạc phẩm Send Me A Lover được Celine Dion hát), nhạc sĩ Maria Newman, ái nữ của ông Alfred Newman (nhà soạn nhạc đã 9 lần đoạt giải Oscar), nữ minh tinh Debbie Reynolds (đã từng đóng trên 30 cuốn phim), tài tử John Moschitta (đã từng đoạt giải Oscar of Television Arts and Sciences), ban nhạc lừng danh thế giới Gaelic Storm trong phim Titanic; ban nhạc Beach Boys Family & Friends, và một giàn nhạc đại hòa tấu trên 65 nhạc cụ.

Mục đích của đêm ca nhạc là để giúp đỡ các trẻ em bị bệnh ung thư và nan y khắp thế giới: $150,000.00 Mỹ kim cho Bệnh Viện Nhi Ðồng St. Jude và $100,000.00 Mỹ kim cho Hội Từ Thiện Starlight do Thanh Hải Vô Thượng Sư đích thân trao tặng. Sau đêm đại nhạc hội, báo chí nổi tiếng Hoa Kỳ (The Hollywood Reporter, Los Angeles Times, LA Weekly, Billboard, Balita, Philippine Mabuhay News...v.v...) và Âu Lạc (Người Việt, Việt Báo Kinh Tế, nhật báo Viễn Ðông, Sàigòn Times, Văn Hóa, Sức Sống, Vận Hội Mới, Thẩm Mỹ, Nghệ Thuật...,v.v...) đã trường thuật chi tiết về đêm ca nhạc này.

Trước tấm lòng từ ái của Thanh Hải Vô Thượng Sư, Bệnh Viện Nhi Ðồng St. Jude đã thỉnh mời Ngài đến dự buổi tiệc hàng năm với sự tham dự của nhiều tài tử và ca nhạc sĩ Hollywood. Sau đó, ông Edvard Akopyan (Giám đốc Công ty Ðiện Ảnh Thế Kỷ 21 kiêm Phó giám đốc phim trường Glendale) cũng đã thỉnh mời Thanh Hải Vô Thượng Sư làm vị khách đặc biệt đến tham dự buổi dạ tiệc Oscar tại Beverly Hills, trung tâm Hollywood. Với sự hiện diện của Thanh Hải Vô Thượng Sư, ký giả truyền hình Malibu, Cookie Cota, đã phỏng vấn Ngài; tất cả những tài tử, ca nhạc sĩ lừng danh Hollywood đều có tiếp chuyện cùng Ngài.

Trong số đó có các tài tử nổi tiếng: nữ tài tử Stella Stevens (đóng với nam tài tử Gene Hackman trong phim The Poseidon Adventure và đóng với Elvis Presley trong phim Girls! Girls! Girls!) đã khen Thanh Hải Vô Thượng Sư sang trọng và giản dị; phi hành gia đầu tiên lên mặt trăng, Buzz Aldrin, và hiền thê đã chụp hình lưu niệm với Thanh Hải Vô Thượng Sư; nam tài tử Tony Curtis (từng đóng chung với Marilyn Monroe), minh tinh Rod Steiger (từng đóng chung với siêu sao Marlon Brando); nam tài tử Henry Silva (trong phim White Fang to the Rescue), nữ tài tử Connie Stevens (từng lưu diễn cùng danh hề Bob Hope tại Âu Lạc), siêu sao Mark Hamill (trong phim Star Wars)...Tất cả đều bày tỏ rằng được tiếp chuyện cùng Thanh Hải Vô Thượng Sư tối hôm đó là một vinh hạnh lớn đối với họ.

Vừa qua, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã thăm viếng 18 quốc gia tại Âu Châu như: ý, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ba Lan, Nga, Arménie, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi, Slovenia, Tiệp Khắc, Hy Lạp, Hòa Lan, Phần Lan, Na Uy, Thụy Ðiển, ái Nhĩ Lan, Tô Cách Lan, và Anh Quốc. Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được tiếp đón rất nồng nhiệt, hàng trăm ngàn người đã tham dự những buổi thuyết pháp của Ngài về Pháp Môn Quán Âm. Trên con đường hoằng pháp, Thanh Hải Vô Thượng Sư vô cùng quảng đại, từ bi, trợ giúp tài chánh nhiều viện dưỡng lão, viện trẻ em mồ côi, xây cất bệnh xá, trường học...

Hiện nay, Thanh Hải Vô Thượng Sư vừa cứu trợ những nạn nhân của các trận động đất và thiên tai bão lụt tại Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Ðài Loan, Âu Lạc, Ấn Ðộ, Trung Hoa, vừa mang tình thương đến những quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái, Ai Cập, Nam Phi, v.v. Chính phủ và Quốc Hội Nam Phi đã thỉnh mời Thanh Hải Vô Thượng Sư đọc diễn văn khai mạc Hội Nghị Tôn GiAło Quốc Tế trước hơn 50 vị lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới vào ngày 1 tháng 12, 1999 tại Cape Town.

Qua tất cả công việc từ thiện khắp nơi trên thế giới, Thanh Hải Vô Thượng Sư là người phụ nữ Âu Lạc đầu tiên được thế giới biết đến và ngưỡng mộ nhiều nhất. Thanh Hải Vô Thượng Sư quả là người phụ nữ xứng đáng được vinh danh là "Vị Nữ Lưu Củ Thế Kỷ 20" trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Phạm Mạnh Cương Montréal, Gia Nã Ðại
Tháng 11, 1999

Tiểu Sử Phạm Mạnh Cương

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh trưởng tại Huế, tốt nghiệp Cao Ðẳng Sư Phạm và Ðại học Văn Khoa. Ông đã là giáo sư Triết Học, Việt văn, Sử Ðịa, và Âm Nhạc ở các trường công lập và tư thục nổi tiếng như Trường Trung Học Pétruský tại Sài Gòn, Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu tại Mỹ Tho, Trường Hưng Ðạo, Văn Học, Nguyễn Văn Khuê, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, v.v. Trước năm 1975, Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương có các chương trình trên Ðài Truyền Hình Âu Lạc, chương trình Hoa Thời Ðại trên đài phát thanh Sài Gòn, chương trình Nghệ Sĩ Chiến Sĩ trên Ðài tiếng nói Quân Ðội, Trung Tâm sản xuất băng nhạc Tú Quỳnh.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã sáng tác hơn 100 nhạc phẩm trong đó có các nhạc phẩm nổi tiếng như: Thu Ca, Thung Lũng Hồng, Mắt Lệ Cho Người Tình, Mái Trường Xưa, Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè, Thương Hoài Ngàn Năm, Tình Yêu Còn Ðó, v.v...

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương hiện nay đang định cư tại Montréal, Gia-Nã-Ðại. Ông hiện là Nhạc Trưởng Ban nhạc Phạm Mạnh Cương và Chủ Biên Nguyệt San Thẩm Mỹ.